Theo Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/03/2008 được sửa đổi bởi Thông tư 16/2009/TT-NHNN ngà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ LẦN 3
TPHCM (T4/2022)
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: KHÁI NIỆM TÀI SẢN 1
Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh hoạ về giấy tờ có giá 1 Câu 2: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nh à” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? 3 Câu 3: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nh à” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao? 3 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan dến “giấy chứn
g nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nế
u có điều kiện, đối chiếu thêm pháp luật nước ngoài) 4 Câu 5: Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữ
u nhà có là tài sản không? Vì sao? 4 Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nh
ận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” 4 Câu 7: Bitcoin là gì? 5 Câu 8: Theo toà án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không? 5 Câu 9: Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà a nh/chị biết 5 Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Toà án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam 6 Câu 11: Quyền tài sản là gì? 6 Câu 12: Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản kh ông? 7 Câu 13: Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Toà án nhân dân tối cao theo hướng quyền thu
ê, quyền mua là tài sản? 8 Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao trong Quyết định s
ố 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)? 9
VẤN ĐỀ 2: CĂN CỨU XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU 9
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 11 Câu 2: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 11 Câu 3: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân đã chiếm hữu l iên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này củ
a Tòa án? 12
Trang 3Câu 4: Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn là chủ sở hữ
u nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 13 Câu 5: Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất có tranh chấ
p trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao? 13
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI TÀI SẢN 14
Câu 1: Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14 Câu 2: Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 15 Câu 3: Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi t
rả lời 15
Trang 4VẤN ĐỀ 1: KHÁI NIỆM TÀI SẢN Câu 1: Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh hoạ về giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Khác với tiền chỉ do Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ
có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…1
Theo Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/03/2008 (được sửa đổi bởi Thông tư 16/2009/TT-NHNN ngày 11/08/2009) của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước thì “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động
vốn, trong đó xác định nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”
Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP thì “Giấy tờ có giá bao
gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”
Tóm tắt quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/7/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà
Nguyên đơn: Ông Phan Hai
Bị đơn: Ông Phan Quốc Thái
Nội dung vụ việc:
Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án giữa nguyên đơn ông Phan Hai và bị đơn ông Phan Quốc Thái Vụ việc ông Phan Hai khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 23/7/1999 của Uỷ ban nhân dân huyện Diên Khánh mang tên Lương Thị Xàm Đình chỉ giải quyết án dân sự ngày 14/3/2017 và trả lại đơn kiện và các tài liệu
Trang 5Quyết định của Toà án:
Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Hai Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ngày 14/3/2017 và trả lại đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo
về việc “Đòi lại tài sản” cho ông Phan Hai
Tóm tắt bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 của Toà án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
Vụ án: “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
Nguyên đơn: Ông Võ Văn B, Bà Bùi Thị H
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thuỷ T
Nội dung vụ án:
Năm 2012 sau khi sửa nhà thì ông B và bà H dọn vào ở thì phát hiện mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Sau khi làm đơn cớ mất, ông B và bà H được uỷ ban nhân dân huyện Long Hồ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được nhận vì có người tranh chấp là bà T Bà T chỉ đồng ý trả lại khi ông B và bà H trả
số tiền 120.000.000đồng
Ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H khởi kiện bà Nguyễn Thị Thuỷ T với mục đích yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM090902 do uỷ ban nhân dân huyện Long Hồ cấp ngày 29/2/2008 cho hộ ông B
Quyết định của Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn B và bà Bùi Thị H buộc bà Nguyễn Thị Thuỷ T giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM090902
Câu 2: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” không được xem là giấy tờ có giá nhưng vẫn có những trường hợp như bản án số 39
2
Trang 6Theo quyết định số 06/2017/QĐ-PT thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá vì căn cứ theo Điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản, Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản và khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm
2003 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá Do đó việc ông Phan Hai khởi kiện yêu cầu ông Phan Quốc Thái trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Theo bản án số 39/2018/DSST thì giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nền thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Căn cứ khoản 2 Điều 4, khoản 14 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định yêu cầu đòi trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B và bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
Câu 3: Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
sở hữu nhà” không phải là tài sản
Trong quyết định số 06/2017/QĐ-PT đề cập như sau: “Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá”
Trong bản án số 39/2018/DSST thì không nêu rõ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản hay không
Vì căn cứ theo Điều 105, Điều 115 BLDS 2015 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản
Trang 7Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan dến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm pháp luật nước ngoài)
Theo tôi, hướng giải quyết của Toà án là chưa hợp lý Vì theo khái niệm tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS 2015 như sau:
“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, tuy nhiên hoàn toàn
có thể xem là vật, tồn tại dưới dạng là tờ giấy được dùng để chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất Việc coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản đã tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất đối với loại giấy tờ này, từ đó dẫn tới việc Toà án không có cơ sở để thừa nhận việc bảo hộ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một khi có tranh chấp.2
Câu 5: Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là tài sản Vì căn cứ Điều 105, Điều 115 Bộ luật dân sự 2015
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến
“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”
Hướng giải quyết của Toà án còn chưa rõ ràng, không xác định cụ thể mà chỉ nêu giấy chứng nhận quyền sử dụng là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền
2 Đỗ Thành Công, “Vai trò của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
4
Trang 8với đất nền thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự Việc quyết định của Toà án đưa ra với bà T là chưa thoả đáng (chỉ buộc trả lại giấy chứng nhận)
Câu 7: Bitcoin là gì?
Bitcoin là một loại tiền tệ kỹ thuật số được phát hành dưới dạng phần mềm mã nguồn mở Đồng tiền ảo này có thể được trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet
mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào
Câu 8: Theo toà án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?
Theo BLDS 2015 thì tài sản là tiền nhưng tiền ảo Bitcoin không phải là tiền tệ
và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán bao gồm: Séc, lệnh chi,
uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Phương tiện thanh toán không hợp pháp
là các phương tiện thanh toán không thuộc các đối tượng trên do vậy việc sử dụng bitcoin làm phương tiện thanh toán không được pháp luật bảo vệ
Câu 9: Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
Hiện tại Bitcoin chưa được hợp pháp ở nhiều nước song vẫn có một số nước coi Bitcoin là tài sản chẳng hạn như Hoa Kỳ Cơ quan thực thi phòng chống tội phạm tài chính của Bộ Tài chính Hoa Kỳ (FinCEN) đã ban hành hướng dẫn về Bitcoin từ năm
2013 Họ đã xác định Bitcoin không phải là tiền tệ, mà là một doanh nghiệp dịch vụ tiền (MSB) Điều này đặt nó theo Đạo luật Bảo mật Ngân hàng, yêu cầu các bộ xử lý trao đổi và thanh toán tuân thủ một số trách nhiệm nhất định như báo cáo, đăng ký và lưu giữ hồ sơ Ngoài ra, Bitcoin được phân loại là tài sản cho mục đích thuế bởi Dịch
vụ doanh thu nội bộ (Internal Revenue Service -IRS)
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Toà án đối với Bitcoin trong mối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam
Quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin là không công nhận Bitcoin là tài sản ở Việt Nam Nhưng có thể thấy theo khoản 1 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP, phương
Trang 9tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc các đối tượng trên Cũng tại Chỉ thị 10/CT-TTG Thủ tướng yêu cầu các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Công an… kiểm soát, ngăn chặn và xử lý việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền ảo trái pháp luật Chính vì vậy Bitcoin không phải là phương tiện được phép thanh toán trên thị trường Hay nói cách khác, Bitcoin không được phép dùng để thay thế tiền mặt hoặc phương tiện thay thế tiền mặt như séc, lệnh chi… trong các giao dịch mua bán Căn cứ vào Điều 105 BLDS 2015, thì tiền ảo không thuộc một loại tài sản nào Tuy nhiên, có thể hiểu tiền ảo
là một loại tài sản khác?
Có thể thấy rằng Bitcoin dù cho không được pháp luật Việt Nam quy định quá
rõ ràng về việc có phải là tài sản hay không nhưng qua các quy định trên cũng như khái niệm tài sản theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì ở nước ta trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa thể thừa nhận Bitcoin là một loại tiền tệ, một loại tài sản được
Câu 11: Quyền tài sản là gì?
Theo quy định của Điều 115 BLDS năm 2015 như sau: “Quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Hiện nay pháp luật dân sự Việt Nam
công nhận một số quyền tài sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ,… 3
3 Nguyễn Minh Oanh, “Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 1/2009, tr.15
6
Trang 10Câu 12: Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?
Từ khái niệm quyền tài sản BLDS năm 2015, quyền tài sản khác ở đây không nêu rõ, đối với quyền tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự phải đáp ứng được hai yêu cầu là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự, thì quyền thuê và quyền mua tài sản đều đáp ứng được cả 2 yếu tố nêu trên Tuy nhiên chưa có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản
Tóm tắt Quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Vụ án: “Tranh chấp chia tài sản chung việc mua hoá giá nhà”
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L
Nội dung vụ án:
Cha mẹ của bà H là cụ Nguyễn Thanh T và cụ Lâm Thị C có 3 đứa con chung là
bà H, ông Nguyễn Văn T1 và ông Nguyễn Văn T2 (có vợ là bà Hồ Thị H4 và có 4 người con chung là Nguyễn Hồ Thanh C1, Nguyễn Hồ Hoàng Đ, Nguyễn Thị An t2 và Nguyễn Thị Mỹ D) Từ năm 1976, cụ T chung sống với cụ Lê Thị T4 (khôngđăng ký kết hôn), khoảng đầu năm 1976, cụ T được Quân đội cấp căn nhà số 63 (tầng 2) đường
V, phường X 27/8/1995, cụ T chết không để lại di chúc, Nguyễn Thị L là con riêng của
cụ T4 đã đứng tên làm hợp đồng thuê căn nhà trên và xin mua hoá giá căn nhà Khi biết được việc làm này của bà L thì bà đã có đơn khiếu nại, bà H yêu cầu Tòa án chia nhà số 63 đường B theo pháp luật cho các thừa kế của cụ T bao gồm cụ T4, bà, ông T1, ông T2, bà L (nếu chứng minh được là con nuôi hợp pháp) và yêu cầu bà L hoàn trả tiền cho thuê nhà từ năm 1998 đến nay là khoảng 2.000.000.000 đồng Năm 1993, cụ T lập giấy ủy quyền cho bà L được trọn quyền giải quyết những việc có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với căn nhà số 63 đường B; cụ T viết rõ trong giấy ủy quyền là giấy ủy quyền có giá trị trong khi cụ còn sống và kể cả khi cụ chết