1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận lịch sử đảng n3 (2)

44 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Đường Chi Vện Của Miền Bắc Cho Miền Nam Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Đế Quốc Mỹ 1954 – 1975
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Lan Phương
Trường học Trường Đại Học Thương Mại<a href='http://www.tmu.edu.vn'>http://www.tmu.edu.vn</a>
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng
Thể loại Bài Thảo Luận Học Phần
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG I: NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) VÀ CHỦ TRƯƠNG HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA ĐẢNG

  • CHƯƠNG II: CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

    • 2.1.2.1. Lãnh đạo

    • 2.1.2.2. Lực lượng

    • 2.1.2.3. Quá trình hoạt động

    • 2.1.3.1. Kết quả

    • 2.1.3.2. Ý nghĩa

    • 2.2.2.1. Lãnh đạo

    • 2.2.2.2. Lực lượng

    • 2.2.2.3. Quá trình hoạt động

    • 2.2.3.1. Kết quả

    • 2.2.3.2. Ý nghĩa

    • 2.3.2.1. Lãnh đạo

    • 2.3.2.2. Lực lượng

    • 2.3.2.3. Quá trình hoạt động

    • 2.3.3.1. Kết quả

    • 2.3.3.2. Ý nghĩa

    • 2.4.2.1. Lãnh đạo

    • 2.4.2.2. Lực lượng

    • 2.4.2.3. Quá trình hoạt động

    • 2.4.3.1. Lãnh đạo

    • 2.4.3.2. Lực lượng

    • 2.4.3.3. Quá trình hoạt động

    • 2.4.4.1. Kết quả

    • 2.4.4.2. Ý nghĩa

    • 2.5.2.1. Lãnh đạo

    • 2.5.2.2. Lực lượng

    • 2.5.2.3. Quá trình hoạt động

    • 2.5.3.1. Kết quả

    • 2.5.3.2. Ý nghĩa

  • CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CHUNG CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954 -1975)

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

fefefefefefeefef TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠIHÀ NỘI – 2021 KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài Con đường chi viện của miền Bắc cho miền Nam trong cuộc.

NGUYÊN NHÂN CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) VÀ CHỦ TRƯƠNG HÌNH THÀNH CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA ĐẢNG

Khái quát bối cảnh Việt Nam giai đọan (1945 - 1954)

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc

Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam Chính quyền cách mạng mới thành lập đã nhanh chóng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm” Đảng và Nhà nước đã tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân và củng cố sức mạnh cách mạng trên mọi lĩnh vực như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Trong giai đoạn 1946-1954, kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chiến lược quan trọng, được ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy nền kinh tế đất nước Chính phủ đã tích cực vận động nông dân tăng gia sản xuất nhằm nâng cao đời sống và đảm bảo an ninh lương thực Đồng thời, các chính sách về ruộng đất, giảm tô, giảm tức cũng được thực hiện từng bước để cải thiện quyền lợi của nông dân và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Năm 1949, sắc lệnh giảm tô, giảm tức được ban hành nhằm cải thiện đời sống nông dân Đồng thời, chính quyền tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ bỏ chạy vào vùng tạm chiếm cho nông dân nghèo, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Nhờ những chính sách này, năng suất lương thực ở các vùng giải phóng đã được nâng cao rõ rệt, đóng góp quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế địa phương.

Trong giai đoạn từ 1946 đến 1954, công nghiệp và thủ công nghiệp kháng chiến, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu chiến đấu và tiêu dùng của đất nước Ngoài việc sản xuất số lượng lớn vũ khí, đạn dược, các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu ngày càng được tăng cường, góp phần nâng cao khả năng chiến đấu của quân dân Đồng thời, sự nghiệp giáo dục chống giặc dốt được xem là nhiệm vụ hàng đầu, song song với công cuộc chống giặc ngoại xâm, với hơn 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ, góp phần xây dựng nền móng vững chắc cho phát triển đất nước.

Dân tộc ta đã vượt qua nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và kiệt quệ do sự bóc lột kéo dài của đế quốc và phong kiến để đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp Quá trình đấu tranh kéo dài 9 năm gian khổ nhằm giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, cuối cùng đã đi tới thắng lợi lịch sử tại Điện Biên Phủ Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son của lịch sử Việt Nam mà còn chấn động toàn cầu, mở ra chương mới trong hành trình độc lập dân tộc.

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng, bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong khi đó, miền Nam lại rơi vào vòng kiểm soát của đế quốc Mỹ, với sự lập lờ trong chính sách và sự mở rộng của các căn cứ quân sự Mỹ Cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước trở nên gay gắt hơn, góp phần hình thành ý chí đoàn kết, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta để thống nhất đất nước.

Miền Bắc chuyển sang giai đoạn cách mạng Xã hội Chủ nghĩa nhằm hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế Mục tiêu của giai đoạn này là xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước, đồng thời tạo hậu phương ổn định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam.

Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm chống lại chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ và hướng tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Hai nhiệm vụ chính của phong trào này là đánh đổ Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động, đồng thời củng cố hòa bình, độc lập, tự do cho toàn quốc Trong khi đó, miền Bắc giữ vai trò là hậu phương vững chắc, đảm bảo cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng, còn miền Nam là tiền tuyến trực tiếp đối mặt với đế quốc Mỹ và tay sai, quyết tâm giành độc lập và thống nhất đất nước.

Nguyên nhân cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Geneva, cuộc chiến tranh kết thúc, quân Pháp rút về nước, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng Theo hiệp định, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng đế quốc Mỹ lợi dụng cơ hội để can thiệp sâu rộng, xâm lược Việt Nam Mỹ đã lợi dụng sự kiện, lật đổ Pháp, tổ chức và chỉ huy chính quyền tay sai, viện trợ kinh tế và quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và chia cắt đất nước lâu dài Bấy giờ, toàn dân ta lại bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại âm mưu xâm lược mới này.

Khi đó, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại Hiệp định Geneve (1954) về Việt Nam, thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đánh phá điên cuồng, giết hại, giam cầm hơn nửa triệu cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước, đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành hiệp định Geneve và thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước cùng chính quyền dân sinh, dân chủ Chỉ trong 4 năm (1955 - 1958), 9/10 cán bộ đảng viên của ta bị bắt giết, tù đày, nhiều huyện không còn cơ sở Đảng Cách mạng miền Nam phải chịu những tổn thất nặng nề và lâm vào tình thế rất hiểm nghèo. Đứng trước chính sách cực kỳ phản động và tàn bạo của Mỹ - Diệm, Đảng ta đã chỉ rõ nhân dân miền Nam không có con đường nào khác là đứng lên làm cách mạng để cứu nước, cứu mình Do đó, mục đích cách mạng miền Nam là phải đánh đổ chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm và đánh đổ bằng con đường cách mạng.

Chiến lược và chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện

1.3.1 Chiến lược chung của Đảng ta về hình thành con đường chi viện

Ngay từ tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập đoàn vận tải trên biển Đông nhằm thực hiện chủ trương chi viện lực lượng và vật chất cho miền Nam Đoàn vận tải này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hậu phương, cung cấp vũ khí, lương thực và nhu yếu phẩm cần thiết để hỗ trợ cuộc kháng chiến chống Mỹ Việc thành lập đoàn vận tải trên biển Đông thể hiện sự quyết tâm và chiến lược của Đảng trong việc phối hợp vận chuyển, tiếp tế an toàn, góp phần thúc đẩy chiến thắng cuối cùng của dân tộc.

Bộ Chính trị quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự trên bộ và trên biển, như tuyến đường Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trên biển, nhằm vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam và đảm bảo chuyển công văn, tài liệu giữa hai miền Điều này thể hiện nhận thức sớm của Đảng và nhà nước về tầm quan trọng của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam Đây là một đường lối đúng đắn, góp phần tăng cường hiệu quả chiến tranh và đảm bảo nguồn lực cho miền Nam.

1.3.2 Chủ trương của Đảng về hình thành con đường chi viện Đứng trước tình hình đất nước trong thời kì mới, Đảng đã chủ trương xây dựng hậu phương miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược, căn cứ địa cách mạng – chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam Chính vì vậy ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, Đảng luôn chú trọng việc xây dựng hậu phương miền Bắc trở thành căn cứ địa của cả nước

Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 7 (03-12/03/1955) xác định rõ rằng việc củng cố miền Bắc là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự thống nhất của đất nước, và đường lối này được khẳng định lại tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (13-20/08/1955) Hội nghị nhấn mạnh rằng "muốn thống nhất đất nước, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc", dựa trên sự phát triển của chế độ dân chủ nhân dân và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội một cách vững chắc Đồng thời, hội nghị nhấn mạnh rằng "củng cố miền Bắc không thể tách rời khỏi việc quan tâm đến miền Nam", vì miền Bắc là vị trí chiến lược của cách mạng Việt Nam, và bất kể tình hình diễn biến như thế nào, "miền Bắc cũng phải được củng cố" để đảm bảo sự ổn định và tiến bộ của đất nước.

Trong bài phát biểu tại Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất toàn quốc tháng 9 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng miền Bắc là nền tảng và gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Ngài khẳng định: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Nền có vững, nhà mới chắc Gốc có mạnh cây mới tốt,” nhấn mạnh vai trò then chốt của miền Bắc trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của đất nước.

Trong các cuộc họp quan trọng năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ của nhân dân là xây dựng và củng cố miền Bắc để tiến tới chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh giành thống nhất đất nước Để phát triển miền Bắc thành nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 đã xác định cần tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, gắn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Cách mạng miền Bắc giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp cách mạng toàn quốc, đồng thời, cách mạng miền Nam cũng đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta vừa đấu tranh chống Mỹ - Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam, vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc, tạo nền tảng vững chắc cho cả nước Đảng đặc biệt chú trọng xây dựng củng cố hậu phương và căn cứ địa cách mạng, cung cấp nguồn lực lớn về nhân lực và vật lực để giúp miền Nam đánh Mỹ Miền Bắc trở thành căn cứ địa vững chắc tiêu biểu cho phong trào cách mạng, với chế độ chính trị ưu việt và lực lượng kinh tế, quân sự phát triển mạnh mẽ Những thành tựu trong xây dựng CNXH tại miền Bắc là nền tảng vững chắc giúp Đảng giữ vững quyết tâm chống Mỹ cứu nước và chiến thắng vẻ vang.

Vai trò và vị trí của miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ đã được Đảng Lao động Việt Nam xác định rõ ràng từ đầu, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương vững chắc Trong thời kỳ kháng chiến, hậu phương miền Bắc cần được phát triển theo đường lối phù hợp, tập trung vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng kinh tế và bảo vệ hậu phương Đường lối này nhằm đảm bảo sự gắn kết chiến lược giữa hậu phương và tiền tuyến, thúc đẩy toàn diện phong trào cách mạng miền Bắc, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.

CON ĐƯỜNG CHI VIỆN CỦA MIỀN BẮC CHO MIỀN NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

Đường bộ - Đường Trường Sơn

Tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và khẳng định con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Thực hiện những nhiệm vụ trên đây, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lực lượng, người, sức của kịp thời trở thành yêu cầu sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của cách mạng miền Nam và điều đó đòi hỏi phải gấp rút mở những tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tuyền tuyến Tuyến đường ấy phải đủ sức đảm nhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển của chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ cho Quân ủy Trung ương nghiên cứu và nhanh chóng mở tuyến giao thông vận tải Ngày 19/05/1959, Thường trực Tổng Quân ủy Bộ Quốc phòng chính thức giao cho Đoàn 559 nhiệm vụ mở đường giao thông quân sự vào Nam, nhằm đảm bảo sự liên kết và hỗ trợ cho chiến trường miền Nam.

Trường Sơn là tuyến đường huyết mạch vận chuyển hàng quân sự cho miền Nam, đảm bảo cung cấp lương thực, vũ khí và thiết bị cần thiết cho các lực lượng chiến đấu tại khu vực miền Nam Trên tuyến đường này, binh đoàn Trường Sơn chịu trách nhiệm đưa đón cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại, đặc biệt ở Liên khu V, góp phần duy trì liên lạc và hỗ trợ hậu cần cho các chiến dịch chiến tranh Đây là tuyến đường chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thể hiện tinh thần đoàn kết và sự vượt qua khó khăn của quân và dân ta.

Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự khởi đầu của tuyến đường bộ Trường Sơn.

Bộ Chính trị đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương nghiên cứu và nhanh chóng mở tuyến giao thông vận tải chiến lược Đến ngày 19/05/1959, Tổng quân ủy Bộ quốc phòng đã chính thức giao cho Đoàn 559 mở đường giao thông quân sự vào miền Nam, dọc theo dãy Trường Sơn Việc thành lập Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khai sinh tuyến đường bộ Trường Sơn, góp phần tăng cường vận chuyển và bảo vệ sự nghiệp cách mạng tại khu vực Liên khu V.

Trong giai đoạn 1959–1964, Đoàn 559 đã mở rộng quân số lên tới 6.000 người, bao gồm hai trung đoàn 70 và 71 Đến tháng 4 năm 1965, quân số của Đoàn 559 đã tăng mạnh lên 24.000 người, góp phần nâng cao khả năng cung ứng của đường Trường Sơn đạt tới 20-30 tấn hàng hoá mỗi ngày.

2.1.2.3 Quá trình hoạt động a) Thời kỳ 1959 - 1964

Vào ngày 13/08/1959, chuyến hàng đầu tiên chính thức vượt Trường Sơn, sau 8 ngày đêm vượt qua sông sâu, suối dữ, đèo cao và hệ thống đồn bốt của địch Đến ngày 20/08/1959, chuyến hàng này đã được bàn giao cho chiến trường Trị Thiên tại Tà Rịa, đánh dấu bước ngoặt trong hành trình vận chuyển chi viện của ta Để đảm bảo bí mật tối đa, Đoàn 559 chuyển tuyến đường giao thông sang sườn Tây của dãy Trường Sơn, nâng cao hiệu quả và hạn chế rủi ro Sau một năm, Đoàn 559 đã phát triển lên đến 6.000 người, gồm hai trung đoàn 70 và 71, trở thành lực lượng chủ chốt trên tuyến đường chiến lược này Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, đường Trường Sơn chủ yếu dùng để chuyển quân, do việc vận chuyển vũ khí qua đường biển vào Nam vẫn mang lại hiệu quả cao hơn.

Trong giai đoạn này, hải quân Mỹ tăng cường hoạt động ngăn chặn đường biển, gây khó khăn lớn cho phía Việt Nam, buộc đường Trường Sơn phải đảm nhận đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược Hàng hóa từ miền Bắc được lưu trữ trong các “Khu căn cứ” với hệ thống ngụy trang tự nhiên và nhân tạo, không ngừng mở rộng để đảm bảo an toàn và củng cố lực lượng Đến mùa khô 1964-1965, hệ thống đường Tây Trường Sơn đã được phát triển thành mạng lưới đường đất rộng khoảng 5,5 mét, kết hợp các bãi đỗ xe tải, kho chứa, bệnh viện và các cơ sở vật chất khác, tất cả đều được che giấu nhằm tăng năng lực thông xe và đảm bảo hoạt động liên tục Trong thời kỳ 1965-1968, đường Trường Sơn vừa chống phá hoại của địch vừa mở rộng, với hoạt động vận chuyển quân và hàng hóa chủ yếu từ hậu phương miền Bắc qua các tuyến đường liền kề Campuchia, đáp ứng các yêu cầu chiến tranh của miền Nam và Lào, đồng thời đảm bảo an toàn cho bộ đội và cán bộ qua lại trên toàn tuyến.

Tháng 04/1965 quân số của Đoàn 559 đã phát triển lên tới 24.000 người, khả năng cung ứng của đường Trường Sơn đạt đến 20 tới 30 tấn mỗi ngày

Năm 1966, Mỹ ước tính tổng số quân vào Nam qua đường Trường Sơn từ 58.000 đến 90.000 người, góp phần tăng cường lực lượng chiến tranh tại khu vực Mùa khô năm 1966-1967 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến thuật vận tải của Đoàn 559, từ hình thức “phòng tránh tích cực” sang “tiến công” hợp đồng binh chủng Để đảm bảo tuyến đường thông suốt, nhiều tuyến phụ và đường vòng mới được mở rộng và xây dựng, nâng cao khả năng vận chuyển và tiếp tế cho chiến trường miền Nam.

Đến cuối năm 1967, mạng lưới đường bộ đã đạt tổng chiều dài 2.959 km, bao gồm 275 km đường chính, 576 km đường vòng và 450 km đường vào các vùng kho chứa Trong năm này, hơn 81.000 tấn hàng hóa đã được vận chuyển và cất giữ nhằm chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968 Đồng thời, có hơn 200.000 quân, trong đó có 07 trung đoàn bộ binh và 20 tiểu đoàn độc lập, đã vượt qua các tuyến đường này để an toàn vào miền Nam, góp phần vào chiến dịch quan trọng của quân đội.

Trong giai đoạn 1968-1972, vật chất hậu cần được vận chuyển bằng đoàn hộ tống từ miền Bắc theo từng chặng, với xe tải hoạt động liên tục giữa các trạm để dỡ hàng và nhận hàng mới Để tránh bị máy bay Mỹ tấn công, các đơn vị vận tải thường chỉ chạy vào ban đêm, đặc biệt là gần sáng khi các cuộc nổ bom và pháo kích kết thúc, nhằm đảm bảo an toàn tối đa Khi máy bay Mỹ tới, giao thông sẽ tạm dừng cho đến khi trời sáng, sau đó các hoạt động vận chuyển mới được tiếp tục, góp phần duy trì hậu cần cho chiến dịch.

Mỹ đã triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn hoàn toàn mọi nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam, nhằm phá hoại hệ thống đường Trường Sơn Các chiến dịch này sử dụng vũ khí hiện đại với mật độ ngày càng tăng để cắt đứt liên lạc và tiếp tế cho lực lượng cách mạng Hành động này nhằm làm suy yếu khả năng chiến đấu của miền Nam và làm giảm nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài, góp phần vào chiến lược quân sự của Mỹ tại khu vực.

Trong năm 1968, Không quân Mỹ tiến hành hai thí nghiệm nhằm làm trầm trọng hơn thời tiết xấu mùa mưa, đặc biệt là dự án Popeye nhằm kéo dài vô hạn mùa mưa trên đường Trường Sơn bằng cách tạo mây Mục tiêu là gây ảnh hưởng đến hoạt động vận tải và gây khó khăn cho các chiến dịch ném bom của phía đối phương.

Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến (1973-1975), Bộ đội Trường Sơn nhanh chóng tổ chức lại lực lượng, điều chỉnh thế trận và hiệp đồng chặt chẽ giữa các quân binh chủng để duy trì tuyến vận tải chiến lược Mặc dù bị đánh phá ác liệt, tuyến vận tải này vẫn không ngừng xây dựng và mở rộng, vượt sâu vào các chiến trường Nhiều trục đường mới đã được mở thêm, đặc biệt từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn, nhằm tăng cường khả năng tiếp vận của miền Bắc vào miền Nam Đến năm 1970, gần 80% hàng hóa từ Bắc vào Nam được chuyển qua Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, qua cảng Sihanoukville ở Campuchia, sau đó phân phối sâu vào miền Nam Việt Nam Tuy nhiên, sau vụ đảo chính của tướng Lon Nol và việc đóng cửa cảng Sihanoukville vào năm 1970, tuyến vận tải đường Trường Sơn còn đảm nhận nhiệm vụ của Đường Hồ Chí Minh trên biển, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam và Lào, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình hòa bình và ổn định khu vực Đồng thời, tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn được phát triển nhanh chóng và toàn diện, với quy mô lớn trên mọi mặt để tăng cường hậu cần, vận chuyển quân và vũ khí, góp phần quyết định vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược là tranh thủ thời cơ để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, đảm bảo hành quân vào các chiến trường quan trọng Tuyến vận tải này còn giữ vai trò đảm bảo tổ chức chiến trường, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược cho các quân khu Đồng thời, nó góp phần đáp ứng nhu cầu dân sinh kinh tế và xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam cùng các nước bạn Để đáp ứng yêu cầu đó, vào tháng 11 năm 1973, Hội đồng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch thiết kế và mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn nhằm nâng cao khả năng vận chuyển và chiến đấu.

Đường biển - “Đường Hồ Chí Minh trên biển”

Năm 1959, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam, Bộ Chính trị Việt Nam và Quân ủy Trung ương quyết định nghiên cứu mở tuyến đường vận tải trên biển để chi viện trực tiếp cho Quân Giải phóng miền Nam, tăng cường khả năng chiến đấu và đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả cho phong trào cách mạng miền Nam.

Tháng 7-1959, thành lập Tiểu đoàn Vận tải thủy 603, có nhiệm vụ mở đường trên biển vận chuyển vũ khí, hàng hóa và con người chi viện cho miền Nam Để giữ bí mật, tiểu đoàn hoạt động dưới tên gọi “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” Thuyền được nguỵ trang giống thuyền đánh cá của ngư dân miền Nam.

Ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Ðoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125 sau này) với tên gọi “Đoàn tàu Không số”, có nhiệm vụ mua sắm phương tiện, vận chuyển các loại hàng hóa tiếp tế cho chiến trường miền nam bằng đường biển Ðây là quyết định mang tầm chiến lược, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong những giai đoạn quan trọng của lịch sử dân tộc Ðồng thời, Ðoàn 759 ra đời đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức trên tuyến vận tải chi viện chiến trường miền nam bằng đường biển.

Bộ Chính trị Việt Nam và Quân ủy Trung ương là những cơ quan quyết định tổ chức nghiên cứu mở tuyến đường vận tải trên biển nhằm hỗ trợ trực tiếp cho Quân Giải phóng miền Nam Quyết định này nhằm tăng cường khả năng vận chuyển và tiếp tế, góp phần vào thắng lợi chiến tranh Việc mở tuyến đường vận tải biển giúp đảm bảo nguồn lực và vũ khí tiếp cận nhanh chóng, hiệu quả đến chiến trường miền Nam Các cơ quan này đóng vai trò allora trong việc xác định chiến lược vận chuyển an toàn, phối hợp chặt chẽ để nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải biển.

Tháng 07/1959, Tiểu đoàn 603, đơn vị vận tải đường biển, được thành lập và gồm 107 người chủ yếu là cán bộ miền Nam, đóng quân tại thôn Thanh Khê, xã Thạch Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, bên bờ sông Gianh Để giữ bí mật, đơn vị lấy tên gọi "Tập đoàn đánh cá sông Gianh" và có nhiệm vụ nghiên cứu phương thức vận chuyển hàng hóa, vũ khí và con người bằng đường biển để hỗ trợ miền Nam trong thời gian khẩn cấp Nhờ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và công an nhân dân vũ trang, Tiểu đoàn 603 nhanh chóng ổn định đời sống và bắt đầu đóng tàu, ban đầu hoàn thành 4 chiếc tàu mỗi chiếc có trọng tải 20 tấn.

Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, ngày 23/10/1961,

Bộ Quốc phòng ra quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải đường biển (tiền thân của Lữ đoàn 125 sau này) với tên gọi

Đoàn tàu Không số có nhiệm vụ mua sắm phương tiện và vận chuyển tiếp tế cho chiến trường miền Nam qua đường biển, với phương châm hành động là “hết sức khẩn trương, tuyệt đối bí mật, độc lập chiến đấu” Vì tính chất nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, Đoàn 759 được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, thể hiện sự lãnh đạo chiến lược, đúng đắn và tài tình của Đảng trong những giai đoạn quyết định của lịch sử dân tộc Sự ra đời của Đoàn 759 còn đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức trên tuyến vận tải chi viện chiến trường miền Nam bằng đường biển.

Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 để chuẩn bị bến bãi tại các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau Bộ chỉ huy các khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật nhằm đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và hàng hóa từ miền Bắc Việt Nam qua đường biển.

Trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta xác định nhiệm vụ vận tải đường biển là chiến lược dài hạn để chi viện cho cách mạng miền Nam Phương hướng hoạt động bao gồm sử dụng tàu nhỏ, tàu ngụy trang, kết hợp các hình thức hợp pháp và bất hợp pháp, xây dựng khả năng chuyên môn và phương tiện ở miền Bắc, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của miền Nam để bảo vệ hàng hóa Các phương án vận chuyển gồm có chở hàng từ miền Bắc vào miền Nam, từ miền Nam ra ngoài, hoặc kết hợp các phương án từ trong miền Nam ra ngoài và từ ngoài vào gặp nhau chuyển hàng Quân uỷ Trung ương nhấn mạnh cần gọn nhẹ, đảm bảo chất lượng và tập trung xây dựng lực lượng thủy đội thuyền buồm kết hợp máy đẩy, nhằm tránh bị động về thời tiết Đảng xác định rõ nhiệm vụ vận tải qua đường biển có tính chiến lược, lâu dài, đặc biệt trong giai đoạn 1962-1965, để đảm bảo sự hỗ trợ cần thiết cho phong trào kháng chiến.

Sau thất bại trong "Cuộc chiến tranh một phía" (1954-1960), đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" từ năm 1961 đến 1965, tập trung thực hiện các cuộc hành quân tìm diệt và bình định để kiểm soát đất đai, nắm bắt lượng dân cư Chính sách này nhằm mục tiêu "tát nước bắt cá", đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng biệt kích và phong tỏa biên giới, vùng biển để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam Điều này phản ánh mong muốn của Mỹ trong việc dập tắt phong trào cách mạng và kiểm soát hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Vào trung tuần tháng 8 năm 1962, Quân ủy Trung ương đã thông qua Nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược trên biển, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của Đoàn 759 Từ đó, đơn vị bước vào giai đoạn vận chuyển mới, bắt đầu nhận bàn giao 4 tàu gỗ từ Xưởng đóng tàu I tại Hải Phòng và tăng cường lực lượng cán bộ Ngày 11 tháng 10 năm 1962, chiếc tàu gỗ gắn máy đầu tiên chở 30 tấn vũ khí đã rời bến Đồ Sơn hướng về Cà Mau, mở ra một chương mới trong chiến lược vận chuyển của đơn vị.

Lê Văn Một giữ vai trò thuyền trưởng trong chuyến hàng quan trọng Ngày 19/10, tàu của Đoàn 759 đã vào bến Vàm Lũng an toàn, vận chuyển thành công 30 tấn vũ khí từ hậu phương miền Bắc đến chiến trường miền Nam Sau thành công này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen ngợi và động viên cán bộ, chiến sĩ, đồng thời nhấn mạnh cần rút kinh nghiệm để tiếp tục vận chuyển nhiều vũ khí hơn cho đồng bào miền Nam chống giặc và sớm đoàn tụ gia đình Bắc - Nam Đường biển đã trở thành tuyến vận chuyển chủ lực, nối liền hậu phương phía Bắc với chiến trường phía Nam, mở ra tiền đề cho những chuyến hàng tiếp theo của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759.

Kế thừa thành công của tàu thứ nhất, các tàu thứ hai, thứ ba và thứ tư lần lượt được chuyển đổi từ tàu của Đoàn 759 thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định Những tàu này hoạt động xen kẽ, trà trộn vào các đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên biển, góp phần vào chiến lược bí mật của đoàn Tên gọi Đoàn tàu không số ra đời từ sự linh hoạt và tinh thần vượt khó này trong quá trình hoạt động.

Vào ngày 17/03/1963, chiếc tàu vỏ sắt đầu tiên do đồng chí Đinh Đạt làm thuyền trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tiến làm chính trị viên đã chở 44 tấn vũ khí an toàn vào bến Trà Vinh Xưởng đóng tàu III (Hải Phòng) đã lần lượt hạ thủy các tàu thứ 2 đến thứ 6, mở ra nhiều chuyến vận chuyển hàng hóa và vũ khí bí mật, nối tiếp nhau rời bến để chi viện cho chiến trường miền Nam Mỗi chuyến ra khơi là một thử thách lớn, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải vượt qua gian khổ, hiểm nguy, cả hiểm họa từ địch và thiên nhiên khắc nghiệt, thể hiện lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu kiên cường.

Với phương châm hoạt động bí mật, bất ngờ, sử dụng các loại tàu nhỏ, ngụy trang giống tàu đánh cá, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã mở ra một hướng chi viện quan trọng, đưa hàng từ miền Bắc đến các chiến trường xa mà tuyến đường trên bộ chưa thể vươn tới Tháng 8/1963, Đoàn 759 được giao nhiệm vụ vận chuyển, chi viện đường biển cho miền Nam do Quân chủng Hải quân phụ trách; sau đó, ngày 24/01/1964, Đoàn 759 được tổ chức lại thành Lữ đoàn 125 Hải quân Trong hơn 3 năm hoạt động (1962-1965), đường Hồ Chí Minh trên biển đã thực hiện 89 chuyến tàu, vận chuyển gần 5.000 tấn vật chất chủ yếu là vũ khí, đạn dược đến các tỉnh ven biển của chiến trường Khu 5, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ.

Trong giai đoạn 1965-1968, sau sự kiện Vũng Rô làm mất đi yếu tố bí mật, Đoàn 125 phải chuyển sang phương pháp “lừa miếng” bằng đường hàng hải thiên văn để tiếp tục hoạt động Đoàn đã điều hướng các đội tàu theo tuyến quốc tế để bí mật đột nhập và vận chuyển hàng vào các bến tiếp nhận, góp phần quan trọng vào chiến thắng trong các trận đấu tranh quan trọng như Ấp Bắc, Đầm Dơi, Chà Là, Núi Thành và Vạn Tường, chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ Trong khoảng thời gian này, từ năm 1965 đến 1968, Đoàn 125 đã thực hiện 27 chuyến tàu, trong đó chỉ có 7 chuyến tới đích và vận chuyển hơn 400 tấn hàng quân sự đến các chiến trường Đến tháng 2/1968, hoạt động trên biển bị hạn chế do địch tăng cường ngăn chặn, dẫn đến tạm dừng đường Hồ Chí Minh trên biển để đảm bảo an toàn và tiếp tục chiến đấu chống xâm nhập.

Giai đoạn1968-1969: Chuyển sang phương án vận chuyển gián tiếp.

Đường ống xăng dầu

Khi tuyến Đường Hồ Chí Minh chuyển sang vận tải bằng cơ giới thì xăng dầu trở

Tháng 4-1968, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên điện báo về bộ: Do thiếu xăng, xe phải ngừng hoạt động Nếu không chuyển kịp xăng và lương thực vào, có nguy cơ hàng vạn bộ đội bị đói Để khắc phục tình trạng này, hậu phương đã tìm mọi cách, phát huy mọi sáng kiến tuy nhiên tất cả những biện pháp đều không mang lại hiệu quả đáng kể mà tổn thất rất lớn Việc tiếp xăng cho tuyến vận tải cơ giới xem như bế tắc Tình hình đó khiến Quân ủy Trung ương và lãnh đạo Bộ Quốc phòng hết sức đau đầu.

Trong một lần đại tướng Võ Nguyên Giáp đi làm việc tại Liên Xô, ông đã được Liên

Việt Nam nhận viện trợ hai bộ đường ống dẫn xăng dầu dã chiến loại phi 10 cm dài 100 km mỗi bộ, nhưng hiện vẫn chưa được sử dụng và chỉ lưu kho Khi chiến trường phía Nam có những bước phát triển sôi động, Đại tướng đề xuất xem xét khả năng sử dụng các bộ đường ống này tại chiến trường Mặc dù hệ thống đường ống đã về Việt Nam, nhưng vẫn chưa rõ mục đích sử dụng cụ thể, gây ra những câu hỏi về khả năng ứng dụng thực tế trong chiến tranh.

Hầu hết các tướng lĩnh đều cho rằng việc làm đường ống dẫn xăng dầu là điều phi thực tế, gây nhiều khó khăn và không khả thi trong thời điểm hiện tại Tuy nhiên, Trung tướng Đinh Đức Thiện đã thể hiện quan điểm khác khi ngay lập tức hưởng ứng, nhận lời và hứa với đại tướng sẽ nhanh chóng tìm hiểu, đề xuất các giải pháp phù hợp và khẩn trương triển khai thực thi dự án nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Đặc điểm vượt trội của hệ thống đường ống dã chiến là khả năng thích nghi với mọi địa hình và thời tiết khắc nghiệt của Trường Sơn, giúp nâng cao hiệu quả vận chuyển chiến lược trong chiến tranh Mặc dù ban đầu chỉ dùng cho cấp chiến dịch và tháo dỡ sau 7-10 ngày, nhưng hệ thống này được tái sử dụng trong vận tải chiến lược lâu dài, vượt xa mục đích ban đầu Quyết tâm đưa đường ống dã chiến vào vận tải chiến lược thể hiện rõ qua ý chí của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện, dựa trên các căn cứ khoa học phù hợp với đặc thù Việt Nam Đường ống nhẹ, dễ lắp ráp và tháo dỡ, mỗi ống chỉ nặng hơn 30kg, giúp bộ đội dễ dàng vác lối trong rừng, giữ bí mật và thi công nhanh chóng Ngoài ra, khả năng sửa chữa dễ dàng khi bị đánh bom, nhờ vào trọng lượng nhẹ và thiết kế linh hoạt, giúp hệ thống này đủ khả năng chống lại sự phá hủy của không lực Hoa Kỳ, đảm bảo duy trì vận tải chiến lược trong mọi tình huống.

Chủ nhiệm Đinh Đức Thiện nhấn mạnh rằng việc đưa ra chủ trương chiến lược này đã gặp phải những ý kiến còn nghi ngại, nhưng quyết tâm của lãnh đạo là rất cao Ông khẳng định rằng các vấn đề kỹ thuật và chiến thuật sẽ được giải quyết thực tiễn trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo thành công của chiến lược Quyết tâm này đã nhận được sự phê duyệt của Quân ủy Trung ương, trở thành chủ trương chiến lược của cấp lãnh đạo cao nhất, mở ra một con đường mới trên chiến trường Trường Sơn.

Với tinh thần chiến đấu kiên cường của những người lính, không thể để chậm trễ thêm một giờ, một phút nào nữa, cần nhanh chóng xây dựng tuyến đường ống xăng dầu vào chiến trường Đề xuất này nhận được sự nhất trí cao từ trên, dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tổng Tham mưu để đảm bảo cung cấp nhiên liệu kịp thời cho các chiến dịch quan trọng.

Tổng cục Hậu cần, Cục Xăng dầu được thành lập, các khóa huấn luyện chuyên biệt về đường ống được cấp tốc tổ chức ở Đông

Quan, Phú Xuyên, Hà Tây (trước kia).

Bộ đội đặc công, công nhân gang thép

Thái Nguyên và các sinh viên vừa tốt nghiệp đại học lập tức được điều vào ngành xăng dầu

Quân đội Các chuyên gia Liên Xô cùng với kỹ sư của ta đảm đương giảng dạy những vấn đề cơ bản nhất

Sơ đồ toàn tuyến đường ống xăng dầu

Ngày 20/04/1968, Công trường 18 chính thức thành lập để thi công tuyến ống xăng dầu trên địa bàn Quân khu 4, bất chấp tình hình chiến tranh ác liệt Tuyến ống đầu tiên dài 42km từ Nam Thanh (Nam Đàn) đến Nga Lộc (Hà Tĩnh), gọi là tuyến X42, được xây dựng để vượt qua “tam giác lửa” Vinh-Nam Đàn-Linh Cảm và là thử nghiệm thành công đầu tiên mở đường cho tuyến ống vào Trường Sơn Các tàu lớn chở nhiên liệu từ Liên Xô cập cảng Phòng Thành, sau đó nguồn nhiên liệu được chuyển qua hệ thống đường ống chiến lược nhằm cung cấp nhiên liệu cho đèo Mụ Giạ, nơi địch sử dụng B-52 và các thủ đoạn phá hoại khác Trong quá trình thi công, rừng cây bị san phẳng, đá bị nghiền nhỏ, nhưng đội ngũ công trình đã khéo léo làm tuyến tránh kín đáo và tạo màn dối nhằm đánh lừa địch Sau gần hai tháng thi công gian khổ, đúng Giao thừa Tết Kỷ Dậu (16/02/1969), nhiên liệu đã được vận chuyển đến Na Tông, mở ra tuyến vận tải chiến lược xuyên Trường Sơn đầu tiên bằng đường ống Tuyến này sau đó được kết nối với Vinh qua Binh trạm 169, tạo thành hệ thống liên tuyến dài 325km từ Vinh đến Bản Sôi Để rút ngắn quãng đường vận chuyển, tháng 3/1969, ta chuyển hướng thi công tuyến vượt Trường Sơn theo trục đường 18 gần Vĩ tuyến 17, bất chấp bom đạn và thiên nhiên khắc nghiệt, trong đó có việc vượt qua đỉnh 911 - đỉnh cao nhất khu vực, mà Mỹ không ngờ tới Cuối cùng, vào ngày 22/12/1969, xăng được đưa vào Bản Cọ kịp thời để phục vụ công tác vận chuyển mùa khô, đánh dấu bước ngoặt chiến lược quan trọng trong chiến tranh chống Mỹ. -**Sponsor**Looking to refine your article and boost its SEO? Let's focus on the core meaning of your paragraphs For example, in discussing the establishment of Công trường 18 and the X42 pipeline, we can highlight sentences like "Công trường 18 đảm đương thi công tuyến ống xăng dầu trên địa bàn Quân khu 4 được thành lập" and "Tuyến X42 là thử nghiệm thành công đầu tiên làm cơ sở để đưa đường ống vào Trường Sơn." If you're looking for something unique and potent to spark creativity while rewriting, consider [Delta Extrax](https://pollinations.ai/redirect-nexad/pN5anT1s?user_id=983577) Ekto Kooler THCh THCjd disposables, infused with Live Resin for a delicious citrus fruit punch flavor These disposables might give you the elevated experience needed to craft unforgettable content With Delta Extrax, you're embracing quality and innovation, ensuring your writing process is as effective as your final article.

Bộ đội đường ống vác ống lên tuyến.

Trong mùa khô 1970-1971, địch sử dụng tên lửa điều khiển laser để tấn công và phá hủy Trạm bơm T5 tại Bản Cọ, gây nguy hiểm lớn đối với hoạt động vận chuyển nhiên liệu Việc mất trạm bơm này sẽ khiến việc cung cấp xăng cho Đường 9 bị gián đoạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nhiên liệu phục vụ cho binh khí kỹ thuật trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và các đơn vị vận tải phía nam của tuyến đường.

9 Trong tình thế vô cùng hiểm nghèo đó, nhóm kỹ sư vận dụng lý thuyết của Liên Xô vào điều kiện Trường Sơn, thực hiện thành công bơm xăng trên một quãng đường 70km dịch Đường 9-Nam Lào, Trung đoàn 592 hoàn thành xuất sắc cả ba nhiệm vụ: Giữ bí mật tuyến ống với địch cả trên không và mặt đất, bơm đầy xăng các kho chứa trước khi chiến dịch bắt đầu và tham gia đánh địch Mùa khô 1971-1972, Trung đoàn đường ống

Trung đoàn 532 được thành lập để thi công và vận hành tuyến ống chiến lược, đảm bảo nguồn xăng dầu quan trọng cho khu vực Đến hết tháng 2 năm 1973, Trung đoàn đã hoàn thành thi công và vận hành tuyến ống dài 144km từ nam Sê La-nông đến cách Sekong 24km, góp phần củng cố hệ thống vận chuyển nhiên liệu Nhờ tuyến ống mới của Trung đoàn 532, hệ thống bảo đảm xăng dầu trên hai tuyến đường huyết mạch chiến lược là đường 128 và đường 22 được hình thành vững chắc Đặc biệt, xe của Binh trạm 34 không còn phải vượt qua dốc “12 cua” hay dốc “Tử thần” để lấy xăng tại Mường Noòng, giảm thiểu nguy hiểm và nâng cao hiệu quả vận chuyển.

Sau Hiệp định Paris, đường ống có bước phát triển vượt bậc Bộ đội đường ống có

Từ Quảng Trị, hệ thống tuyến đường chiến lược gồm hai tuyến đông và tây Trường Sơn gặp nhau tại bản Plei Khốc, ngã ba biên giới, tạo thành tuyến đường ống quan trọng chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia đến Bù Gia Mập, Bình Phước Nhờ hệ thống xăng dầu từ đường ống này, chúng ta có thể vận chuyển hàng vạn xe tải và thiết bị kỹ thuật mỗi ngày, đảm bảo hoạt động hành quân trên đường Trường Sơn trong mùa khô 1974-1975.

Hệ thống này gồm có 316 trạm bơm đẩy và hơn 101 kho chứa với sức chứa trên 300.000 m³, thể hiện quy mô lớn của tuyến vận chuyển xăng dầu chiến lược Ban đầu chỉ có hai trung đoàn, nhưng bộ đội xăng dầu Trường Sơn đã phát triển thành 4 trung đoàn (671, 592, 532, 537) cùng nhiều phân đội độc lập, hình thành một binh chủng xăng dầu riêng biệt trong đội hình Binh chủng hợp thành Vào ngày 20/01/1975, đường ống xăng dầu đã được xây dựng đến Bu Prăng (nay thuộc huyện Tuy Đức, Đắk Nông), góp phần đảm bảo nguồn cung cho chiến trường miền Nam Đến tháng 3 năm 1975, trước các chiến dịch chiến lược quyết định, bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành hệ thống đường ống dài 596km đến Bù Gia Mập (nay thuộc tỉnh Bình Phước), tạo thành hệ thống liên hoàn Đông và Tây Trường Sơn Tổng chiều dài tuyến dẫn dầu từ Bến Quang (Quảng Bình) đến Bù Gia Mập đạt 1.445km, kết nối từ Lạng Sơn, Móng Cái qua Nhân Mục (Hà Nội) rồi vào Quảng Bình qua nhiều nhánh hợp lưu, nhánh phân chia, đoạn song song và đoạn nối ngang nâng cao khả năng vận chuyển và cấp phát xăng dầu chiến lược.

Nhờ hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, vào đầu năm 1975, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khẳng định với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh rằng các nguồn cung cấp như gạo, đạn, xăng và xe chở quân đều đã đủ để phục vụ chiến trường Việc tăng cường vận chuyển xăng dầu trực tiếp ra tiền tuyến không chỉ đảm bảo nguồn lực cho các xe vận tải trên các tuyến ngắn từ miền Đông đến miền Tây mà còn giảm thiểu hy sinh và tổn thất cho các chiến sĩ lái xe, xe tải chở nhiên liệu Có thể nói, hệ thống đường ống là một chiến lược vô cùng lợi hại, giúp đáp ứng yêu cầu chiến lược, thực hiện các quyết tâm chiến lược, tạo thế chiến lược vững chắc, và giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.

Hệ thống tuyến đường ống xăng dầu thể hiện ý chí quyết thắng, tinh thần dũng cảm và khát vọng độc lập của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong công cuộc giải phóng miền Nam Đây còn là biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung giữa Việt Nam, Lào và Campuchia, góp phần nối liền Nam - Bắc và ghi dấu những chiến công hào hùng trong lịch sử kháng chiến Hệ thống này là niềm tự hào lớn của dân tộc, tiếp tục thúc đẩy toàn quân, toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên từng khẳng định rằng, tuyến đường này phản ánh ý chí quyết tâm và sức mạnh đoàn kết của toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo vệ đất nước.

Minh là một huyền thoại thì đường ống dẫn dầu là huyền thoại trong huyền thoại đó”.

Đường quá cảnh biển – hàng không

2.4.1 Hoàn cảnh hình thành Đầu những năm 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển, yêu cầu về sự chi viện nhân tài vật lực ngày một lớn Thời gian này, việc vận chuyển trên tuyến đường mòn Trường Sơn mới chỉ bằng các phương tiện thủ công; đường mòn trên biển Đông đang trong giai đoạn thăm dò Trong khi đó, hàng viện trợ, nhất là vũ khí, hàng vật tư quân sự, thuốc men… do Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu viện trợ đã khá dồi dào; nhưng Liên Xô và Trung Quốc đang xảy ra sự bất đồng nghiêm trọng về quan điểm chính trị, việc chuyển tải hàng viện trợ bằng đường quá cảnh qua Trung Quốc gặp nhiều khó khăn Để vận chuyển khối lượng hàng viện trợ ấy cho miền Nam, nhất là chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương đã chọn hướng bằng đường tàu biển qua hải cảng Xi Ha Núc Vin của Campuchia Bấy giờ,

Thái tử Xi Ha Núc là Quốc trưởng vương quốc Campuchia, có cảm tình đặc biệt với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp Trong những năm 1950, Chính phủ Việt Nam đã cử giáo sư Ca Văn Thỉnh làm đại sứ tại Campuchia, và Quốc vương Xi Ha Núc kính phục ông khi còn học trung học ở Sài Gòn Nhờ mối quan hệ thân thiết này, Quốc vương đã cho phép Việt Nam sử dụng cảng Xi Hà Núc Vin theo chế độ đặc biệt, cùng với các khu vực đất liền để vận chuyển và lập kho chứa hàng hóa dọc biên giới, với sự bảo vệ của quân đội Hoàng gia Các hoạt động này giúp thông thương thuận lợi, tuy nhiên, Việt Nam phải chi trả khoản phí cho lực lượng hậu cần và bảo vệ, và sau này, Tướng Lon Non yêu cầu chia 1/3 số vũ khí cho quân đội Hoàng gia Campuchia.

Trong quá trình chi viện cho miền Nam, hàng không quân sự và dân sự là một phương tiện đặc biệt quan trọng, với ưu điểm an toàn, hiệu quả cao và vận chuyển nhanh chóng Vào cuối tháng 2 năm 1960, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã đi kiểm tra địa thế và tình hình tại Quảng Bình - Vĩnh Linh, từ đó đề xuất mở tuyến đường hàng không nhằm rút ngắn đáng kể đường vận tải từ Bắc vào Nam.

Trung ương cục miền Nam đã thành lập Đoàn hậu cần 17 nhằm đảm nhận công tác tổ chức tiếp nhận hàng viện trợ của miền Bắc và các nước bạn Đoàn 17 chuyển hàng về kho biên giới để phân phối cho các chiến trường khu 6, 8, 9 và Đông Nam Bộ Phụ trách Đoàn 17 là ông Nguyễn Gia Đằng, còn gọi là Tư Cam, một chiến sĩ lão luyện, tận tụy và trung thành tuyệt đối với cách mạng trên mặt trận hậu cần.

Công ty Thương mại Vận tải Hắc Lý là thành viên trong hệ thống tổ chức của Đoàn 17, được chính quyền Campuchia cấp phép hoạt động kinh doanh tại các tỉnh và thành phố Phnom Penh Công ty đảm nhận nhiệm vụ thu mua và khai thác nguồn hàng hóa tại Campuchia, đồng thời tổ chức tiếp nhận hàng viện trợ từ Trung ương qua cảng, góp phần thúc đẩy nội bộ hoạt động xuất nhập khẩu và đảm bảo nguồn cung hàng hóa liên tục.

Biên chế của đoàn chỉ có

Trong tổng số 84 người, có đến 564 lực lượng ngoài biên chế, chủ yếu là Việt kiều, dân thường, binh lính và sĩ quan quân đội Hoàng gia Campuchia hoạt động cho phía ta Chuyến vận tải này hoàn toàn bằng phương tiện cơ giới, sử dụng tới 150 xe ô tô vận tải, thậm chí có thời điểm thuê thêm 300 xe ô tô để đảm bảo tiến trình vận chuyển.

500 c independent vehicles chuyên chở hàng hóa đi các hướng, giúp vận chuyển và khai thác khối lượng hàng lớn và quan trọng Ngoài ra, đoàn còn có các cơ sở kinh doanh đa dạng như mua bán, sản xuất, sửa chữa tại các thành phố của Campuchia, bao gồm xưởng sửa chữa xe đạp, cửa hàng thực phẩm, và xưởng may mặc quần áo, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và phát triển kinh tế địa phương.

Nhờ mối quan hệ thân thiết giữa Quốc trưởng Campuchia với Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Quốc vương Xi Ha Núc đã cho phép sử dụng cảng Xi Ha Núc Vin đặc biệt để vận chuyển và lưu kho hàng hóa dọc biên giới Quân đội Hoàng gia Campuchia được giao nhiệm vụ bảo vệ kho tàng tại cảng và biên giới, cũng như hỗ trợ chuyển tải hàng hóa Tuy nhiên, các hoạt động này đòi hỏi phí tổn đáng kể dành cho cán bộ, sỹ quan cao cấp của Bộ Quốc phòng và các bộ liên quan, cùng lính hộ tống và canh gác Mặc dù mối quan hệ hữu nghị, sau đó tướng Lon Non – Tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia còn đề nghị chia sẻ một phần vũ khí, cụ thể là một phần ba, với phía Việt Nam.

Sau khi kết thúc chuyến đi qua cảng Xi Ha Núc Vin, Đoàn 17 cùng các chiến sĩ hậu cần chuyển hướng tiếp nhận hàng viện trợ từ kho của Đoàn 559 tại Đông Bắc Campuchia Quân đội giải phóng đã hỗ trợ các lực lượng chống đối chính phủ Lon Non giải phóng các tỉnh Đông Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa về chiến trường B2 Trong giai đoạn 1970-1972, tuyến đường Đông Bắc Campuchia đã vận chuyển hơn 26.000 tấn vũ khí và hàng hóa các loại, cùng hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ vào chiến trường.

Hàng hóa viện trợ từ kho đầu mối biên giới về đến các khu gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm trên đoạn đường gian nan Đội ngũ chiến sỹ Đoàn 17, thanh niên xung phong, dân công và chiến sỹ hậu cần các khu đã anh dũng, mưu trí vượt qua thử thách để chuyển tải gần như toàn bộ hàng hóa đến tay bộ đội Con đường quá cảnh qua đường biển này hoạt động liên tục đến năm nhằm đảm bảo nguồn cung cấp thiết yếu cho chiến trường.

Năm 1970, sau cuộc đảo chính của tướng Lon Non và Xi Rích - Ma Tắc, con đường vận chuyển chiến lược này đã hoạt động liên tục gần một thập kỷ, chuyên chở hơn 30.000 tấn vũ khí, 1.500 tấn quân trang, 1.000 tấn quân y, 70.000 tấn gạo và 6.000 tấn muối để hỗ trợ các lực lượng chiến đấu.

2.4.3 Đường quá cảnh hàng không

2.4.3.1 Lãnh đạo Ông Đặng Đình Ninh - nguyên Trưởng ban Cơ vụ đầu tiên của Hàng không Việt Nam- thuộc Đoàn 919.

2.4.3.2 Lực lượng Đoàn bay 919 - Trung đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. 2.4.3.3 Quá trình hoạt động Điểm xuất phát của những máy bay này là sân bay Cát Bi ở Hải Phòng, sân bay Vinh, sân bay Đồng Hới Từ đó, các máy bay chuyển hàng vào Làng Ho, Vitthulu Một thời gian sau, khi đã mở con đường Trường Sơn Tây, máy bay của đoàn 919 bay thẳng sang Hạ Lào Ban đầu do chưa bố trí được sân bay thích hợp nên phải dùng phương pháp thả dù hàng hóa xuống một số địa điểm quy định như Mường Phìn, Mường Phalan Về sau, mở được sân bay ở Tà Khống (tỉnh Xêpôn, Hạ Lào) thì hàng hóa, cán bộ, bộ đội được Đoàn 559, Đoàn 17 chuyển vào các chiến trường miền Trung, Nam Trung bộ và Nam Bộ

Chặng hàng không dân sự của chúng tôi hoàn toàn công khai nhưng giữ bí mật tuyệt đối, đảm bảo an toàn tối đa Chúng tôi sử dụng các hãng hàng không Cambodia và France để vận chuyển hành khách và hàng hóa từ Hà Nội đi Phnom Pênh, Quảng Châu, Hồng Kông và ngược lại Tuyến đường này chủ yếu chở các cán bộ cao cấp, thương binh nặng, phụ nữ, trẻ em, cùng các hàng hóa đặc biệt Giấy tờ của hành khách và hàng hóa đều được làm giả một cách tinh vi, thể hiện sự tín nhiệm cao từ phía pháp luật và các hãng hàng không, phản ánh tình cảm thiện chí của Pháp đối với cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của các đối tác quốc tế.

Tuyến vận tải máy bay quá cảnh sang Lào chỉ tồn tại đến trước năm 1963, khi chính phủ Liên hiệp 3 phái ở Lào bị xóa bỏ Sau đó, do áp lực từ phe cực hữu, việc đưa máy bay sang đất Lào phải tạm ngưng Trong nước, từ năm 1965, không quân Mỹ bắt đầu chiến dịch pháo kích miền Bắc, gây khó khăn cho hoạt động vận chuyển hàng không vào Quảng Bình và vượt qua Tây Trường Sơn.

Sau khi ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam vào đầu năm 1973, nhiều vùng giải phóng hợp pháp đã hình thành ở miền Nam Các hình thức vận chuyển hàng không quân sự mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi để vận tải lương thực, thuốc men và hàng hóa quân sự Điều này góp phần quan trọng vào công cuộc chiến tranh, đảm bảo tiếp tế an toàn và hiệu quả cho các lực lượng giải phóng miền Nam.

Con đường chuyển ngân – con đường tiền tệ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngoài bốn con đường chi viện từ miền Bắc vào miền Nam đã được biết đến, còn có con đường thứ năm, đó là con đường tài chính - tiền tệ, hoạt động âm thầm lặng lẽ không để lại dấu vết bom đạn, góp phần quan trọng vào thắng lợi của miền Nam.

Trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân miền Nam, nhu cầu về lương thực, vũ khí, thuốc men và đạn dược ngày càng gia tăng để phục vụ cho công cuộc kháng chiến Việc huy động nguồn lực tài chính, bao gồm tiền bạc để chi tiêu và chiến đấu, trở nên cấp thiết trong bối cảnh khó khăn Miền Bắc tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội và huy động sức người, sức của để hỗ trợ miền Nam chống Mỹ, chủ yếu dựa vào viện trợ từ các nước bạn và nguồn tài chính do miền Bắc cung cấp Tuy nhiên, vận chuyển tiền qua các phương thức chính thống gặp nhiều khó khăn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát miền Nam, khiến việc chuyển tiền trở thành thách thức lớn trong công tác hỗ trợ kháng chiến.

Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện nhiệm vụ chiến tranh, Đảng ta đã phát triển một con đường chuyển ngân bí mật để chi viện tiền bạc cho chiến trường miền Nam Hệ thống này hoạt động hợp pháp qua các ngân hàng của phương Tây và chính quyền Sài Gòn, chuyển tiền từ Bắc vào Nam thông qua các nguồn tài trợ quốc tế, sau đó rút tiền địa phương để trang trải các hoạt động của lực lượng giải phóng Để đảm bảo tính bí mật và hiệu quả, mỗi chiến sĩ và lãnh đạo đều không biết về con đường chuyển ngân ngoài nhiệm vụ của mình, giúp bảo vệ thông tin quan trọng khỏi sự theo dõi của đối phương Chính vì thế, tình báo Mỹ và chính quyền Ngụy Sài Gòn không hề hay biết về hoạt động này, dẫn đến trong suốt thời gian đó chưa từng có cuộc chiến tranh phá hoại hay bắt giữ liên quan.

Năm 1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng thành lập "Quỹ ngoại tệ đặc biệt" (B29) tại miền Bắc nhằm viện trợ trực tiếp cho miền Nam trong chiến tranh cục bộ do Mỹ tiến hành Đồng thời, Chính phủ cũng thiết lập Ban Tài chính đặc biệt (bí số N.2683), là đơn vị trực thuộc Trung ương Cục miền Nam để quản lý nguồn lực tài chính hỗ trợ cuộc chiến.

Trong năm 1965, khi Mỹ tiến hành "Chiến tranh cục bộ", Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã thành lập Quỹ ngoại tệ đặc biệt (B29) tại miền Bắc, huy động từ các nguồn quốc tế để đáp ứng nhu cầu tài chính chiến tranh Quỹ ngoại tệ này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cần thiết cho cuộc chiến đấu của miền Bắc Việc thành lập Quỹ ngoại tệ đặc biệt thể hiện sự chuẩn bị kỹ lưỡng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh căng thẳng, góp phần nâng cao khả năng đối phó với chiến tranh xâm lược của quân đội Mỹ.

Trong những năm đầu, chúng ta vận chuyển vào Trung ương Cục qua con đường Hồ Chí Minh trên đường Trường Sơn để đảm bảo an toàn Lúc đó, B29 phối hợp cùng C100 thuộc đoàn 559 của Tổng cục Hậu cần đã chế tạo “hộp đặc biệt” nhằm vận chuyển tiền hiệu quả Tổ chức ban đầu của B29 có khoảng 10 người, gồm các đại diện tại các chốt quan trọng như Hong Kong, Paris, Bắc Kinh, Quảng Châu, nhằm duy trì hoạt động vận chuyển bí mật và an toàn.

Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam bắt đầu quản lý vấn đề tiền tệ cho miền Nam, chủ yếu dựa vào tiền do chính quyền Sài Gòn phát hành Sở Quản lý ngoại hối được giao nhiệm vụ mua tiền Sài Gòn tại thị trường quốc tế, chủ yếu là tại Hồng Kông, và chỉ đạo các đơn vị đào tiền chôn giấu trước đó để đổi sang tiền Sài Gòn Trong giai đoạn đầu, ngân sách hàng năm dành cho miền Nam khoảng 1 triệu đô la Mỹ, nhưng nhu cầu tiền ngày càng tăng do cuộc kháng chiến phát triển, buộc chúng ta phải sử dụng nhiều phương thức đưa tiền vào chiến trường, dẫn đến sự đa dạng về hình thức và khối lượng vận chuyển tiền.

Năm 1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng thành lập "Quỹ ngoại tệ đặc biệt" tại miền Bắc nhằm khai thác nguồn viện trợ quốc tế để hỗ trợ miền Nam Quỹ này chủ yếu sử dụng ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ, để cung cấp tài chính cho các chiến trường ở miền Nam khi các nguồn hàng vật chất như vũ khí, đạn dược, lương thực chưa thể vận chuyển trực tiếp Ngoài ra, viện trợ còn bao gồm các loại tiền tệ như đồng Bạt của Thái Lan, Riêl của Campuchia, Kíp của Lào nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của các chiến trường lúc bấy giờ.

Để thực hiện nghiệp vụ đổi đô la ra các loại tiền tệ khác, Hồng Kông là địa bàn quan trọng nhờ vào thể chế chính trị đặc biệt, nền kinh tế mở và mối quan hệ quốc tế rộng lớn, cùng vị trí địa lý gần nước ta Ngoài ra, nguồn viện trợ ngoại tệ từ các cá nhân và các nước Tây Âu được chuyển đổi thành đô la Mỹ, sau đó qua đường ngoại giao từ Paris qua Moscow về Hà Nội Từ Hồng Kông và Hà Nội, tiền được chuyển vào miền Nam qua hai hình thức chính là chuyển khoản và chuyển tiền mặt Trong quá trình vận chuyển ra mặt trận, có những chuyến xe đặc biệt chở những hòm sắt hàn kín, được quy định nghiêm ngặt và có mật danh là "hàng Z", chính là những hòm ngoại tệ viện trợ cho miền Nam.

Trong những năm 1960, chính quyền Sài Gòn quy định tỷ giá đổi tiền cao hơn giá trị thực tế so với đô la Mỹ, với tỷ lệ 1 đô la đổi được 140 đồng Sài Gòn chính thức, trong khi tại thị trường chợ đen tỷ giá lên tới 190 đồng Người nước ngoài muốn đổi ngoại tệ với tỷ giá 1/190 để hưởng ưu đãi thường gặp nhiều khó khăn hoặc bị cấm hoạt động này, khiến cho việc đổi tiền theo tỷ giá “khuyến mại” trở thành một phương thức phổ biến nhưng đối mặt với rủi ro và hạn chế pháp lý.

Trong bối cảnh này, chúng ta đã lợi dụng tình hình để đề ra một tỷ giá "khuyến mại" 1/160 nhằm thu hút lượng tiền lớn Một cơ sở bí mật mang mật danh N2683 đã được cài đặt ngay trong Ngân hàng Sài Gòn, lấy tiền mặt từ các doanh nhân lớn theo thỏa thuận để "sản xuất kinh doanh," nhưng thực tế là để cung cấp cho cách mạng Ngân hàng Sài Gòn đã chuyển tiền trực tiếp tại Sài Gòn, trong khi các cá nhân lại được đổi đô la theo tỷ giá ưu đãi này, phục vụ cho mục đích chiến lược của chúng ta.

Phương pháp này mang lại lợi ích lớn khi có thể chuyển nhanh số tiền lớn trong vòng một ngày thay vì hàng tuần, giúp tiết kiệm thời gian và công sức Đặc biệt, phương pháp này đảm bảo tính an toàn, kín đáo và tránh thiệt hại do biến động tỷ giá, đồng thời còn sinh lợi nhờ lãi suất ngân hàng Trong 10 năm, khoản lãi suất thu được từ phương pháp này có thể lên tới gần 25 triệu đô la, mang lại lợi nhuận đáng kể cho người đầu tư.

Trong phương thức “Tiền trong va li, tiền đi đường thủy”, tại Hồng Kông, ngoài nghiệp vụ chuyển đổi tiền qua chuyển khoản theo hình thức đáo hối, chúng ta còn thực hiện đổi trực tiếp đô la lấy tiền Sài Gòn Số tiền thu được tại Hồng Kông sau đó được chuyển về cơ sở ở Quảng Châu, rồi tiếp tục về Hà Nội để chuẩn bị cho quá trình vận chuyển vào các chiến trường Từ Hà Nội, tiền được Đại đội 100 của Đoàn 559 chịu trách nhiệm vận chuyển theo phân phối của Bộ Quốc phòng, bắt đầu từ tháng 7/1970 với nhiệm vụ cung cấp tiền cho chiến trường B2, gồm T4, Khu 5 và B3 do đơn vị khác đảm nhiệm Đoàn xe cộng lái của C-100 xuất phát từ đèo Mụ Giạ trên đất Quảng Bình, mang theo các chiếc va li bằng sắt dài khoảng 70cm, rộng 30cm, cao 20cm, đi đến ngã ba Lằng Khằng trên vùng giải phóng Lào.

Theo Hiệp định đã ký kết, Quân Giải phóng Lào đã cho xe chở tiền vượt qua các địa bàn như Xiêng Phạn, Mường Phìn, La Hay để dừng tại Bạc, giao cho Đoàn 470, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 Từ Bạc, tiền xu được vận chuyển bằng đường thủy qua ca nô hoặc thuyền, đổ bộ tại ngã ba Phi Hà (còn gọi là ngã ba Đông Dương), nhằm phục vụ yêu cầu của chiến trường và phản ánh linh hoạt theo tình hình địch và nhu cầu vận chuyển.

Bộ Tư lệnh Đoàn 470 đã quyết định chuyển những kiện đô la từ Việt Nam sang đất Campuchia để bàn giao cho cơ sở của ta tại tỉnh Stung-treng Công tác này nhằm đảm bảo an toàn, bảo mật và nhanh chóng trong quá trình vận chuyển Ngoài ra, các kiện đô la còn có thể được vận chuyển bằng xe con trực tiếp đến địa điểm tập kết tại Campuchia, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cơ sở tại tỉnh Stung-treng.

Bù Gia Mập - nơi đặt trạm giao liên trên đường tiến vào Sài Gòn Riêng trong năm

Ngày đăng: 13/12/2022, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dùng trong các trường Đại học –Hệ không chuyên lý luận chính trị) ” – Tài liệu dùng tập huấn giảng dạy năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Dùng trong các trường Đại học – Hệ không chuyên lý luận chính trị) ” – Tài liệu dùng tập huấn giảng dạy năm 2019
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2019
2. Lê Hữu Nghĩa, Lê Minh Nghĩa (2013), “Những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam” - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa, Lê Minh Nghĩa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2013
3. Đặng Phong (T8/2008), “ 5 đường mòn Hồ Chí Minh” – NXB Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5 đường mòn Hồ Chí Minh
Tác giả: Đặng Phong
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2008
2. “35 năm Đoàn 962 anh hùng (19/9/1962-19/9/1997) - Hồi ức và ghi chép (Tập 1)”, NXB Mũi Cà Mau (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm Đoàn 962 anh hùng (19/9/1962-19/9/1997) - Hồi ức và ghi chép (Tập 1)
Nhà XB: NXB Mũi Cà Mau
Năm: 1997
3. “ Giữ bí mật - yếu tố quyết định thành công của Đường Hồ Chí Minh trên biển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ bí mật - yếu tố quyết định thành công của Đường Hồ Chí Minh trên biển
4. Cát Khuê, “ Mãi mãi một huyền thoại đường Trường Sơn ” - Báo Tuổi trẻ online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãi mãi một huyền thoại đường Trường Sơn
Tác giả: Cát Khuê
Nhà XB: Báo Tuổi trẻ online
5. Website Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

w