Khoa Luật Dân sự Lớp Luật Dân sự 46A2 BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ Giảng viên Nguyễn Nhật Thanh Nhóm 03 Thành viên 1 Mai Đức Hoàng 2153801012086 2 Phạm Thị Hồng 2153801012088 3 Nguyễ.
Trang 1Khoa Luật Dân sự Lớp Luật Dân sự 46A2
BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
Giảng viên: Nguyễn Nhật Thanh
Nhóm: 03
Thành viên
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng 4 năm 2022
Trang 2*Di sản thừa kế
Câu 1:
Điều 612 BLDS 2015 xác định: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
Di sản có bao gồm cả nghĩa vụ về tài sản của người quá cố, điều này được nhắc đến trong điều 615 “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” của BLDS 2015:
- Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi
di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
- Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi
di sản do người chết để lại
- Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
- Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân Câu 2:
Khi tài sản của người quá cố để lại bị thay thế bởi một tài sản khác thì tài sản này không được xem là di sản vì di sản được xác lập ngay tại thời điểm mở thừa kế, nếu tài sản của người quá cố bị thay thế thì sẽ không đúng với ý chí ban đầu của người để lại di sản và tài sản thay thế đó cũng không thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản trong khi đó luật có quy định “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Câu 3:
Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố không nhất thiết cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định tại khoảng 1 điều 188 Luật Đất đai 2013, trường hợp người sử dụng đất chết để lại di sản là bất động sản khi chưa được cấp Giấy chứng nhận mà có thừa kế, thì vẫn xác định di sản thừa kế nhưng cần căn cứ vào các yếu tố như người sử dụng đất đã có loại giấy tờ nào, có sử dụng đất ổn định không, có tranh chấp hay không…
để xác định đất đó có thuộc vào di sản thừa kế hay không Cụ thể:
Trang 3“1 Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền
sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Luật này
b) Đất không có tranh chấp
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án
d) Trong thời hạn sử dụng đất.”
Câu 4:
Trong Bản án số 08, Toà án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản thể hiện ở đoạn nhận định của tòa án:
“từ lập luận trên, có căn cứ để xác định tài sản của ông Hòa và bà Mai gồm: ½ giá trị nhà và sân tường bao loan…85m2 chưa được cấp giấy chứng nhận sau khi trừ đi nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước 1.966.500.000…” và “đây vẫn là tài sản của ông Hòa, bà Mai tuy nhiên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.”
Câu 5:
Theo em, hướng giải quyết trên của tòa là hợp lý do phần đất kể trên là do gia đình ông Hòa và bà Mai sử dụng sau khi trạm điện của nhà nước được di dời, hộ ông Hòa
đã quản lý, sử dụng ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng, không có tranh chấp, không thuộc diện đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phía trước ngôi nhà và lán bán hàng của hộ ông Hòa Ngoài ra trong bản án có đề cập việc ông Hòa có thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà nước nên quyết định của tòa án là hợp tình hợp lý
Câu 6:
Ở án lệ 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của ông Phùng Văn N để
là ½ trong tổng diện tích đất, tức 189 m2 Vì tài sản này hình thành trong thời kì hôn nhân
Căn cứ pháp lý: Điều 612 BLDS 2015
Câu 7:
Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản, không đưa tài sản đã bán vào khối tài sản để chia là có căn cứ Tòa
án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã
Trang 4bán cho ông Phùng Văn K) để chia là không đúng Vì tài sản ở lúc mở thừa kế là di sản, tuy nhiên phần di sản này đã được bán trong sự đồng ý của của các đồng thừa kế, cho nên nó không còn là di sản mà những người thừa kế nữa được hưởng nữa, vì nó
đã được chuyển giao quyền sử hữu cho người khác, không còn nằm trong khối tài sản được coi là di sản còn lại nên không thể mang ra chia
Câu 8:
Suy nghĩ của em về hướng giải quyết trong án lệ liên quan đến phần đất chuyển nhượng cho Ông Phùng Văn K là hoàn toàn toàn thuyết phục Phần đất mà Ông K được chuyển nhượng nằm trong khối di sản nhưng đã được chuyển nhượng theo đúng quy định pháp luật, đáp đứng đầy đủ các điều kiện của giao dịch dân sự Diện tích đất được chuyển nhượng cho ông K được xác lập với người thừa kế, đồng thời cũng là người quản lý di sản theo quy định của pháp luật với mục đích là để chăm lo cho cuộc sống của các người thừa kế là bà Phùng Văn G, đã được sự đồng ý của các thừa kế khác Năm 1999 bà Phùng Thị G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2 Nay ông Phùng Văn K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, hướng giải quyết của án lệ và thuyết phục và phù hợp với pháp luật
Câu 9 :
Trong trường hợp bà Phùng Văn G chuyển nhượng đất không phải để chăm lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho cá nhân thì số tiền đó vẫn được coi là di sản Vì căn cứ vào Điều 612 BLDS 2015: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác Tài sản 398m2 này hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên đó là tài sản chung của ông N và bà G, dĩ nhiên khi bà G bán một phần đất thành tiền thì tiền đó cũng là tài sản chung Vậy nên
số tiền bà G bán được từ 131m2 trong 398m2 cũng được coi là di sản để chia
Câu 10:
Ở thời điểm bà G chết thì di sản còn lại của bà trong mảnh đất chung của vợ chồng là 133,5m2 ứng với 267m2 , được thấy trong bản án ở đoạn “Do đó, phần di sản của bà Phùng Thị G để lại là khối tài sản được chia theo di chúc …”
Câu 11:
Việc Tòa án quyết định phần còn lại di sản của bà G là 43,5 m2 là thuyết phục dựa trên 2 yếu tố :
+ bà G đã để lại di chúc về 90m2 trong tài sản 133,5m2 cho chị H theo bản án và được coi là hợp pháp theo điều 630 BLDS 2015
+ vì trong di chúc thì sau khi định đoạt 90m2 trong 133,5 m2 tài sản của bà thì vẫn còn lại 43,5 m2 chưa được định đoạt thì dựa trên điều 650 khoản 2a BLDS2015 để chia thừa kế theo pháp luật
Trang 5Đây là nội dung Án lệ 16 thể hiện ở đoạn trích: ” Bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất trong tổng 267m2 đất chung của vợ chồng Do đó phần di sản của
bà G là ½ tài sản ( 133,5m2) được chia theo di chúc là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia theo cho 5 kỷ phần còn lại … Nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiệp tục quản lý, sử dụng” Ta thấy phiên tòa Gíam đốc thẩm nhận định
vụ việc và đưa ra hướng giải quyết như trên là thuyết phục theo quy định của pháp luật
Câu 12:
Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43.5m2 đất là không thuyết phục
Căn cứ điều 651 BLDS 2015:
“1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,
em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Từ đấy dựa vào khoản 1 a) ta thấy phần di sản mà ông N để lại sẽ được chia đều 7 phần gồm bà G và 6 người con Phân di sản của ông N là ½ diện tích còn lại 267m2, tức là 133.5m2 Phần này chia cho 7 đồng thừa kế, như vậy mỗi người nhận 19,07m2 đất Do đó, tổng diện tích đất mà bà G sở hữu sau khi nhận thừa kế là 62,57m2
Đây không là nội dung của Án lệ số 16 vì nội dung án lệ số 16 là để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa
kế chuyển nhượng
*Quản lý di sản
Câu 1:
Trích bản án: Quyết định của Toà:
Trang 6Giao cho anh Phạm Tiến H được quyền quản lý di sản thừa kế của ông Phạm Tiến Đ
và bà Đoàn Thị T gồm nhà, đất và tài sản trên đất mang tên bà Đoàn Thị T số 0010/QSDĐ/323/QĐUB do UBND huyện M cấp ngày 02/4/2004 tại Tiểu khu C, thị trấn nông trường M, huyện M, tỉnh Sơn La (Có sơ đồ trích đo hiện trạng khu đất kèm theo)
Việc xác định của Toà như vậy là thuyết phục Vì theo em, số đông hàng thừa kế thứ nhất đều nhất trí cử ông H là người quản lý di sản
(Theo khoản 1 điều 616 BLDS 2015.)
Câu 2 :
Trước khi chấp hành án, ông Thiện là người quản lý di sản Vì ông Thiện là người đang trực tiếp sinh sống tại nhà và đất, tiếp tục quản lý di sản của ông bà Đ T Căn cứ khoản 2 điều 616 BLDS 2015 thì đây là di sản không chỉ định người quản lý và những người thừa kế chưa cử được người quản lý (ông Thiện không nhất trí với những người thừa kế cử ông H là người quản lý) nên ông Thiện vẫn là người quản lý di sản
Câu 3 :
Việc Toà án giao cho anh H quyền quản lý di sản là thuyết phục Vì căn cứ điều 616 BLDS 2015 :”1 Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra
2 Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản
3 Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.”
Thì thứ tự người quản lý di sản là:
1.Được chỉ định trong di chúc;
2.Những người thừa kế thoả thuận cử ra;
3.Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý cho đến khi những người thừa kế cữ được người quản lý
Theo hàng thừa kế thứ nhất (trừ anh T) đã nhất trí cử anh H là người quản lý nên dựa trên quyền hạn của mình Toà đã giao quyền quản lý di sản cho anh H
Câu 4:
Trang 7Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản không có quyền tôn tạo, tu sửa lại di sản như trong Bản án số 11 Vì ông Đ và bà T chết không để lại di chúc nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 được thừa kế theo pháp luật và hưởng thừa
kế ở đây là theo thứ tự hàng thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi người chết, theo Bản án số 11 người hưởng thừa kế theo pháp luật sẽ là gồm 7 người con trong đó có anh H và anh T Căn cứ khoản 1 Điều 616 BLDS 2015 thì người quản lý di sản là người được chỉ định trong di sản hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra mà ở đây anh H được những người thừa kế chọn ra làm quản lý di sản nhưng căn cứ Điều 617 BLDS 2015 thì không nêu mà chỉ yêu cầu bảo quản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản
Cơ sở pháp lý: Điều 618,651 BLDS 2015; điểm a khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 Câu 5:
Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản không có quyền giao lại cho người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai) Vì căn
cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 616 BLDS 2015 thì giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế và anh T không phải người quản lý và chưa được sự đồng ý của các đồng thừa kế về việc giao lại cho con trai là anh N
Cơ sở pháp lý: Điều 616,651 BLDS 2015
Câu 6:
Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý không có quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục Vì căn cứ vào điểm b khoản
1 Điều 617 BLDS 2015 thì người quản lý tài sản là ông Nhỏ không có quyền định đoạt tài sản khi chưa có sự đồng ý của những người thừa kế
Cơ sở pháp lý: Điều 616, điểm b khoản 1 Điều 617 BLDS 2015
* Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế
Câu 1:
Ở Điều 623 BLDS 2015 đã cho ta biết ở Việt Nam có ba loại thời hiệu thừa kế, điều luật này quy định như sau:
“1 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc
về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
Trang 8b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này
2 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
3 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại
là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”
Câu 2:
Ở từng quốc gia khác nhau, họ sẽ có những quy định về thời hiệu yêu cầu chia di sản khác nhau Với BLDS của Pháp thì họ không áp dụng thời hiệu cho việc chia di sản, thể hiện qua Điều 815 của Bộ luật này, khi họ cho rằng sự phân chia tài sản có thể được thực hiện ở bất cứ thời điểm nào trừ trường hợp bị đình chỉ theo phán quyết hoặc thỏa thuận Còn ở BLDS của Lào, Điều 608 lại quy định: “Việc đòi thừa kế được thực hiện trong thời hạn ba năm, kể từ ngày chủ sở hữu di sản chết”
Câu 3:
Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là thời điểm mà cụ chết đó là năm 1972
Ở phần nhận định của Tòa án, Tòa đã cho rằng: “Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày
01-01-2017 Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật” Việc Tòa áp dụng khoản
4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990, đã cho thấy Tòa ghi nhận thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là vào năm 1972, trước thời điểm công bố Pháp lệnh Thừa kế
Câu 4:
- Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của
cụ T có cơ sở văn bản, đó là tại quy định khoản 1 điều 623 của BLSD năm 2015 đã nêu rõ thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản,
kể từ thời điểm mở thừa kế
- Theo em là thuyết phục Vì việc quy định thời hiệu 30 năm đối với bất động sản này
là hợp lý như việc trong quy định trong Điều 236 BLDS 2015, mà di sản của cụ T đa phần là bất động sản, đây là một tài sản có giá trị lớn nên việc chia thừa kế phải cần có
Trang 9một khoảng thời gian dài mà thời hiệu 30 năm là vô cùng hợp lý Việc kéo dài thời hiện là 30 năm đó sẽ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người hưởng thừa kế một cách tốt nhất
Câu 5:
- Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của
cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố chưa có cơ sở văn bản
Cụ thể là căn cứ vào khoản 1 Điều 623 BLDS 2015: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế” BLDS lấy thời hiệu 30 năm bắt đầu kể từ thời điểm mở thừa kế và không hề đề cập đến thừa kế mở trước khi ban hành Pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990 thì có áp dụng thời điểm bắt đầu là kể từ thời điểm mở thừa kế hay kể từ ngày công bố Pháp lệnh trên
-Theo em thì thuyết phục Vì Nội dung Án lệ là sự kết hợp giữa BLDS 2015 và khoản
4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990 Như vậy, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế từ ngày Pháp lệnh thừa kế năm 1990 công bố ngày 10/9/1990 Với quy định trên thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn, được Tòa án kéo dài thêm nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế, người dân cũng sẽ dễ tiếp cận được với công lý và có thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp về thừa kế Câu 6:
- Án lệ số 26/2018/AL cho ta cái nhìn về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản Cho thấy đây là một vấn đề hết sức phức tạp đặc biết khi có sự thay đổi giữa các thế hệ dẫn tới áp dụng sự thay đổi của luật pháp tạo sự khó khăn trong quá trình xác định Các quyết định của Tòa án đưa ra hầu hết phải xem xét trên nhiều khía cạnh để mang tính thuyết phục Đây có thể xem là một Án lệ hay vì tính thực tế thường xuyên xảy ra của nó
- Nhưng bên cạnh đó thì vẫn có vấn đề bất cập chưa thực sự rõ ràng đó là:
+ Viện dẫn điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015: “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của bộ luật này.” Nhưng khoản 1 Điều 688 được áp dụng đối với “giao dịch dân sự” Mà trong thừa kế thì có 2 loại đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo theo pháp, trong khi đó chỉ có thừa kế theo di chúc là giao dịch dân sự vì di chúc là một giao dịch dân sự, còn thừa kế theo pháp luật thì không phải
=>Vậy nên viện dẫn điều này làm căn cứ pháp lý là bất hợp lý
*Tìm kiếm tài liệu
Yêu cầu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản và pháp luật về thừa kế được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2018 đến nay Khi liệt kê, yêu cầu theo trật tự theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn những
Trang 10thông tin theo trật tự sau: 1) Họ và tên tác giả, 2) Tên bài viết để trong dấu ngoặc kép, 3) Tên Tạp chí in nghiêng, 4) Số và năm của tạp chí, 5) Số trang của bài viết (ví dụ: từ tr.41 đến 51) Các bài viết được liệt kê theo alphabet tên tác giả (không nêu chức danh)
- Những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản và pháp luật về thừa kế được công
bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2018 đến nay là:
1 Bạch Thị Nhã Nam, “Những bất cập của các quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”, Tạp chí Luật học, số 10/2018, trang 17-25
2 Bạch Thị Nhã Nam, “Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản”, Tạp chí Nghề luật, số 5/2018 – Năm thứ Mười Ba, trang 32-37
3 Bùi Ngọc Thanh, “Haonf thiện các chế tài để công khai, minh bạch tài sản và thu nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12 (364)/ Kỳ 2, tháng 6/2018, trang 35-40
4 Bùi Thị Thanh Hằng, Nguyễn Anh Thư, “Ảnh hưởng của một số học thuyết pháp lý đến chế định vật quyền trong Bộ luật Dân sự 2015”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
số 1/2017, trang 50-59
5 Cao Anh Nguyên, “Di sản dùng vào việc thờ cúng – nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử
và thi hành án (Kỳ 1)”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2018, tr.39-41
6 Cao Anh Nguyên, “Di sản dùng vào việc thờ cúng – nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử
và thi hành án (Tiếp theo kì trước và hết)”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/2018, tr.41-42
7 Cao Thị Kim Trinh, “Bình luận các sai sót trong quá trình kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thi hành bản án, quyết định kinh doanh thương mại”, Tạp chí Nghề luật, số 09/2020 – Năm thứ Mười Lăm, tr.57-60
8 Châu Thị Vân, “Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, số 1/2018, tr.33-42
9 Chu Thị Thanh An, “Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ của tổ chức tín dụng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2019, tr.25
10 Đặng Ngọc Dư, “Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự đối với việc thu hồi tài sản về tham nhũng, thu hồi tài sản cho nhà nước, việc thi hành án
có liên quan đến tổ chức tín dụng”, Tạp chí Kiểm sát, số 24/2017, tr.33-40
11 Đặng Phước Thông, “Đăng ký quyền sở hữu căn hộ chung cư theo yêu cầu và một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Khoa học Pháp Lý, số 3/2020, tr.37-49
12 Đặng Thu Hà, “Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới’, Tạp chí Nghề luật, số 5/2018 – Năm thứ Mười Ba, tr.85-90