1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận lịch sử đảng nhóm 3 (1)

46 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Sự Sụp Đổ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Liên Xô (1991) Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam Trong Công Cuộc Đổi Mới Đất Nước Hiện Nay
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Lan Phương
Trường học Trường đại học thương mại
Chuyên ngành Lịch sử Đảng
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ (1991) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY Học phần: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam Trường Đại học Thương mại Nhóm 3

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

🙞 🙞 🙞

-BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ TÀI TÌM HIỂU SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ (1991)

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG

CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

GIÁO VIÊN: NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG

LỚP: 2215HCMI0131

NHÓM: 3

Hà Nội, 2022

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 5

CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ

1 Sự ra đời

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng Sản ở nhiều nước châu Âu vàchâu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân cùng với Hồng quân Liên Xô thành lậpmặt trận chống phát xít Với sức mạnh to lớn của Đảng Cộng Sản trong thời kỳ chiếntranh là tiền đề khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, Đảng Cộng Sản nhiều nước tổchức đấu tranh vũ trang giành chính quyền, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân.Trong thời gian 5 năm (từ năm 1944 đến năm 1949) đã có 11 nước ở châu Âu, châu

Á giành được chính quyền và đi lên CNXH Có được thành tựu này là nhờ ĐảngCộng sản lãnh đạo bằng ba phương thức:

Phương thức thứ nhất chủ yếu dựa vào lực lượng vũ trang của nhân dân nước mình, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân

đứng lên giành chính quyền như: Cộng hòa Nhân dân Liên bang Nam Tư (1944),Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945), Cộng hòa Nhân dân Anbani (1946)

và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949)

Phương thức thứ hai chủ yếu dựa vào Hồng quân Liên Xô giải phóng đồng thời phối hợp vũ trang của nhân dân nước mình như Cộng hòa Nhân dân Ba

Lan (1945), Bulgaria (19460, Rumani (1948), Hungary và Tiệp Khắc

(1946),

Phương thức thứ ba hoàn toàn do Hồng quân Liên Xô giải phóng và dưới sự

giúp đỡ của Liên Xô để đi lên con đường CNXH như Cộng hòa Dân chủ Đức

Trang 6

trường thế giới XHCN CNXH trở thành hệ thống tồn tại song song với hệ thốngTBCN.

Ngày 7-11-1917, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I Lênin, đã lãnh đạo quầnchúng nhân dân khởi nghĩa vũ trang xóa bỏ quyền lực của chính phủ lâm thời tư sảntại nước Nga, giành “toàn bộ chính quyền về tay Xô viết”

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà nước kiểu mới Nhà nước Xô Viết nhà nước của nhân dân lao động do V.I Lênin đứng đầu đã được xác lập Với quyềnlực mới của mình nhân dân lao động Nga đã ngay lập tức bắt tay vào việc cải tạo xãhội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa - đó là một xã hội do nhân dânlàm chủ dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của mình

-2 Các giai đoạn phát triển của hệ thống XHCN

Giai đoạn I: Từ sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917 tới kết thúc Chiến tranh thế

giới lần thứ hai năm 1945 (Giai đoạn này là giai đoạn CNXH mới hình thành trênphạm vi một số nước như Liên Xô, Mông Cổ )

Cuộc Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử đưa nhândân lao động từ những người nô lệ làm thuê trở thành những người làm chủ đất nước.Với khí thế lao động của những con người được giải phóng, thông qua chính sáchkinh tế mới, thông qua con đường hợp tác hoá trong nông nghiệp, công nghiệp hoá đấtnước, sau 20 năm Liên Xô đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế

Giai đoạn II: Từ sau năm 1945 tới đầu những năm 1970 (Đây là giai đoạn CNXH

phát triển thành hệ thống XHCN thế giới) Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàngloạt các nước XHCN ra đời, nhất là từ sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoaxuất hiện, cùng với những thành tựu to lớn của hệ thống các nước XHCN về kinh tế,

xã hội, văn hoá, khoa học kỹ thuật Hệ thống XHCN thế giới đã trở thành chỗ dựavững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ trên thế giới, đẩy lùi nguy cơchiến tranh của những thế lực phản động quốc tế

Mặt khác, những thành tựu xây dựng CNXH của các nước XHCN đã cổ vũmạnh mẽ phong trào đầu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trong các nướcTBCN, đã động viên nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giải phóng dân

Trang 7

tộc Trong những năm 60 thế kỷ XX, khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộcvới những mức độ khác nhau.

Bên cạnh những kết quả đó, trong giai đoạn này, trong phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế đã có những bất hoà Trong “Di chúc" chủ tịch Hồ Chí Minh, phần

về phong trào cộng sản thế giới, Người viết: “ tôi càng tự hào với sự lớn mạnh củaphong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu thì tôi càng đau lòng bấy nhiều vì

sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em "

Đây là giai đoạn cơ bản nhất biểu hiện tính ưu việt của CNXH hiện thực CNXHhiện thực trở thành hệ thống trên phạm vi toàn thế giới và đạt nhiều thành tựu rực rỡmang lại hòa bình độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội

Giai đoạn III: Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1991 (Đây là giai đoạn

khủng hoảng của mô hình CNXH)

Nguyên nhân: Trong giai đoạn này, ở nhiều nước XHCN không chú ý tới côngtác xây dựng Đảng, nhiều kẻ cơ hội chui vào hàng ngũ cộng sản Một số cá nhân mắcvào tệ sùng bái cá nhân, kiêu ngạo cộng sản, không đánh giá đúng những thay đổitrong chính sách của CNTB Ở không ít nước XHCN, bộ máy nhà nước trở nên quanliêu, vi phạm những quyền dân chủ của nhân dân Trong xây dựng kinh tế chủ quan,nóng vội, lạc hậu Trong lĩnh vực xã hội, thực hiện bao cấp tràn lan, không kích thíchđược tính tích cực cá nhân Những sai lầm kéo dài đã hạn chế phát triển kinh tế - xãhội, dẫn tới tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nhiều nước, buộc các nước phảicải cách đổi mới

Trong quá trình cải cách đổi mới, nhiều Đảng Cộng Sản mắc những sai lầmmang tính nguyên tắc Do vậy những thế lực thù địch đã tấn công làm sụp đổ chế độXHCN ở Đông Âu và Liên Xô những năm 80 của thế kỷ XX

Giai đoạn IV: Giai đoạn từ đầu những năm 1991 tới nay (Giai đoạn hiện nay, CNXH

thế giới tạm thời lâm vào thoái trào)

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm cho nhiềunước dân tộc chủ nghĩa đã định hướng lên CNXH, nhưng giờ đây mất chỗ dựa về vậtchất và tinh thần, các lực lượng phản động giành lại chính quyền và đưa đất nước theo

Trang 8

con đường khác Trong giai đoạn từ năm 1991, có các khó khăn là: Những thế lựcphản động quốc tế đang tìm mọi cách để xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và phá hoại

sự nghiệp xây dựng CNXH của các nước XHCN còn lại

Để vượt qua khó khăn đó, đòi hỏi các nước XHCN phải tự đổi mới, phải khắcphục những yếu kém, nhược điểm hạn chế trong lĩnh vực đời sống xã hội Mặt khác,không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, để nâng caosức mạnh mọi mặt của đất nước

Thời đại ngày nay: “CNXH trên thế giới, từ những bài học thành công và thấtbại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năngtạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽtiến tới CNXH" (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX)

3 Những thành tựu của CNXH hiện thực

Sau những thành tựu đạt được của Liên Xô, một hệ thống các nước xã hội chủnghĩa ra đời, có chế độ chính trị đối lập với chế độ chính trị của chủ nghĩa tư bản Mặc

dù chủ nghĩa xã hội hiện thực còn không ít những khuyết tật do sai lầm chủ quan,nhưng vẫn thể hiện rõ tính ưu việt và đã đạt được những thành tựu to lớn không thểphủ nhận, thể hiện tập trung ở những vấn đề sau:

a Chủ nghĩa xã hội đã giải phóng người lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột; xác lập quyền lực thuộc về đa số nhân dân lao động và từng bước đưa nhân dân lao

động lên làm chủ xã hội,đồng thời đã xây dựng một mối quan hệ quốc tế hoàn toànmới, tốt đẹp, tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc giúp đỡ lẫn nhau để cùng pháttriển Chế độ XHCN không chi đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân laođộng ở các nước XHCN, mà hơn thế nữa nó còn thúc đẩy trào lưu đấu tranh choquyền tự do dân chủ ở các nước TBCN và trên toàn thế giới

b Hơn 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ về tiềm lực kinh tế; địa vị kinh tế của Liên Xô đang từ

vị trí thứ tư châu Âu vươn lên vị trí thứ hai của thế giới và trở thành một trong hai siêucường của thế giới Trước khi cách mạng XHCN thành công thì hầu hết các nước nàytrình độ học vấn của nhân dân còn rất thấp kém, số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn

Trang 9

(nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười có đến trên 75% số người mù chữ) thế màsau một thời gian xây dựng CNXH trình độ học vấn của người dân các nước XHCNtương đối cao và đồng đều (năm 1987 Liên Xô có 154 triệu người có trình độ học vấn

từ trung học phổ thông trở nên)

c Về văn hoá, xã hội: Giáo dục phát triển, trình độ dân trí được nâng cao; chăm sóc sức khoẻ, phát triển y tế và bảo đảm phúc lợi xã hội cho đại bộ phận nhân dân lao động Hội đả đảo nạn mù chữ ra đời nhằm thanh toán nạn mù chữ trong

nhân dân

Hội đã tổ chức nhiều lớp học lôi cuốn nhiều quần chúng nhân dân tham gia, kếhoạch xoá nạn mù chữ đã được hoàn thành nhanh chóng Tiếp đó, Nhà nước đã tổchức và xây dựng nhiều trường học, trường dạy nghề Năm 1932, chế độ giáo dục bậctiểu học đã được phổ cập, trình độ dân trí vì thế đã được nâng cao.Đời sống văn hoá -

tư tưởng của Liên Xô trong thời kỳ này đạt được những thành tựu đáng kể như từngbước xoá được những tàn dư của chế độ cũ để lại, nâng cao trình độ học vấn cho cáctầng lớp nhân dân, cải thiện đáng kể nền giáo dục quốc dân, đào tạo được đội ngũ cán

bộ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội .Trong nghiên cứu khoa học,đặc biệt là khoa học chinh phục vũ trụ đạt thành tựu cao; tiềm lực quân sự và quốcphòng hùng mạnh.Trong lĩnh vực khoa học công nghệ Liên Xô và một số nướcXHCN cũng đạt được một số thành tựu đáng trân trọng Ở giai đoạn đầu Liên Xô luôn

là nước đi đầu trong việc nghiên cứu, chinh phục vũ trụ Năm 1957 Liên Xô phóngthành công Vệ tinh nhân tạo, năm 1961 có người bay vào vũ trụ trên tàu Phương Đông

I Một sự kiện đáng ghi nhớ vào ngày 04/3/1961 lần đầu tiên trên thế giới Liên Xô đãdùng tên lửa V1000 bắn trúng tên lửa ở tầng bình lưu Điều đó chứng tỏ kỹ thuật máytính của Liên Xô lúc đó rất khá Sự kiện này phải mất mấy chục năm sau Mỹ mới đạtđược

d Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của

chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá

độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Chế độ XHCN được thiết lập đã góp phầnlàm phát triển mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc Năm 1919, các nước thuộc địa

Trang 10

và nửa thuộc địa chiếm 72% diện tích và 70% dân số thế giới, tới nay chỉ còn 0,7%diện tích và 5,3% dân số thế giới Tính đến nay, hàng trăm nước đã giành được độclập Trên 100 nước tham gia vào Phong trào không liên kết CNXH hiện thực đã đẩylùi nguy cơ chiến tranh hủy diệt, bảo vệ hòa bình thế giới.CNXH đã cổ vũ nhân dânlao động ở các nước phương Tây đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, khiến giaicấp tư sản phải nhượng bộ.

Như vậy, chỉ với hơn 50 năm xây dựng và phát triển, xã hội xã hội chủ nghĩa

Liên Xô đã có những bước phát triển vượt bậc, đánh dấu sự khác biệt căn bản của haichế độ xã hội là chủ nghĩa tư bản Nga và chủ nghĩa xã hội Liên Xô Nền kinh tế pháttriển mạnh mẽ với đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đường lối tập thể hóanông nghiệp, nền khoa học kỹ thuật phát triển giúp Liên Xô vươn lên vị trí đứng đầuchâu Âu và đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Tình hình xã hội ổn định, con người đượcđảm bảo cả về điều kiện vật chất và tinh thần, phúc lợi xã hội đảm bảo Liên Xô trởthành thành trì vững chắc của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủnghĩa thực dân và mọi biến thái của nó Với những thành tựu đó, Liên Xô đã chứng tỏtính ưu việt hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với các chế độ xã hội trước đó và tạoniềm tin cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tích cực đấu tranh giải phóng dân tộc

và đi theo con đường chủ nghĩa xã hội

Trang 11

CHƯƠNG II: SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở

LIÊN XÔ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ

1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội

Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ đã mở đầu cho cuộc khủng hoảng vềnhiều mặt của thế giới, đòi hỏi các nước phải có những cải cách về kinh tế, chính trị-

xã hội Trong bối cảnh đó, ban lãnh đạo Liên Xô đã không tiến hành các cải cách cầnthiết về kinh tế và xã hội, không khắc phục những khuyết điểm trước đây làm trở ngại

sự phát triển của đất nước Tới đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Xô Viếtngày càng khó khăn: sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đình trệ, lương thực thựcphẩm và nhiều hàng hoá thiết yếu ngày càng khan hiếm, mức sống của người dân Xôviết giảm sút Mặt khác, những vi phạm về pháp chế, thiếu dân chủ và các tệ nạn quanliêu, tham nhũng ngày càng trầm trọng Đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện Trong bối cảnh đó, ngày 19/8/1991, một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước XV tựgọi mình là Uỷ ban Khẩn cấp Nhà nước đã tiến hành đảo chính, lật đổ Tổng thốngGooc-ba-chốp Nhưng cuộc đảo chính nhanh chóng thất bại và gây ra hậu quả cực kỳnghiêm trọng: Đảng Cộng sản Liên Xô bị đình chỉ hoạt động Nhà nước Liên Banghầu như tê liệt Các nước Cộng hoà đua nhau đòi độc lập và tách khỏi Liên bang Sựtan rã của Liên bang Xô Viết chỉ còn là vấn đề thời gian Ngày 21/12/1991, lãnh đạo

11 nước Cộng hoà trong Liên bang Xô Viết đã họp và ký kết hiệp định về giải tánLiên bang Xô Viết Lá cờ LBXV trên nóc điện Crem-li bị hạ xuống, đánh dấu sựchấm dứt của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở LBXV sau 74 năm tồn tại Sự sụp đổ củaLBXV được Tổng thống Nga V.Putin gọi là “Thảm hoạ địa chính trị lớn nhất thếgiới”

Cũng như tình hình ở Liên Xô, từ cuối những năm 70 và đầu những năm 80 củathế kỷ XX, các nước Đông Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế và chính trịngày càng gay gắt Tới cuối năm 1988, khủng hoảng lên tới đỉnh cao Khởi đầu từ BaLan, sau đó lan nhanh sang các nước Hungari, Tiệp Khắc, Cộng hoà Dân chủ Đức,Rumani lợi dụng thời cơ đó, lại được sự tiếp sức của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, cácthế lực chống CNXH ra sức kích động quần chúng, đẩy mạnh các hoạt động chống

Trang 12

phá Ban lãnh đạo các nước Đông Âu đã phải chấp nhận từ bỏ quyền lãnh đạo củaĐảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị và tiến hành tổng tuyển cử tự do Nhưthế, tới cuối năm 1989, chế độ XHCN đã bị sụp đổ ở hầu hết các nước Đông Âu.

2 Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở Liên Xô

a Nguyên nhân sâu xa

Một là, sau khi V.I.Lênin qua đời, ở Liên Xô, Chính sách kinh tế mới không

được tiếp tục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ Thời gian đầu,

kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, song đã biến dạng thành kếhoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô vẫntiếp tục duy trì mô hình này Trong mô hình này đã tuyệt đối hóa cơ chế kế hoạch hóatập trung cao, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hànghóa, cơ chế thị trường, thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sángtạo của người lao động

Hai là, do chậm đổi mới cơ chế kinh tế, hệ thống quản lý, nói chung là chậm đổi

mới mô hình của chủ nghĩa xã hội, nên hậu quả là Liên Xô đang rút ngắn dần khoảngcách về trình độ phát triển kinh tế so với các nước tư bản phát triển "thì từ giữa nhữngnăm 70 của thế kỷ XX tình hình diễn ra theo chiều hướng ngược lại Sự thua kém rõrệt của Liên Xô thể hiện trong lĩnh vực công nghệ và năng suất lao động Mà đây lại làyếu tố, như Lênin nói, xét đến cùng, quyết định thắng lợi hoàn toàn của chế độ mới

Ba là, những sai lầm chủ quan nghiêm trọng kéo dài đã nói ở trên cản trở sự đổi

mới đúng đắn là nguyên nhân sâu xa làm chế độ xã hội chủ nghĩa suy yếu, rơi vàokhủng hoảng Đó không phải là những sai lầm khuyết tật do bản chất của chế độ xãhội chủ nghĩa, mà do quan niệm giáo điều về chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh năm 1991của Đảng ta chỉ rõ: "do duy trì quá lâu những khuyết tật của mô hình cũ của chủ nghĩa

xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ"nên gây ra tình trạng trì trệkéo dài về kinh tế - xã hội rồi đi tới khủng hoảng

b Nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô:

Một là, trong cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm nghiêm

trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội

và xét lại, xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà nguy hiểm hơn lại

Trang 13

ở một bộ phận lớn những người lãnh đạo cao nhất trong bộ máy lãnh đạo Đảng vàNhà nước.

 Cuộc cải tổ ở Liên Xô bắt đầu từ năm 1986 đã kết thúc trong sự đổ vỡ hoàntoàn vào năm 1991 Đường lối cải tổ ở Liên Xô thực chất là đường lối trượt dài từ cơhội hữu khuynh đến xét lại, đến từ bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lênin Những tuyên

bố ban đầu: "cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, nhiều chủ nghĩa xã hội hơn", "chúng ta

sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội tốt đẹp hơn chứ không đi ra ngoài nó", "chúng ta tìm trongkhuôn khổ của chủ nghĩa xã hội chứ không phải ở ngoài giới hạn của nó những câu trảlời cho các vấn đề do cuộc sống đặt ra", v.v rốt cuộc chỉ là những tuyên bố suôngnhằm ngụy trang cho ý đồ phản bội

Những người lãnh đạo cải tổ lùi dần từng bước, từng bước, thậm chí ngày càngcông khai tuyên bố từ bỏ những mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà họ từng hứa hẹn, từ bỏchủ nghĩa Mác - Lênin, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Chủ trương đưa ra lúc đầu là "tăng tổc" về kinh tế để chấm dứt sự trì trệ Đẩymạnh nhịp độ phát triển không có gì sai mà là tất yếu, bức bách, vấn đề là tăng tốcbằng cách nào thì không có câu trả lời đúng đắn Đổi mới công nghệ bằng cách nàocũng bế tắc Người ta liền quy cho cơ chế quản lý kinh tế nhưng rồi cũng trầy trật;người ta đã chuyển nhanh sang cải tổ chính trị coi đây là "cái chìa khóa" cho mọi vấn

đề Hội nghị Đảng toàn quốc lần thứ 19 (năm 1988) chủ trương chuyển trọng tâm sangcải tổ hệ thống chính trị trên cơ sở cái gọi là "tư duy chính trị mới" Thực chất, đó là

sự thỏa hiệp vô nguyên tắc, là sự đầu hàng, là từ bỏ lập trường giai cấp, là sự phản bộichủ nghĩa Mác – Lênin, phản bội sự nghiệp xã hội chủ nghĩa Cuộc cải tổ chính trịđánh thẳng vào hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, trước hết là vào tổ chức Đảng.Nhóm lãnh đạo cải tổ tìm cách loại bỏ khỏi Ủy ban Trung ương Đảng hàng loạt nhữngngười không tán thành đường lối sai lầm của cải tổ, kiên trì đường lối chủ nghĩa Mác -Lênin Những người ngấm ngầm hoặc công khai thù địch với chủ nghĩa Mác - Lêninchiếm các vị trí chủ chốt trong bộ máy Đảng và Nhà nước

Bằng phát súng lệnh "công khai", "dân chủ", "không có vùng cấm", cải tổ đãnhanh chóng tạo ra làn sóng phê phán, công kích, bôi đen tất cả những gì gắn với lịch

sử 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Phủ định sạch trơn mọi thành tựu của chủ nghĩa

xã hội Nó gây hoang mang, xáo động đến cực độ trong tư tưởng xã hội, phá vỡ niềm

Trang 14

tin của quần chúng đối với những giá trị của chủ nghĩa xã hội Người ta sử dụng toàn

bộ phương tiện thông tin đại chúng để làm việc này và chiến dịch tuyên truyền, đàobới, phủ định quá khứ được các đài, báo phương Tây tiếp sức mạnh mẽ và lái theonhững ý đồ, mục đích đen tối của chúng

Hai là, chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn,

thực hiện được "diễn biến hòa bình1' trong nội bộ Liên Xô

Chủ nghĩa đế quốc thường xuyên tiến hành một cuộc chiến tranh khi bằng súngđạn, khi bằng "diễn biến hòa bình" chống chủ nghĩa xã hội, chống Liên Xô Chủ nghĩa

đế quốc đã gây ra cuộc Chiến tranh lạnh sau Chiến tranh thế giới thứ hai Các chiếnlược gia phương Tây sớm nhận ra "gót chân Asin" của cải tổ: đó là đường lối xét lại,

là hệ tư tưởng tư sản, là chính sách thỏa hiệp, nhân nhượng vô nguyên tắc với Mỹ vàphương Tây thể hiện tập trung ở "tư duy chính trị mới" Các thế lực chống chủ nghĩa

xã hội ở bên ngoài theo sát quá trình cải tổ, tìm mọi cách để lái nó đi theo ý đồ củachúng Các thế lực bên ngoài tác động vào cải tổ cả về ý tưởng, chính trị và tổ chức.Việc hứa hẹn viện trợ kinh tế được dùng làm một thứ vũ khí rất lợi hại để lái cuộc cải

tổ theo quỹ đạo mà phương Tây mong muốn Chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh thựchiện: "diễn biến hòa bình" trong nội bộ Liên Xô và Đông Âu Trong cuốn sách Chiếnthắng không cần chiến tranh, Níchxơn cho rằng "mặt trận tư tưởng là mặt trận quyếtđịnh nhất", ông ta viết: "Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp định mậu dịch, viện trợkinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng" Chiến lượccủa Mỹ trước sau như một là đưa chiến tranh vào bên trong "bức màn sắt"

Tóm lại, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc cùng với sự phản bội từ bên trong và

từ trên chóp bu của cơ quan lãnh đạo cao nhất là nguyên nhân trực tiếp làm cho Liên

Xô sụp đổ Hai nguyên nhân này quyện chặt vào nhau, tác động cùng chiều, tạo nênmột lực cộng hưởng rất mạnh và nhanh như một cơn lốc chính trị trực tiếp phá sậpngôi nhà xã hội chủ nghĩa

3 Hệ quả từ sự sụp đổ đó

Hệ quả từ sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô:

 Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ

Trang 15

 Kết thúc hoàn toàn chiến tranh lạnh, phần lớn các nước thuộc hệ thống xã hộichủ nghĩa tan rã, phần thắng nghiêng về Hoa Kỳ và đồng minh phương tây.

 Liên xô tan rã thành các quốc gia độc lập, hoạt động trên những hiến phápriêng: Nga, Ukraina, Uzbekistan, Kazakhstan, Azerbaijan, Belarus, Tajikistan,Moldova, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Gruzia, Armenia, Litva, Latvia, Estonia

 Quyền lực chính trị được chuyển giao cho Chính phủ phi cộng sản, diễn ra hòabình ở Ba Lan, Hungary, Đông Đức, Tiệp Khắc, Bulgaria và Albania

 Chiến tranh xảy ra ở Nam Tư và một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ

 Giải thể hiệp ước Khối Warsaw, hội nhập của hầu hết các cựu thành viên KhốiWarsaw vào khối NATO và Liên minh châu Âu

 Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan, Mujahideen lên nắm quyền ở Afghanistan

 Thái độ hoài nghi về chủ nghĩa cộng sản khắp nơi trên thế giới kết hợp vớigiảm hỗ trợ cho phong trào cộng sản và cánh tả, đặc biệt là ở châu Âu

 Thiết lập trật tự thế giới mới

 Bắt đầu những xung đột hậu Xô Viết đầu tiên

Trang 16

CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY

1 Bài học rút ra từ sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô

Sự sụp đổ của Liên Xô có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan Cơnđịa chấn của thế kỷ XX này đã làm thay đổi sâu sắc thời đại chúng ta đang sống và đểlại rất nhiều bài học đắt giá về con đường đi lên CNXH

Xét trên phương diện lực lượng, đây là tổn thất to lớn đối với phong trào cáchmạng thế giới Thành trì của chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã sụp đổ, chỗ dựa vững chắccủa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã không còn, các nước XHCN còn lạiđứng trước thử thách khốc liệt do hệ quả của sự tổn thất đó để lại Song, khi thời gian

đã qua đi, những nguyên nhân về sự sụp đổ của mô hình CNXH Xô viết đã được tổngkết, các nước XHCN còn lại trên thế giới cũng từng bước vượt qua được khủnghoảng, tìm ra những con đường mới để tiếp tục kiên định đi tới lý tưởng cộng sản chủnghĩa Sự kiện Liên Xô và Đông Âu tan vỡ có lẽ cũng cần được nhìn nhận dưới mộtgóc độ ngày càng đầy đủ hơn, không chỉ là một tổn thất, mà còn là một sự kiện manglại những bài học quý báu cho các nước XHCN Sự phủ định biện chứng một mô hìnhsai lầm, nhiều khiếm khuyết là cần thiết cho sự phát triển trong tương lai của CNXH.Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ sự kiện lịch sử đau đớn ngoài ý muốn củanhững người cộng sản chân chính đã có ý nghĩa to lớn đối với các nước XHCN, trong

đó có Việt Nam để tiếp tục đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Thứ nhất, phải không ngừng tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao

năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và để giữ vững vai trò cầm quyền củaĐảng, bộ máy chính quyền trong sạch vững mạnh và gắn bó với nhân dân Đây là vấn

đề then chốt, là vấn đề sống còn của Đảng

Xây dựng đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, luôn luôn gắn bómật thiết với nhân dân, nắm chắc quần chúng và động viên được sức mạnh của nhândân

Trang 17

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn gắn với quá trình phát triển liên tục của sựnghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo Trước diễn biến của điều kiện khách quan,bản thân Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới để vươn lên làm tròn trọng tráchtrước dân tộc, trước nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công,cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và cóhiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng”

và “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”

Đảng lãnh đạo bằng đường lối, có đường lối lãnh đạo đúng đắn nhưng đườnglối đó chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi quần chúng nhân dân hiện thực hóa trongđời sống xã hội Do vậy, đòi hỏi mỗi đảng cộng sản phải trung thành với lý luận chủnghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo các nguyên lý cách mạng để đề ra đường lốichiến lược, sách lược đúng đắn và phù hợp với thực tiễn

Để lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước có hiệu quả, Đảng cầm quyền, bộ máychính quyền phải gắn bó mật thiết với nhân dân, được lòng dân, nắm chắc dân và quy

tụ được sức mạnh của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổquốc

Khi Đảng và chính quyền bị tha hóa biến chất, xa dân và sách nhiễu dân, mốiquan hệ với nhân dân bị rạn vỡ cũng đồng nghĩa với Đảng sẽ mất quần chúng, nhànước và chế độ sẽ đánh mất cơ sở xã hội chính trị thì tất yếu bị lật đổ

Đảng luôn luôn phải giữ vai trò cầm quyền, có nghĩa là Đảng Cộng sản phải thểhiện quyền lực chính trị, quyền lãnh đạo về chính trị và không bao giờ chia sẻ quyềnlực đó cho bất kỳ lực lượng nào khác Đảng mất là mất hết, vì Đảng lãnh đạo toàn bộcác mặt, các lĩnh vực của xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, nhân sự cán bộ…

Lãnh đạo Nhà nước thực hiện tốt chức năng, cụ thể hóa đường lối của Đảng,quản lý tốt xã hội, kiến tạo xã hội mới, định ra chính sách xã hội đúng đắn đáp ứng lợiích chính đáng của nhân dân, thực sự dân chủ, lắng nghe và tôn trọng những nguyệnvọng chính đáng của nhân dân

Trang 18

Đảng và bộ máy chính quyền là “xương sống” của chế độ nên phải vững mạnh,hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực sự vì nhân dân, thực hiện có hiệu quả các chứcnăng, nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý điều hành xã hội, mang lại lợi ích thiết thực chonhân dân thì mới bảo đảm cho sự tồn tại của chế độ xã hội và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Thứ hai, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - bảo vệ vững

chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Thực tiễn cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua đã chứng minh dưới ánhsáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhândân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Do đó, nền tảng tư tưởng, kim chỉ namcho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam phải là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ của Đảng ta là phải vận dụng sáng tạo, đúng đắn Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễncách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật vận động của thời đại

-V.I.Lênin chỉ rõ: “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thìmới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”

Tăng cường công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm vàbản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, nhân dân; phòng, chống có hiệu quả chiếnlược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Công tác tư tưởng, lý luận phải trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trongđiều kiện Đảng cầm quyền, trước hết phải quan tâm thường xuyên đến công tác giáodục lý luận chính trị cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảngviên phải là những người nắm vững bản chất các nguyên lý cách mạng của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì mới trở thành những người tiên phong

Củng cố niềm tin có cơ sở khoa học của cán bộ, đảng viên, của nhân dân vàocon đường đi lên CNXH trong giai đoạn hiện nay Cần huy động được sức mạnh tổnghợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong tiến hành công tác chính trị tưtưởng, đặc biệt là phải phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ chuyên trách từ Trungương đến cơ sở

Nhận thức sâu sắc nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô vàĐông Âu, với những nguyên nhân chủ quan và khách quan Giáo dục mục tiêu, lý

Trang 19

tưởng của Đảng, quán triệt kịp thời những nghị quyết đến cán bộ, đảng viên Tuyêntruyền, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch chống phá sựnghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Thứ ba, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng đảng, nhất là các nguyên

tắc: Tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình; xây dựng đoàn kết thống nhất trongđảng…vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng và thực hiện tốt chiến lượccông tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì và xây dựng nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý kếcận, kế tiếp ở các cấp từ Trung ương đến địa phương

Đảng ta khẳng định: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng

và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”.Từthực tiễn của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và của Đảng ta cho thấy, khinào, lúc nào giữ vững, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng thì Đảngvững vàng, có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng thành công và ngày càng phát triển

Ngược lại, nếu Đảng nào mất cảnh giác, xa rời, xem nhẹ các nguyên tắc tổchức và hoạt động cơ bản của Đảng thì sẽ bị suy yếu, thậm chí tan rã, sụp đổ

Trong công tác tổ chức sắp xếp cán bộ, nhất là những vị trí chủ chốt cần lựachọn đúng những người thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống,năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, gần gũi nhân dân và được tín nhiệm, bảođảm sự vững vàng về chính trị

Kiên quyết loại khỏi bộ máy lãnh đạo của Đảng và cơ quan Nhà nước nhữngphần tử cơ hội thực dụng, tha hóa về chính trị tư tưởng và đạo đức, lối sống, sáchnhiễu dân và xa dân, không được tín nhiệm

Thực hiện tốt công tác quản lý cán bộ, đánh giá và sử dụng cán bộ vì đó là gốccủa mọi công việc, không để mất cảnh giác để các thế lực thù địch cài cắm các phần

tử cơ hội, phần tử chống đối phản bội chui sâu, leo cao trong bộ máy của Đảng và Nhànước

Thứ tư, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng.

VI.Lênin đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhândân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cáchmạng vô sản không thể thực hiện được”

Trang 20

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng trân trọng nói: “Trong bầu trời không có gì quýbằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảngthì thành vô địch”.

Thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta hơn 90 năm qua cho thấy Đảng luôn tin tưởngvào sức mạnh của nhân dân, tôn trọng nhân dân và “ngoài lợi ích của Tổ quốc, củaNhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”

Theo đó, chăm lo lợi ích về tinh thần và vật chất của quần chúng nhân dân,phát huy dân chủ trong nhân dân là vấn đề hết sức cần thiết, thường xuyên Đảng tinnhân dân dựa vào nhân dân, nhân dân tin Đảng, đi theo Đảng Đó là mối quan hệ biệnchứng đã được Đảng và nhân dân ta dày công xây đắp

Xây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc, giữ được độc lập tự chủtrong hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và sự quản

lý của Nhà nước đối với nền kinh tế

Sự ổn định và phát triển vững chắc của nền kinh tế là nền tảng vật chất bảođảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước Khi kinh tế lâm vào khủng hoảngsuy thoái, đất nước dễ lâm vào mất ổn định chính trị, tạo điều kiện cho các thế lực thùđịch lôi kéo, kích động nhân dân chống lại Đảng và chính quyền, làm chuyển hóa chế

độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản

Cần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh

tế, bảo đảm đúng định hướng phát triển của quốc gia, không để cho bất kỳ một thế lựcnào điều khiển và thao túng nền kinh tế

Cần duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý và ổn định, phát huy tốt năng lựcnội sinh, tạo được nhiều việc làm để tăng thu nhập của người dân, bảo đảm công bằng

xã hội, an sinh xã hội, tạo cơ sở vật chất để đất nước ổn định và phát triển bền vững

Mở rộng hội nhập quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa, đặc biệt là hợp tác về kinh tế

là xu thế khách quan mà các nước XHCN phải tham gia, nếu không thì khó có thể tồntại và phát triển được

Vấn đề đặt ra là các nước XHCN mở rộng hội nhập quốc tế để tận dụng đượcnhững thành tựu khoa học côngcộng nghệ, tận dụng được nguồn lực tài chính của cácnước phát triển làm cho sản xuất của đất nước ngày càng lớn mạnh đủ sức cạnhcanh

Trang 21

tranh, lợi ích quốc gia - dân tộc và cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ngày càng đượccủng cố.

Thứ năm, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội

và hệ thống chính trị Theo đó phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với các lựclượng vũ trang Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng chủ yếu để bảo vệĐảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân

Các thế lực thù địch luôn tìm cách thực hiện âm mưu tách rời sự lãnh đạo củaĐảng đối với lực lượng Quân đội và Công an Do đó, đòi hỏi Đảng ta cần tiếp tục tổngkết thực tiễn đi cùng với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vềvai trò lãnh đạo của Đảng; bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, cơ chế lãnh đạocủa Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội nói chung cũng như các lực lượng vũtrang nhân dân Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hiện nay

Những bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô luôn đòi hỏi Đảng ta, nhân dân ta cầnluôn tỉnh táo, bình tĩnh, nhìn nhận đánh giá một cách khách quan Từ đó, tập trung xâydựng chỉnh đốn đảng để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, tiếp tục đạt đượcnhiều thành tựu hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Đảng cầm quyền phải nắm chắc lực lượng vũ trang, đặc biệt chăm lo xây dựngquân đội nhân dân và công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị, cóchất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ

Tổ quốc

Việc nắm chắc và chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là quân đội nhândân và công an nhân dân vững mạnh, thực sự trung thành và tin cậy về chính trị là mộtnguyên tắc chiến lược của đảng cầm quyền, liên quan trực tiếp đến sự sống còn củaquốc gia dân tộc và chế độ

Đảng cầm quyền phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tưtưởng và rèn luyện bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang, luôn trungthành với Đảng, với nhân dân Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị,quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, sẵn sàng nhận và thựchiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong các tình huống không để bất ngờ xảy ra

Trang 22

Đảng luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện vềmọi mặt đối với lực lượng vũ trang, nhất là quân đội và công an; đặc biệt chăm lo xâydựng đội ngũ cán bộ quân đội và công an vừa hồng, vừa chuyên…

Sự vững mạnh của lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng nòng cốt trongbảo vệ Tổ quốc, mà còn là đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, lực lượngchính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước Đây là lực lượng nòng cốt để cùng toàn dânthực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chủ động xử lý kịp thời và đập tan

âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá con đường đi lên CNXH

2 Vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Quan hệ giữa đổi mới kinh tế, chính trị, xã hội là một trong những mối quan hệ

cơ bản của mọi xã hội Sự sụp đổ của Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và cácnước Đông Âu, hay những thành tựu đổi mới về nhiều mặt của nước ta qua nhữngnăm qua đều có nguyên nhân trực tiếp và sâu xa từ việc giải quyết mối quan hệ chínhtrị với kinh tế, xã hội (Ngô Ngọc Thắng, 2005) Những nhà lãnh đạo lớn của đất nước

ta từ ngày Liên Xô sụp đổ đã nhìn thấy “tử huyệt” dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô vànhìn rõ Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta cần phải làm gì, đã rút ra được những bàihọc quan trọng và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng từ

1986 đến nay, công cuộc đổi mới là quá trình toàn diện, công cuộc đổi mới phải đảmbảo sự gắn kết chặt chẽ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựngĐảng là then chốt và phát triển văn hóa – là nền tảng tinh thần của xã hội (Đảng cộngsản Việt Nam, 2006)

2.1 Về kinh tế

Sau khi V.I.Lênin qua đời, ở Liên Xô, Chính sách kinh tế mới không được tiếptục thực hiện mà chuyển sang kế hoạch hóa tập trung cao độ Trong mô hình này đãtuyệt đối hóa cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cáchchủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện chế độ bao cấptràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động, gây ra tình trạng trì trệkéo dài về kinh tế - xã hội rồi đi tới khủng hoảng

Tại Đại hội VI (tháng 12-1986), Đảng ta bắt đầu thực hiện chủ trương đổi mớitoàn diện, chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ tập trung quan liêu, bao cấp sang

Trang 23

cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúngnguyên tắc tập trung dân chủ, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Đến năm 2001,trên cơ sở tổng kết, đánh giá và rút ra các bài học lớn qua các kỳ Đại hội VI, VII vàVIII, Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định chủ trương xây dựng, phát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xem đó là mô hình kinh tế tổng quát ở nước

ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và xác định đây là “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội X, XI, XII và XIII của Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện, phát triển, làm

rõ nội hàm của nền kinh tế này và đi đến khẳng định kinh tế thị trường định hướng

XHCN “là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng

bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” Đồng thời, chỉ rõ nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngoài những đặc trưng cơ bản của nền kinh tếthị trường nói chung, còn có những đặc trưng riêng mang tính đặc thù thể hiện tínhđịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Đổi mới kinh tế là việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hành chính tậptrung, chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN tức “kinh tế thị trường định hướng XHCN” (Lê Minh Quân,2014)

Đảng ta đã khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây về CNXH:

 Đồng nhất mục tiêu cuối cùng của CNXH với nhiệm vụ của giai đoạntrước mắt

 Nhấn mạnh một chiều về quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân

 Không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳquá độ

 Không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế

 Đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB

Ngày đăng: 22/05/2023, 00:54

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w