1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Bài thảo luận lịch sử đảng) ANH CHỊ HÃY TÌM HIỂU VỀ 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG. RÚT RA NHẬN XÉT

34 270 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Anh/chị hãy tìm hiểu về 3 bước đột phá kinh tế trước đổi mới của đảng. Rút ra nhận xét
Tác giả Đỗ Thanh Thựy, Phạm Quỳnh Trang, Trần Thị Thu Thủy, Lờ Thị Khỏnh Linh, Khuất Thị Thanh Thư, Lờ Duy Anh, Nguyễn Như Quỳnh, Nguyễn Thị Thơm, Nguyễn Thị Thựy, Giỏp Thựy Trang, Nguyễn Linh Trang, Nguyễn Thanh Thỳy, Nguyễn Thị Minh Thu
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 177,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM (3)
    • 1. Tình hình thế giới (3)
    • 2. Hoàn cảnh đất nước (5)
    • 3. Tình hình kinh tế (7)
  • CHƯƠNG II. BA BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ CỦA ĐẢNG TRƯỚC THỀM ĐỔI MỚI (11)
    • 1. Bước đột phá thứ nhất - Hội nghị Trung ương 6 (Tháng 8/1979) (11)
      • 1.1. Chủ trương của Đảng (11)
      • 1.2. Quá trình thực hiện (13)
      • 1.3. Kết quả và ý nghĩa (14)
    • 2. Bước đột phá thứ hai – Hội nghị Trung ương 8 (1985) (15)
      • 2.1. Hoàn cảnh sau khi thực hiện bước đột phá đầu tiên (15)
      • 2.2. Chủ trương của Đảng (16)
      • 2.3. Quá trình thực hiện (19)
      • 2.4. Kết quả và ý nghĩa (21)
    • 3. Bước đột phá thứ 3 – Hội nghị Bộ Chính trị (Tháng 8/1986) (22)
      • 3.1. Hoàn cảnh (22)
      • 3.2. Nội dung bước đột phá thứ 3 (23)
      • 3.3. Sự khác biệt so với những đột phá trước đây (25)
      • 3.4. Kết quả và ý nghĩa (29)
  • CHƯƠNG III. RÚT RA NHẬN XÉT (31)
  • CHƯƠNG IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

ANHCHỊ HÃY TÌM HIỂU VỀ 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG. RÚT RA NHẬN XÉT BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI ~~~~~~~~~~~~ ANHCHỊ HÃY TÌM HIỂU VỀ 3 BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ TRƯỚC ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG RÚT RA NHẬN XÉT Nhóm thực hiện 07 Họ và tên Đỗ Thanh Thùy (Nhóm trư.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Lê Duy Anh Nguyễn Như Quỳnh Nguyễn Thị Thơm Nguyễn Thị Thùy Giáp Thùy Trang Nguyễn Linh Trang Nguyễn Thanh Thúy Nguyễn Thị Minh Thu

Hà Nội, 2023

Trang 2

MỤC LỤ

CHƯƠNG I BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2

1 Tình hình thế giới 2

2 Hoàn cảnh đất nước 4

3 Tình hình kinh tế 6

CHƯƠNG II BA BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ CỦA ĐẢNG TRƯỚC THỀM ĐỔI MỚI……… 10

1 Bước đột phá thứ nhất - Hội nghị Trung ương 6 (Tháng 8/1979) 10

1.1 Chủ trương của Đảng 10

1.2 Quá trình thực hiện 12

1.3 Kết quả và ý nghĩa 13

2 Bước đột phá thứ hai – Hội nghị Trung ương 8 (1985) 14

2.1 Hoàn cảnh sau khi thực hiện bước đột phá đầu tiên 14

2.2 Chủ trương của Đảng 15

2.3 Quá trình thực hiện 18

2.4 Kết quả và ý nghĩa 20

3 Bước đột phá thứ 3 – Hội nghị Bộ Chính trị (Tháng 8/1986) 21

3.1 Hoàn cảnh 21

3.2 Nội dung bước đột phá thứ 3 22

3.3 Sự khác biệt so với những đột phá trước đây 24

3.4 Kết quả và ý nghĩa 28

CHƯƠNG III RÚT RA NHẬN XÉT 30

CHƯƠNG IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 3

CHƯƠNG I BỐI CẢNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1 Tình hình thế giới

Những năm 70 của thế kỷ XX, thế giới diễn ra những biến đổi to lớn, sâu sắc Sựbiến động đó không chỉ đem đến thuận lợi mà còn đặt ra những khó khăn, thách thứcđòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược ứng phó và phát triển phù hợp

Thứ nhất, về thuận lợi Đầu tiên phải kể đến sự phát triển của xu thế đấu tranh

giành hòa bình và độc lập cho dân tộc trên toàn thế giới Những năm 75 của thế kỷ XXthắng lợi của Việt Nam và các nước Đông Dương đã cổ vũ mạnh mẽ cho sự phát triểncủa phong trào cách mạng thế giới Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của phong tràođấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Phong trào đấu tranh cách mạngcủa giai cấp công nhân và phong trào đấu tranh đòi dân chủ, hòa bình, tiến bộ xã hộicủa nhân dân trên thế giới cũng tiếp tục phát triển Tất cả cùng nhau tạo nên dòng tháccách mạng chĩa mũi giáo đấu tranh vào chủ nghĩa tư bản, góp phần làm suy yếu chủnghĩa tư bản trên thế giới, tạo lợi thế cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt làtại Việt Nam

Kế đó là những thành tựu quan trọng đạt được trong quá trình phát triển hệ thốngchủ nghĩa xã hội, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học - kỹ thuật:

Về chính trị: Chủ nghĩa xã hội đã vươn lên trở thành hệ thống vững mạnh trênthế giới, xác lập vị trí quan trọng trong tiến trình đấu tranh cho hòa bình, dân chủ vàtiến bộ xã hội

Về kinh tế: Những năm 50, 70 của thế kỷ XX các nước xã hội chủ nghĩa cónhững biến động khổng lồ với các cuộc cải cách lớn lao trong thực hiện công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước, đưa bình quân giá trị công nghiệp của các nước xã hội chủnghĩa chiếm 43% tổng giá trị công nghiệp thế giới với một loạt các mặt hàng như ximăng, phân hóa học, khai thác khí đốt…

Về khoa học - kỹ thuật: Lĩnh vực này cũng có sự phát triển vượt bậc với vật lýhạt nhân, điện nguyên tử, khoa học sinh học, khoa học chinh phục vũ trụ phục vụ lợiích con người Có thể thấy hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có sự phát triển vượt bậc sovới chủ nghĩa tư bản trong một thời gian ngắn Đặc biệt không thể không kể đến sựbiến đổi và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 3 saunăm 1975 Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật gây nên những biến đổi không nhỏ vớinền kinh tế, làm tăng năng suất lao động, làm thay đổi cơ cấu ngành sản xuất và làm

Trang 4

chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ViệtNam cũng chịu tác động không nhỏ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này.

Về quân sự: Trên thế giới chủ nghĩa xã hội đã đạt được sự cân bằng với chủnghĩa tư bản buộc chủ nghĩa tư bản phải chấp nhận cùng tồn tại với chủ nghĩa xã hội

Thứ hai, về khó khăn Đầu tiên là khó khăn trong nền kinh tế của các nước xã

hội chủ nghĩa Những năm 70, 80 của thế kỷ XX nền kinh tế của toàn hệ thống xã hộichủ nghĩa đã bộc lộ rõ những khó khăn, trì trệ do duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tếhóa tập trung, bao cấp trong khi thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đặcbiệt là sự tăng trưởng vượt bậc của các nước tư bản với thành tựu của cuộc cách mạngkhoa học - kỹ thuật Mô hình kinh tế hóa tập trung, bao cấp là mô hình kinh tế phục vụcho việc xây dựng và phát triển của Liên bang Xô Viết trong những năm liên minh đấutranh và sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, giành được độc lập và đi lên chủnghĩa xã hội mô hình này vẫn được duy trì ở Liên Xô và các nước nhận được sự giúp

đỡ của Liên Xô Vì vậy mà sau một thời gian, cùng với sự tác động của khủng hoảngtrong nền kinh tế và sự chậm chạp trong cải tổ thì mô hình kinh tế này đã bộc lộ rõnhững mặt hạn chế, không phù hợp trên ba lĩnh vực: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức,quản lý và quan hệ trong phân phối Kéo theo đó là sự sụt giảm trong nền kinh tế củacác nước xã hội chủ nghĩa, năng suất lao động giảm sút chỉ bằng ¼ các nước tư bảnnhư Mỹ, Nhật Bản, mức sống của Liên Xô từ vị trí thứ 5 tụt xuống vị trí thứ 55 trênthế giới Điều này cũng phần nào tác động đến Việt Nam

Để đối mặt với khó khăn và vượt qua khủng hoảng nhiều nước chủ nghĩa xã hội

đã tiến hành cải cách, đổi mới, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm Liên Xô, các nướcĐông Âu và Trung Quốc có thể được coi là những ví dụ điển hình cho việc cải tổ đấtnước trong giai đoạn này Tại Liên Xô sau khi Goócbachốp lên nắm quyền đã tiếnhành cải tổ đất nước với đường lối cải tổ tập trung vào việc “cải cách kinh tế triệt để”,tiếp theo là cải cách hệ thống chính trị và đổi mới tư tưởng Đứng trước những bất ổn

về tình hình kinh tế, chính trị, đối ngoại…trong nước, tháng 12/1978, Trung Quốccũng đã đề ra đường lối mới mở đường cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội ở nướcnày

Khó khăn tiếp theo là sự điều chỉnh về chính sách đối nội, đối ngoại với thế giớicủa các nước tư bản chủ nghĩa Sự thất bại ở Việt Nam làm cho sức mạnh của Mỹcũng như các nước chủ nghĩa tư bản suy yếu kết hợp với chất xúc tác từ cuộc cách

Trang 5

mạng khoa học - kỹ thuật các nước tư bản buộc phải thay đổi để bắt kịp với nhữngthành tựu mới và phát triển nền kinh tế nước nhà Một minh chứng cụ thể cho nhữngthay đổi về đường lối đối nội, đối ngoại của các nước tư bản chủ nghĩa là việc chuyển

từ viện trợ sang cấm vận của Mỹ với Việt Nam Sự thay đổi này ảnh hưởng lớn tới nềnkinh tế của nước ta với sự tác động mạnh mẽ trong sản xuất và tiêu dùng

2 Hoàn cảnh đất nước

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: Tổquốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Để thực hiện bướcquá độ này, rất nhiều nhiệm vụ được Đảng đặt ra nhưng nhiệm vụ đầu tiên, bức thiếtnhất là lãnh đạo thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước Cụ thể là thống nhất hai chínhquyền khác nhau ở hai miền là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc vàChính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam

Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (8-1975) chủtrương: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiếnvững chắc lên chủ nghĩa xã hội; miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phảiđồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thống nhấtđất nước vưà là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả nước, vừa là quy luật kháchquan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam Cần xúctiến việc thống nhất nước nhà một cách tích cực và khẩn trương Thống nhất càngsớm thì càng mau chóng phát huy sức mạnh mới của đất nước, kịp thời ngăn ngừa vàphá tan âm mưu chia rẽ của các thế lực phản động trong nước và trên thế giới

Dưới sự chỉ đạo của Đảng, ngày 27-10-1975, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa đã họp phiên đặc biệt để bàn chủ trương, biện phápthống nhất nước nhà về mặt nhà nước Hội nghị cử đoàn đại biểu miền Bắc gồm 25thành viên do đồng chí Trường Chinh làm trưởng đoàn để hiệp thương với đoàn đạibiểu miền Nam

Từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị của hai đoànđại biểu Bắc, Nam đã họp tại Sài Gòn Hội nghị khẳng định: Nước Việt Nam, dân tộcViệt Nam là một, nước nhà cần được sớm thống nhất về mặt nhà nước Tổ chức tổngtuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam bầu ra Quốc hội chung cho cả nước vào nửa đầunăm 1976 theo nguyên tắc dân chủ, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín

Trang 6

Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 228-CT/TW nêu rõtầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử và giao trách nhiệm cho các cấp ủy lãnh đạocuộc bầu cử.

Thực hiện chủ trương đó, dưới sự chỉ đạo của Đảng, ngày 25-4-1976, cuộc Tổngtuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tiến hành Hơn 23triệu cử tri, đạt tỷ lệ 98,77% tổng số cử tri đi bầu, đã bầu ra 492 đại biểu gồm đủ cácthành phần công nhân, nông dân, trí thức, các lực lượng vũ trang, các đại biểu tầng lớpthanh niên, phụ nữ, đại biểu các dân tộc ít người và các tôn giáo trên cả nước Thắnglợi của công việc bầu cử thể hiện ý chí đoàn kết toàn dân tộc quyết tâm thực hiện Dichúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhândân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta

Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp mộtnhà”

Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt Namthống nhất đã họp tại Thủ đô Hà Nội Quốc hội quyết định đặt tên nước ta là nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ nền đỏ sao vàng 5 cánh, Thủ đô là HàNội, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam, Thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh Quốc hội đãbầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước; Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ làmPhó Chủ tịch nước; Trường Chinh làm Chủ tịch Quốc hội và Phạm Văn Đồng làm Thủtướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội đã thành lập

Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới

Theo chủ trương của Đảng, các tổ chức chính trị-xã hội đều được thống nhất cảnước với tên gọi mới: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Lao động Hồ ChíMinh, Tổng Công đoàn Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hoàn thànhthống nhất nước nhà về mặt nhà nước là một trong những thành tựu nổi bật, có ý nghĩa

to lớn; là cơ sở để thống nhất nước nhà trên các lĩnh vực khác, nhanh chóng tạo ra sứcmạnh toàn diện của đất nước; là điều kiện tiên quyết để đưa cả nước quá độ lên chủnghĩa xã hội Điều đó còn thể hiện tư duy chính trị nhạy bén của Đảng trong thực hiệnbước chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta

Trang 7

3 Tình hình kinh tế

Đại hội V đã bổ sung đường lối chung do Đại hội IV đề ra những quan điểm mới:Khẳng định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội với những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đó là thời kỳkhó khăn, phức tạp, lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường Hiện nay nước ta đang ởchặng đường đầu tiên với nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội rất nặng nề.Chặng đường trước mắt bao gồm thời kỳ 5 năm 1981-1985 và kéo dài đến những năm

1990 là khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt Nhiệm vụ của chặng đường trướcmắt là ổn định tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúcđẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu Đáp ứng nhu cầu của côngcuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, trật tự xã hội “Kinhnghiệm của 5 năm 1976-1980 cho thấy phải cụ thể hóa đường lối của Đảng-đường lốichung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủnghĩa ở nước ta, vạch ra chiến lược kinh tế, xã hội cho chặng đường đầu tiên của quátrình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa” Đại hội V đã có những bước phát triển nhậnthức mới, tìm tòi đổi mới trong bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước hết là về mặtkinh tế Tuy nhiên, Đại hội chưa thấy hết sự cần thiết duy trì nền kinh tế nhiều thànhphần, chưa xác định những quan điểm kết hợp kế hoạch với thị trường, về công tácquản lý lưu thông, phân phối; vẫn tiếp tục chủ trương hoàn thành về cơ bản cải tạo xãhội chủ nghĩa ở miền Nam trong vòng 5 năm; vẫn tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, kỹthuật cho việc phát triển công nghiệp nặng một cách tràn lan; không dứt khoát dànhthêm vốn và vật tư cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng

Sau Đại hội V, Trung ương Đảng có nhiều Hội nghị cụ thể hóa, thực hiện Nghịquyết Đại hội Nổi bật là Hội nghị Trung ương 6 (7-1984) chủ trương tập trung giảiquyết một số vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông với hai loại công việc cần làmngay:

Một là, phải đẩy mạnh thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do.Hai là, thực hiện điều chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp với thực tế.Hội nghị Trung ương 7 (12-1984) xác định kế hoạch năm 1985 phải tiếp tục coimặt trận sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, trước hết là sản xuất lương thực,thực phẩm Nổi bật nhất là Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6-1985) được coi là bước

Trang 8

đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi, đổi mới kinh tế của Đảng Tại Hội nghị này,Trung ương chủ trương xóa quan liêu bao cấp trong giá và lương là yêu cầu hết sứccấp bách, là khâu đột phá có tính quyết định để chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán,kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Nội dung xóa quan liêu, bao cấp trong giá và lương là tính đủ chi phí hợp lýtrong giá thành sản phẩm; giá cả bảo đảm bù đắp chi phí thực tế hợp lý, người sản xuất

có lợi nhuận thỏa đáng và Nhà nước từng bước có tích lũy; xóa bỏ tình trạng Nhà nướcmua thấp, bán thấp và bù lỗ; thực hiện cơ chế một giá trong toàn bộ hệ thống, khắcphục tình trạng thả nổi trong việc định giá và quản lý giá Thực hiện cơ chế một giá,xóa bỏ chế độ bao cấp bằng hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất,kinh doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Giá, lương, tiền coi là khâuđột phá để chuyển đổi cơ chế Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hóa bảo đảm, xóa

bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, thoát ly giá trị hàng hóa Xóa bỏ các khoảnchi của ngân sách trung ương, địa phương mang tính chất bao cấp tràn lan Nhanhchóng chuyển hẳn công tác ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủnghĩa

Thực chất, các chủ trương của Hội nghị Trung ương 8 đã thừa nhận sản xuấthàng hóa và những quy luật sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân Trong quátrình tổ chức thực hiện lại mắc những sai lầm như vội vàng đổi tiền và tổng điều chỉnhgiá, lương trong tình hình chưa chuẩn bị đủ mọi mặt Cuộc điều chỉnh giá, tiền, lương

đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng sâu sắc hơn

Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (8-1986) đưa ra “Kết luận đối với một số vấn đềthuộc về quan điểm kinh tế” Đây là bước đột phá thứ ba về đổi mới kinh tế, đồng thờicũng là bước quyết định cho sự ra đời của đường lối đổi mới của Đảng Nội dung đổimới có tính đột phá là:

a Về cơ cấu sản xuất

Hội nghị cho rằng, chúng ta đã chủ quan, nóng vội đề ra một số chủ trương quálớn về quy mô, quá cao về nhịp độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất Đây là mộtnguyên nhân quan trọng khiến cho sản xuất trong 5 năm gần đây như dẫm chân tạichỗ, năng suất lao động giảm sút, chi phí sản xuất không ngừng tăng lên, tình hìnhkinh tế-xã hội ngày càng không ổn định Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp của tìnhtrạng chậm giải quyết căn bản các vấn đề về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng

Trang 9

thiết yếu và tạo nguồn hàng cho xuất khẩu Cần tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn về

cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư theo hướng thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàngđầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựachọn cả về quy mô và nhịp độ, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quả nhanhnhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu.Cần tập trung lực lượng, trước hết là vốn và vật tư, thực hiện cho được ba chươngtrình quan trọng nhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuấtkhẩu

b Về cơ chế quản lý kinh tế

Hội nghị cho rằng, bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lýkinh tế, làm cho hai mặt ăn khớp với nhau tạo ra động lực mới thúc đẩy sản xuất pháttriển Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa là: Đổi mới kếhoạch hóa theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo của các quy luật kinh tế xã hội chủnghĩa, đồng thời sử dụng đúng đắn các quy luật của quan hệ hàng hóa-tiền tệ; làm chocác đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; phân biệt chức năngquản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của cácđơn vị kinh tế; phân công, phân cấp bảo đảm các quyền tập trung thống nhất củaTrung ương trong những khâu then chốt, quyền chủ động của địa phương trên địa bànlãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở

Những kết luận trên đây là kết quả tổng hợp của cả quá trình tìm tòi, thử nghiệm,đấu tranh giữa quan điểm mới và quan điểm cũ, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế Nhữngquan điểm mới được trình bày trong bản kết luận đã định hướng cho việc soạn thảoBáo cáo chính trị để trình ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai VI của Đảng, thaycho bản Dự thảo Báo cáo chính trị được chuẩn bị trước đó vẫn còn giữ lại nhiều quanđiểm cũ không phù hợp với yêu cầu trước mắt là khắc phục cho được khủng hoảngkinh tế-xã hội

Tuy nhiên sai lầm, khuyết điểm nổi bật là không hoàn thành các mục tiêu do Đạihội IV và Đại hội V của Đảng đề ra Đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội kéodài; sản xuất tăng chậm và không ổn định; nền kinh tế luôn trong tình trạng thiếu hụt,không có tích lũy; lạm phát tăng cao và kéo dài Đất nước bị bao vây, cô lập, đời sốngnhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, chế độ giảm sút nghiêmtrọng

Trang 10

Nguyên nhân khách quan dẫn đến khủng hoảng kinh tế-xã hội do xây dựng đấtnước từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, bị bao vây, cấm vậnnhiều năm, nguồn viện trợ từ nước ngoài giảm mạnh; hậu quả nặng nề của 30 nămchiến tranh chưa kịp hàn gắn thì chiến tranh ở biên giới ở hai đầu đất nước làm nảysinh những khó khăn mới Về chủ quan là do những sai lầm của Đảng trong đánh giátình hình, xác định mục tiêu, bước đi, sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế; sai lầm trongcải tạo xã hội chủ nghĩa, trong lĩnh vực phân phối, lưu thông; duy trì quá lâu cơ chếtập trung, quan liêu, bao cấp; buông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế,quản lý xã hội và trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của địch.

Trang 11

CHƯƠNG II BA BƯỚC ĐỘT PHÁ KINH TẾ CỦA ĐẢNG TRƯỚC

THỀM ĐỔI MỚI

1 Bước đột phá thứ nhất - Hội nghị Trung ương 6 (Tháng 8/1979)

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Đại hội IV của Đảnghọp tháng 12-1976 đã đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước mà nộidung cơ bản là tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sảnxuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cáchmạng khoa học - kỹ thuật là then chốt Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện, chúng

ta đã phạm sai lầm chủ quan, nóng vội, tính sai bước đi Trong phát triển lực lượng sảnxuất, đã không tập trung phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ mà quá thiên vềcông nghiệp nặng, ham làm nhanh, làm nhiều Về quan hệ sản xuất, đã chủ trương cảitạo ồ ạt, muốn nhanh chóng xoá bỏ các thành phần kinh tế tư nhân để xác lập một cáchphổ biến các hình thức sở hữu tập thể và toàn dân đối với tư liệu sản xuất ngay cả khilực lượng sản xuất còn rất thấp kém Về quản lý, đã chọn mô hình kế hoạch hoá tậptrung quan liêu, phủ nhận kinh tế thị trường, xem nhẹ năng suất, chất lượng và hiệuquả

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trước hết là những nguyên nhân

về tổ chức và quản lý kinh tế, vào những năm cuối thập niên 70 thế kỷ XX, đất nướcdần dần lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Trong hoàn cảnh

ấy, vấn đề sống còn là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng Muốn vậy, phải thayđổi mạnh mẽ cách nghĩ và cách làm, tìm tòi và thử nghiệm cách làm ăn mới cho nhữngvấn đề đặt ra

1.1 Chủ trương của Đảng

Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8-1979) mở đầu quá trình tìm kiếm giải phápđưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhữngràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp Khuyến khích mọi người laođộng, mọi năng lực sản xuất và các thành phần kinh tế làm ra nhiều của cải vậtchất, Chú trọng kế hoạch và thị trường, cần vận dụng rộng rãi các quan hệ trọng thịtrường Hội nghị Trung ương 6 khoá IV với những chủ trương, chính sách quan trọngđược coi như bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và hình thành đường lối đổimới

Trang 12

Hội nghị đã thể hiện một loạt chuyển biến về quan điểm như sau:

a Về chủ trương đối với các thành phần kinh tế

Hội nghị phê phán xu hướng tả khuynh trước đây, chỉ muốn sớm đưa cả thế vàohợp tác xã, đưa hợp tác xã lên quốc doanh, tưởng như cứ làm như thế là đã có chủnghĩa xã hội Hội nghị xác định một cách nhìn mới về thành phần kinh tế

b Về kết hợp kế hoạch với thị trường

Hội nghị thể hiện thái độ phê phán cách nghĩ và cách làm trước đây, muốn gò tất

cả vào kế hoạch, coi thị trường là một cái gì bất hợp pháp, càng dẹp bỏ sớm càng tốt.Hội nghị đã đi đến một chủ trương rất mới: Chấp nhận cho các cơ sở sản xuất đượcchia sẻ thị trường trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, đồng thờicũng được liên doanh, liên kết với nhau để giải quyết những nhu cầu của sản xuất vàđời sống Đối với những hàng hóa và nguyên liệu không thuộc Trung ương thống nhấtquản lý, thì "giữa các địa phương được trao đổi mua bán với nhau và được quyềnquyết định giá

Những chủ trương này chính là tiền đề cho Quyết định 25-CP sau này (1981) vànhững cuộc phá rào, liên doanh liên kết rất sôi động của các cơ sở kinh tế trong nhữngnăm sau

c Về chính sách phân phối lưu thông

Hội nghị chủ trương một cơ chế phân phối lưu thông tự do hơn, phê phán cơ chếthu mua dựa trên những biện pháp hành chính, cưỡng bức như trong các nămtrước Ngoài thuế (10% sản lượng) và mua theo giá hợp đồng hai chiều, Nhà nướcdùng giá thỏa thuận đi đôi với động viên chính trị để mua phần lương thực hàng hóacòn lại Giá thỏa thuận là giá nông dân đồng ý bán và Nhà nước đồng ý mua, kế hoạchkhông hoàn toàn theo giá thị trường tự do, nhưng không nên quy định cứng nhắc bằnggấp đôi giá chỉ đạo như hiện nay Về giá cả, Hội nghị quyết định giao cho Ban Bí thư,Hội đồng Chính phủ và các cơ quan hữu quan chuẩn bị tiến hành sửa đổi hệ thống giá

Trang 13

nhanh chóng tạo ra sự chuyển biến về tổ chức, quản lý Vì nhận thức được tính cấpbách của vấn đề, vào lúc tình hình kinh tế của cả nước đã lâm vào khủng hoảng trầmtrọng, Hội nghị nhắc nhở các cơ quan hữu quan phải khẩn trương báo cáo tình hìnhcủa cơ sở và sửa đổi những chính sách, những biện pháp nào trái với tinh thần của Hộinghị.

1.2 Quá trình thực hiện

Tháng 10/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nôngnghiệp để khai hoang, phúc hóa, được miễn thuế, trả thù lao và được sử dụng toàn bộsản phẩm, quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát để người sản xuất có quyền tự dođưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường

Trên cơ sở đó, Chỉ thị 100-CT/TW, ngày 13/1/1981 của Ban Bí thư về cải tiếncông tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác

xã nông nghiệp đã ra đời, làm cho người lao động thực sự gắn bó với sản phẩm cuốicùng, do đó mà đem hết nhiệt tình lao động và khả năng ra sản xuất, đã bước đầu tạo

ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp Theo Chỉ thị, mỗi xã viên nhận mứckhoán theo diện tích và tự mình làm các khâu cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn nhữngkhâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm Thu hoạch vượt mức khoán sẽ được hưởng và tự

do mua bán Chủ trương đó được nông dân cả nước ủng hộ, nhanh chóng thành phongtrào quần chúng sâu rộng Sản lượng lương thực bình quân từ 13,4 triệu/tấn thời kỳ

1976 - 1980 tăng lên 17 triệu tấn/ năm thời kỳ 1981 - 1985; những hiện tượng tiêu cực,lãng phí trong sản xuất nông nghiệp giảm đi đáng kể

Trên lĩnh vực công nghiệp, với Quyết định 25/CP vào 1/1981 của Hội đồngChính phủ về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính củacác xí nghiệp quốc doanh cùng với Quyết định 26/CP về việc mở rộng hình thức trảlương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sảnxuất, kinh doanh, được áp dụng, bước đầu tạo ra động lực mới cho lĩnh vực côngnghiệp

Có thể nhìn nhận những tư duy đột phá về kinh tế được thể hiện trong Nghị quyếtHội nghị Trung ương 6 khoá IV, trong Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư và trongcác Quyết định của Chính phủ thời kỳ này như sau: Những tư duy kinh tế ban đầu, tuycòn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng là bước mở đầu có ý nghĩa quan trọng

Tư duy kinh tế nổi bật trong những tìm tòi đó là “cởi trói”, “giải phóng lực lượng sản

Trang 14

xuất”, “làm cho sản xuất bung ra”, trên cơ sở khắc phục những khuyết điểm trong

quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, tạo ra động lực cho sản xuất Kết hợp

ba lợi ích, quan tâm hơn lợi ích thiết thân của người lao động

Những tư duy kinh tế ban đầu đó đã đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổimới sau này Tuy nhiên, do những khó khăn bởi chiến tranh biên giới phía Bắc và TâyNam gây ra, do thiếu đồng bộ của tư tưởng đổi mới và chưa có đủ thời gian để nhữngchủ trương đổi mới phát huy tác dụng, những tìm tòi đổi mới ban đầu đó đã phải trảiqua các thử thách rất phức tạp Tư duy cũ về kinh tế hiện vật còn ăn sâu, bám rễ trongnhiều người Bên cạnh những tư duy cũ trên đây cũng đã xuất hiện khuynh hướngmuốn đổi mới mạnh mẽ hơn, tiếp tục đẩy tới tư duy thừa nhận sản xuất hàng hoá vànhững quy luật của sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội

1.3 Kết quả và ý nghĩa

Hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kémtrong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa Điều chỉnh những chủ trương, chínhsách kinh tế, phá bỏ rào cản, mở đường cho sản xuất phát triển Ổn định nghĩa vụlương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do;khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hóa Đẩy mạnh chăn nuôigia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình) Sửa lại thuế lương thực đểkhuyến khích sản xuất Sửa lại chế độ phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp,

bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng để khuyến khích tính tích cực của ngườilao động

Nhìn một cách khái quát, những đổi mới tư duy kinh tế trên đây là những nhậnthức về sự cần thiết phải giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và tạo ra động lựcthiết thực cho người lao động - đó là quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất thiếtthân của người lao động, Những tư duy đổi mới về kinh tế đó tuy mới mang tính chấttừng mặt, từng bộ phận, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng lại là những bước chuẩn bịquan trọng, tạo tiền đề cho bước phát triển nhảy vọt ở Đại hội VI

Trong tác phẩm “Phá rào” nhà văn Đặng Phong đã đưa ra những ý nghĩa củabước đột phá thứ nhất:

Cho đến nay, trong lịch sử công cuộc Đổi mới của Việt Nam, Hội nghị Trungương 6 có thể coi là cái mốc đầu tiên đánh dấu sự khởi đầu cả tư duy lẫn đường lốikinh tế Nếu đặt trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, thì những Nghị quyết của Hội nghị

Trang 15

Trung ương 6 vừa như một luồng gió mới, vừa như một lá bùa “hộ mệnh” để các địaphương, các ngành thêm năng động sáng tạo trong việc “phá rào” nhằm tìm kiếmnhững giải pháp khắc phục những ách tắc trong sản xuất, lưu thông, giải tỏa nhữngbức xúc trong cuộc sống.

Có thể nói, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 năm 1979 chính là cú hích dẫn tớihàng loạt sự đột phá tiếp theo trong đời sống kinh tế Rồi đến lượt nó, những đột phátrong thực tiễn kinh tế lại tạo ra cả những nhu cầu lẫn khả năng phải đột phá tiếp về cơchế

2 Bước đột phá thứ hai – Hội nghị Trung ương 8 (1985)

2.1 Hoàn cảnh sau khi thực hiện bước đột phá đầu tiên

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV (tháng 1979), Đảng và Nhà nước đã đề ra một số chủ trương, chính sách về sản xuất và phânphối lưu thông; một số ngành, địa phương và cơ sở đã mạnh dạn áp dụng những cách

9-làm mới nhằm tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy mạnh thu mua

nắm hàng, cải thiện một bước nền tài chính quốc gia, giải quyết một số vấn đề cấp bách về giá và lương Tuy nhiên, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về vấn

đề phân phối lưu thông còn có những mặt hạn chế rất cơ bản:

Thứ nhất là, vẫn giải quyết các vấn đề giá, lương và các vấn đề kinh tế khác trên

cơ sở tiếp tục duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu - bao cấp.

Thứ hai là, nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị đề ra nội dung cải tiến phân phốilưu thông bao gồm ba bước, mà bước một là ổn định tình hình kinh tế và đời sống,thực hiện cân bằng ngân sách và tiền mặt, chuẩn bị các điều kiện để cải cách giá vàlương

Thực tiễn chứng minh rằng việc chia ra ba bước như vậy là không đúng: không

thể ổn định được tình hình kinh tế và đời sống, cân bằng được ngân sách và tiền mặt, trong khi vẫn duy trì bao cấp qua giá và lương.

Phát hiện ra thiếu sót ấy, tháng 5-1981, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 109, nhằmđiều chỉnh hệ thống giá và định lại một phần tiền lương Song, khuyết điểm của chúng

ta là:

Do không quán triệt quan điểm xoá bỏ quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán

kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, cho nên đã cải tiến giá và lương một cách nửa

vời Sau khi điều chỉnh giá và lương, vẫn tiếp tục áp dụng cơ chế "tĩnh" đối với giá và

Trang 16

lương, trong khi tình hình kinh tế chung đòi hỏi một cơ chế "động" Kết quả là: Hệ

thống giá Nhà nước tiếp tục tách rời giá trị, bù lỗ sản xuất kinh doanh ngày càng lớn,bội chi ngân sách và tiền mặt ngày càng tăng, sức mua của tiền lương danh nghĩa ngàycàng giảm sút

Tiến hành điều chỉnh giá, lương một cách đơn độc, chắp vá, không gắn với cải

cách cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, tăng cường thương nghiệp

xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải tạo và quản lý thị trường

Do phạm những khuyết điểm trên, tình hình giá cả tiếp tục diễn biến xấu; giá nhà

nước trở nên thấp dưới giá trị quá nhiều Hệ thống giá thấp (dưới giá trị) của Nhà nước

đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng:

a Thu nhập của khu vực kinh tế quốc doanh chỉ đủ trả lương công nhân, viênchức của bản thân nó ở mức rất thấp, không đủ sống, không có đóng góp cho Nhà

nước, không có tích lũy cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.

b Máy móc, thiết bị, nhà xưởng ngày càng hao mòn, hư hỏng; thu về khấu haotài sản cố định không đủ chi cho sửa chữa, càng không thể tái tạo, khôi phục tài sản cố

định Chúng ta đang ăn dần cả vào vốn.

c Việc cấp vật tư với giá thấp, bù lỗ về hàng cung cấp cho công nhân để đổi lạiviệc giao nộp sản phẩm theo giá thấp làm cho giá thành và giá tiêu thụ sản phẩm thấp

xa so với giá trị thực của nó; do đó, mọi tính toán về hiệu quả kinh tế đều bị sai lệch,

hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, giả tạo Đó là những sợi dây trói buộc xí nghiệp vào

cơ chế quan liêu, thủ tiêu quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.

d Xuất khẩu càng nhiều thì ngân sách phải bù lỗ càng lớn Một bộ phận không

nhỏ tiền vay nợ nước ngoài đã bị phung phí qua bao cấp theo giá quá thấp.

e Duy trì giá mua và giá bán thấp mang tính chất bao cấp làm cho Nhà nước khó

nắm hàng, nắm tiền, đó là nguồn gốc gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, rối ren trong

xã hội Vật tư hàng hoá của Nhà nước biến thành đối tượng mua đi bán lại kiếm chênh

lệch giá Ngân sách và tiền mặt ngày càng bội chi lớn

2.2 Chủ trương của Đảng

1 Về giá cả

a Giá mua lương thực và nông sản

Giá mua lương thực và nông sản phải thể hiện và góp phần thực hiện đường lối

phát triển nông nghiệp nhằm hình thành cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, thể hiện

Trang 17

quan hệ công - nông cùng làm chủ, cả công nghiệp và nông nghiệp đều phát triển vàđóng góp đúng mức cho Nhà nước, đời sống công nhân, nông dân đều được cải thiện.Giá mua nông sản phẩm phải khuyến khích việc hình thành và phát triển các vùngchuyên canh, các vùng kinh tế mới, chú trọng những vùng chuyên trồng lúa.

Áp dụng cơ chế một giá mua (có phân biệt theo vùng và được điều chỉnh theo

từng vụ sản xuất) trên cơ sở thoả thuận giữa Nhà nước và nông dân Thông qua hợpđồng kinh tế, Nhà nước nắm hầu hết lương thực hàng hoá và đại bộ phận nông sảnhàng hoá quan trọng Giá mua thóc do Bộ Chính trị phê chuẩn

b Tính đủ các yếu tố chi phí và xác định đúng giá thành sản phẩm công nghiệp

Cụ thể là:Tính đủ chi phí tiền lương mới của khu vực sản xuất, Tính đủ khấu haotài sản cố định, Tính đúng và đủ giá trị vật tư

Đồng thời với việc tính đủ các chi phí hiện còn để ngoài giá thành, quả thực hiệnhạch toán, kinh doanh mà phát hiện và loại bỏ các chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ làmcho giá bị “vống lên”.Xác định đúng tỷ giá kết toán nội bộ nhằm bảo đảm kinh doanh

xuất - nhập khẩu bình thường có lãi Phân biệt tỷ giá hối đoái đồng rúp và đồng đôla

với đồng tiền của ta Tỷ giá hối đoái phải do Nhà nước trung ương định, từng thời kỳ

có điều chỉnh cho phù hợp; các ngành, các cấp không được tự tiện thay đổi

Điều chỉnh giá bán buôn hàng công nghiệp (vật tư và hàng tiêu dùng) trên cơ sở

giá thành tính đủ chi phí, có lãi thỏa đáng cho người sản xuất và thể hiện chính sáchkinh tế của Nhà nước, bảo đảm tính chung có tích lũy cho Nhà nước Giá bán lẻ phải

được xác định trên cơ sở giá trị hàng hoá, có tính đến quan hệ cung - cầu, tiền - hàng,

và phải thể hiện chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Chính sách giá bán

lẻ hàng tiêu dùng cần phân biệt theo tính chất mặt hàng Thực hiện cơ chế một giá thống nhất, do Nhà nước (trung ương và địa phương) quy định và điều chỉnh kịp thời

khi cần thiết; từng bước ổn định giá trên cơ sở làm chủ kế hoạch sản xuất và phânphối, nắm hàng, nắm tiền, cải tạo, quản lý và làm chủ thị trường

2 Chủ trương, chính sách về lương

a Bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền; xác định lại hệ thống lương cơ bản thống nhất cả nước

Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động (kể cả phần nuôi người ăn

theo) Trong điều kiện cụ thể của nước ta, mức lương tối thiểu phải bảo đảm cung cấp

Ngày đăng: 22/03/2023, 00:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên), Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học không chuyên về lý luận chính trị), Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, 2021, tr 245 - 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (dành cho bậc đại học không chuyên về lý luận chính trị)
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb. CTQG Sự thật
Năm: 2021
2. Hà Đăng, “Đổi mới bắt đầu từ đâu”, Báo Nhân Dân điện tử, 2015 3. Hà Đăng, Quá trình đổi mới của Đảng, Đảng 80 năm, tr 627 - 630 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới bắt đầu từ đâu”, "Báo Nhân Dân điện tử
4. Trần Văn Hòa, Nhìn lại sự đột phá, đổi mới về tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Chính trị tỉnh Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại sự đột phá, đổi mới về tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Hòa
Nhà XB: Trường Chính trị tỉnh Bến Tre
5. Lê Minh Nghĩa, Đổi mới tư duy kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Minh Nghĩa
Năm: 2018
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập - tập 46, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 110 - 133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập - tập 46
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập - tập 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 223 - 254 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập - tập 47
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ương Đảng khóa V, LuanVan.co 9. Những bước đột phá trong quá trình tìm tòi đổi mới của Đảng (1979-1986) giá trị lịch sử và hiện thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đột phá trong quá trình tìm tòi đổi mới của Đảng (1979-1986) giá trị lịch sử và hiện thực
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 20/9/1979, Tư liệu văn kiện Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 20/9/1979, Tư liệu văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1979
11. VNUF, Đường lối kinh tế của Đảng từ khi đất nước hoàn toàn giải phóng đến nay, Trường Đại học Lâm Nghiệp, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối kinh tế của Đảng từ khi đất nước hoàn toàn giải phóng đến nay
Tác giả: VNUF
Nhà XB: Trường Đại học Lâm Nghiệp
Năm: 2009
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 18 - NQ/TW ngày 12/07/1984, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế, Tư liệu văn kiện Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 18 - NQ/TW ngày 12/07/1984, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá V) về những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế, Tư liệu văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1984
13. Trung Hòa, Chỉ thị 100 và vai trò lịch sử của Ban Kinh tế Trung ương, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 202014. Giáo trình Lịch Sử Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch Sử Đảng
Tác giả: Trung Hòa
Năm: 2014
16. Tác phẩm Phá Rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới, Đặng Phong 17. https://baoquankhu7.vn/tong-bi-thu-nguyen-van-linh-voi-su-nghiep-doi-moi--1024428346-004586s34010gs?AspxAutoDetectCookieSupport=1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm Phá Rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới
Tác giả: Đặng Phong

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w