Để phục vụ hoạt động dạy học học phần này có hiệu quả, chúng tôi biên soạn giáo trình Giáo dục học đại cương. Cấu trúc giáo trình được chia thành 3 chương, sau mỗi chương đều có hệ thống câu hỏi ôn tập củng cố, mở rộng kiến thức, các chủ đề thảo luận và các bài tập thực hành, tình huống giáo dục để rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo yêu cầu của nội dung môn học, cũng như nhiệm vụ công tác của giáo viên mầm non sau này.
Trang 1GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG
(Dùng cho sinh viên Đại học và cao đẳng)
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục học đại cương là học phần bắt buộc trong Chương trình đào tạo ngànhGiáo dục Mầm non trình độ cao đẳng Học phần này cung cấp cho người học hệthống kiến thức cơ bản về những vấn đề chung của giáo dục học, sự hình thành vàphát triển nhân cách, mục đích, nhiệm vụ, nguyên lí và hệ thống giáo dục quốc dân;trên cơ sở đó hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức giải thích những hiện tượng xảy
ra trong dạy học, giáo dục một cách khoa học Từ đó, hình thành ý thức coi trọng vaitrò của giáo dục đối với quá trình đào tạo giáo viên; tích cực tham gia vào các hoạtđộng nhằm rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách người giáo viên trong tương lai
Để phục vụ hoạt động dạy học học phần này có hiệu quả, chúng tôi biên soạngiáo trình Giáo dục học đại cương Cấu trúc giáo trình được chia thành 3 chương, saumỗi chương đều có hệ thống câu hỏi ôn tập củng cố, mở rộng kiến thức, các chủ đềthảo luận và các bài tập thực hành, tình huống giáo dục để rèn luyện nghiệp vụ sưphạm theo yêu cầu của nội dung môn học, cũng như nhiệm vụ công tác của giáo viênmầm non sau này
Chương 1 Những vấn đề chung của giáo dục học
Chương 2: Giáo dục và sự hình thành, phát triển nhân cách
Chương 3: Mục tiêu giáo dục, nhiệm vụ giáo dục, nguyên lí giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo trình được biên soạn dựa trên cơ sở kế thừa những tài liệu đã có, đồng thời bổsung, cập nhật những kiến thức mới, hiện đại đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục phổthông nói chung và đổi mới công tác đào tạo giáo viên nói riêng ở các trường sư phạm Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng trong việc biên soạn nhưng giáo trìnhkhông thể tránh được những thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận đượcnhững đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo đồng nghiệp, các bạn sinh viên để giáotrình được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
NHÓM BIÊN SOẠN
Trang 3CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC Mục tiêu của chương 1
Về kiến thức: Phân tích được nguồn gốc, tính chất, chức năng của giáo dục, từ đó
khẳng định giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt Xác định rõ đối tượng, nhiệm
vụ của Giáo dục học, hệ thống các khái niệm cơ bản của Giáo dục học; phân tíchđược cấu trúc của Giáo dục học, mối quan hệ giữa Giáo dục học với các khoa họckhác; Trình bày được logic tiến hành công trình nghiên cứu khoa học giáo dục
Về kỹ năng: Vận dụng kiến thức giải thích những hiện tượng xảy ra trong dạyhọc, giáo dục một cách khoa học Sử dụng hiệu quả các phương pháp nghiên cứukhoa học để thu thập, xử lí kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục Kỹ năng lập đềcương nghiên cứu khoa học giáo dục
Về thái độ: Tích cực, nghiêm túc trong học tập và nghiên cứu khoa học giáo dục.
Coi trọng vai trò to lớn của Giáo dục học đối với quá trình đào tạo giáo viên
1.1 Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt
1.1.1 Nguồn gốc, tính chất của giáo dục
a Nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển con người phải tiếnhành hoạt động lao động Lao động là một hình thức hoạt động cơ bản nhất của loàingười, có vai trò quyết định đối với sự tồn tại của chính con người và sự phát triển xãhội loài người Bằng lao động, con người đã sử dụng toàn bộ năng lực bản chất củamình tác động vào thế giới khách quan để tạo ra sản phẩm phục vụ cho sự tồn tại vàphát triển của con người, thông qua đó mà thúc đẩy sự phát triển xã hội Cũng thôngqua quá trình đó, con người càng càng được phát triển và hoàn thiện hơn
Cùng với lao động và ngay trong chính quá trình lao động, loài người phải tiếnhành nhận thức thế giới khách quan, không ngừng nắm bắt những quy luật, nhữngthuộc tính bản chất về thế giới và vận dụng chúng vào thực tiễn để cải tạo thế giới.Những kinh nghiệm trong mọi lĩnh vực lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội cũng nhưnhận thức được tích lũy, khái quát hóa, hệ thống hóa và ngày càng phong phú, đadạng từ đó con người nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết, những kinhnghiệm ấy cho nhau Một mặt, nhằm làm cho những kinh nghiệm xã hội đó không bị
Trang 4mất đi, bị lãng quên mà được bảo tồn, lưu giữ, kế tục và làm phong phú thêm Mặtkhác, quan trọng hơn là chuẩn bị cho thế hệ đi sau có đủ năng lực để bước vào cuộcsống, lao động, sản xuất Nhờ sự tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội mà thế hệ trướctruyền lại, những thế hệ sau tái tạo năng lực bản chất của loài người thành năng lựcbản chất cho chính mình để trở thành những chủ thể xã hội Đó chính là nguồn gốcphát sinh của hiện tượng giáo dục.
Vậy, giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất là sự truyền kinh nghiệm xã hội từ thế hệtrước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau bước vào cuộc sống Với ý nghĩa
đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành do nhu cầu xã hội và trởthành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là mộthoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển của chính con người
và phát triển xã hội Vì vậy, giáo dục được xem là một hiện tượng xã hội đặc biệt, chỉ
có trong xã hội loài người, nảy sinh, phát triển và tồn tại vĩnh hằng cùng với xã hội loàingười Lúc đầu giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát diễn ra đơn giản theo lốiquan sát – bắt chước ngay trong quá trình lao động (săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồngtrọt ) Về sau giáo dục trở thành một hoạt động có ý thức Con người dần dần biết xácđịnh mục đích, hoàn thiện về nội dung và tìm ra các phương thức để quản lý giáo dục
có hiệu quả Ngày nay, giáo dục trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạtđến trình độ cao có chương trình kế hoạch, nội dung, phương pháp hiện đại, diễn ratheo một nhịp độ khẩn trương và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanhchóng của xã hội loài người Như vậy, giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất là hoạt độngtruyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằmchuẩn bị cho thế hệ sau tham gia vào lao động sản xuất và đời sống xã hội
Chúng ta có thể thấy rằng, nếu không có giáo dục thì loài người không tồn tạivới tư cách con người, không có tiến bộ xã hội, không có học vấn, không có văn hóa,văn minh Vì vậy, bất kì một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển được đều phải tổchức và thực hiện hoạt động giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người Giáo dục
là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người và sự xuất hiện của hiện tượng giáo dụctrong xã hội là một tất yếu lịch sử
Trang 5Tóm lại, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, chỉ có trong xã hội loàingười, giáo dục nảy sinh, biến đổi và phát triển cùng với sự nảy sinh, biến đổi và pháttriển của xã hội loài người.
b Tính chất của giáo dục
Nghiên cứu giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc biệt ta thấy giáodục có các tính chất sau đây:
Thứ nhất: Tính phổ biến và tính vĩnh hằng của giáo dục
Là một nhu cầu cơ bản nên giáo dục tồn tại trong tất cả các hình thái phát triển
xã hội, trong tất cả các nhóm xã hội, vì thế giáo dục mang tính phổ biến và vĩnhhằng Tính phổ biến của giáo dục được thể hiện ở chỗ: ở đâu có con người, có xã hộiloài người thì ở đó có hiện tượng giáo dục - có nhu cầu học hỏi và trao đổi kinh
nghiệm Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội Xã hội càng phát triển, nhu cầu
giáo dục càng cao Xây dựng một xã hội học tập, giáo dục suốt đời, giáo dục cho mọingười là đặc trưng rất cơ bản của xã hội hiện đại Giáo dục là điều kiện để đảm bảo
sự tồn tại mãi mãi của xã hội loài người Nó chỉ mất đi khi xã hội loài người mất đi
Đó chính là tính vĩnh hằng của giáo dục Nói cách khác, sở dĩ giáo dục mang tínhphổ biến và vĩnh hằng vì nó gắn với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.Thứ hai: Tính xã hội - lịch sử của giáo dục
Trong các giai đoạn của lịch sử phát triển xã hội loài người, khi các phươngthức sản xuất xã hội thay đổi kéo theo hàng loạt những biến đổi về tư tưởng, chínhtrị, cấu trúc xã hội, về lối sống văn hóa, thẩm mỹ Trong lĩnh vực giáo dục, môitrường xã hội, điều kiện kinh tế, văn hóa ảnh hưởng sâu sắc tới mục tiêu, nhiệm vụ,nội dung, hình thức giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Đó là tính quy địnhcủa môi trường kinh tế - chính trị - xã hội đối với hoạt động giáo dục, trong đó cáclực lượng giáo dục, người được giáo dục là hai nhân tố đặc trưng cơ bản nhất Mốiquan hệ tương tác giữa các tác nhân môi trường – nhà giáo dục – đối tượng giáo dụcphản ánh tính quy luật, phổ biến, khách quan của quá trình giáo dục
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ vớitrình độ phát triển của xã hội, thể hiện tính quy định của xã hội đối với giáo dục.Giáo dục nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội nhất định, do đó tính chất, mục đích,nhiệm vụ, nội dung giáo dục bao giờ cũng chịu sự quy định của các quá trình xã hội
Trang 6trong xã hội đó Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua các hình thái kinh
tế - xã hội khác nhau, do đó nền giáo dục tương ứng cũng khác nhau Khi những quátrình xã hội biến đổi bắt nguồn từ những biến đổi về trình độ sản xuất, tính chất củaquan hệ sản xuất đã kéo theo những thay đổi về chính trị - xã hội, cấu trúc xã hội, hệ
tư tưởng của xã hội thì toàn bộ hệ thống giáo dục tương ứng với hình thái kinh tế xãhội đó cũng biến đổi theo
Ngay trong một xã hội nhất định, ở mỗi thời kì lịch sử cụ thể giáo dục mangnhững tính chất và hình thái cụ thể khác nhau Mục đích, nội dung, phương pháp,hình thức giáo dục, chính sách giáo dục ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội luônchịu sự quy định bởi các điều kiện ở xã hội ấy Vì vậy, trong quá trình giáo dục luôndiễn ra cải cách, đổi mới giáo dục nhằm làm cho nền giáo dục đáp ứng ngày càng caonhững yêu cầu phát triển của thực tiễn xã hội trong từng giai đoạn cụ thể
Thứ ba: Tính giai cấp của giáo dục
Trong xã hội có giai cấp thì giáo dục mang tính giai cấp Giáo dục phản ánhnhững đặc điểm và lợi ích của giai cấp Tính giai cấp được phản ánh một cách đậmnét trong tất cả các mặt khác nhau của nền giáo dục, đặc biệt trong mục đích giáodục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, chính sách giáo dục
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì giáo dục là vũ khí đấu tranh giai cấp, nhàtrường trở thành công cụ đấu tranh giai cấp Giai cấp thống trị xã hội bao giờ cũngnắm lấy giáo dục làm phương tiện để bảo vệ và duy trì lợi ích của mình
Ngày nay nhấn mạnh tính giai cấp trong giáo dục là nhấn mạnh việc nâng caocảnh giác, giữ vững quan điểm cách mạng, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh chống lại mọi âm mưu diễn biến hòa bìnhcủa các thế lực thù địch Tính giai cấp trong giáo dục đòi hỏi người làm công tác giáodục phải nắm vững quan điểm và đường lối giáo dục của Đảng, chính sách giáo dụccủa Nhà nước, tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ.Thứ tư: Giáo dục mang tính nhân văn, đại chúng, dân tộc và quốc tế
Tính nhân văn của một nền giáo dục là lấy con người làm gốc, tôn trọng tất cảphẩm giá của "Con người" Giáo dục hướng vào việc duy trì và phát triển các giá trịchân - thiện - mỹ, có tính chất toàn nhân loại được thể hiện qua các thời đại, phát
Trang 7triển của con người đúng như bản tính cao đẹp của nó như sự tự do, bình đẳng, côngbằng trong sự liên hệ giữa con người với nhau.
Tính đại chúng của giáo dục thể hiện ở chỗ nó cung cấp cơ hội được giáo dụcđồng đều cho mọi tầng lớp xã hội Muốn tồn tại và phát triển, con người cần phảiđược giáo dục và tham gia vào các quá trình giáo dục Ngày nay, giáo dục được tiếnhành suốt đời, giáo dục cho mọi người, giáo dục được thực hiện một cách thườngxuyên, liên tục trong suốt quá trình sống của con người
Tính đại chúng của giáo dục còn được thể hiện ở chỗ giáo dục quan tâm đặc biệtđến những người kém may mắn, thiệt thòi trong xã hội; giáo dục luôn hướng vào thànhphần căn bản và lớn lao nhất của xã hội là lớp người bình dân, họ thường là những người
dễ bị tổn thương, thiệt thòi do thiếu kiến thức, cơ hội học nghề, làm chủ cuộc sống.Hướng tới những người dân chịu thiệt thòi nhất, giáo dục góp phần làm cho xã hội dânchủ và công bằng hơn
Giáo dục còn hướng tới sự đa dạng về văn hóa Đó là nền giáo dục nhìn nhận sựkhác biệt của học sinh và phát triển khả năng, giá trị và thái độ của mỗi em tùy theonếp sống văn hóa riêng biệt và suy nghĩ riêng của mỗi em Trong giáo dục đa văn hóangười ta không đánh giá cao hay thấp của một nền văn hóa mà là nhìn nhận sự khácbiệt Cái nhìn về đa văn hóa không phải chỉ áp dụng cho những nhóm sắc tộc trongnước mà rộng hơn, đó còn là cái nhìn về các nền văn hóa khác, giúp ta biết tự trọng
mà không mặc cảm
Tính dân tộc của giáo dục thể hiện ở chỗ nó phản ánh những đặc điểm và lợi íchcủa dân tộc Giáo dục phục vụ cho lợi ích của dân tộc, giúp cho người học biết ơntiền nhân đã dày công xây dựng nước, biết trân quý và bảo vệ Tổ quốc, biết gìn giữbản sắc dân tộc và biết đùm bọc lẫn nhau Mỗi dân tộc khác nhau cũng có nhữngquan điểm khác nhau về giáo dục, về truyền thống văn hóa vì vậy, cần giáo dục thế
hệ trẻ tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, tôn trọng sự khác biệt của mỗi dân tộc đểcùng phát triển
Mang tính dân tộc, giữ gìn giá trị dân tộc nhưng giáo dục cũng giúp người họchội nhập với thế giới Giáo dục mang tính quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và nềnkinh tế tri thức, giáo dục giúp người học mở rộng tầm nhìn để hiểu biết thế giới bênngoài, hiểu biết mới về khoa học kĩ thuật, xã hội nhân văn Mặc dù giáo dục mang
Trang 8tính dân tộc nhưng có những chân giá trị giáo dục chung cho cả thế giới, dân tộc nào,tôn giáo nào cũng thừa nhận Đó là tính quốc tế của giáo dục.
Thứ năm: Tính kế thừa
Sự phát triển của giáo dục mang tính lịch sử - xã hội, cũng đồng thời thể hiệntính kế thừa Các nền giáo dục bao giờ cũng có sự phát triển liên tục Nền giáo dục làsản phẩm của lịch sử - xã hội, nó chỉ phù hợp và có ý nghĩa trong từng giai đoạn lịch
sử nhất định Khi xã hội bước sang một thời kì mới thì nền giáo dục sẽ bộc lộ nhữngyếu tố lạc hậu, lỗi thời, bất cập không phù hợp, đòi hỏi phải thay đổi làm cho nềngiáo dục phù hợp hơn với các điều kiện xã hội mới và đáp ứng tốt hơn yêu cầu xã hộitrong giai đoạn mới
Tuy nhiên, sự phát triển giáo dục bao giờ cũng dựa trên những thành quả củanền giáo dục trước đó Một mặt tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố tích cực của nềngiáo dục cũ làm cho nó phù hợp với hoàn cảnh mới, vận dụng sáng tạo trong thựctiễn giáo dục mới Mặt khác, mạnh dạn xóa bỏ, loại trừ những yếu tố lạc hậu, lỗi thờithay thế những yếu tố mới, tiên tiến, hiện đại phù hợp với thực tiễn đất nước trongthời kì mới, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thời đại
1.1.2 Chức năng của giáo dục
a Chức năng kinh tế - sản xuất
Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển thì phải có việc thế hệ đi trướctruyền lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội cho thế hệ đi sau để họ tham gia vào đờisống xã hội, phát triển sản xuất, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của con người.Công việc đó do giáo dục đảm nhận Bất kì một đất nước, một quốc gia nào nàomuốn phát triển kinh tế, sản xuất thì phải có đủ nhân lực và nhân lực phải có chấtlượng cao Nhân lực là lực lượng lao động của xã hội, là đội ngũ những người laođộng đang làm việc trong tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xãhội đảm bảo cho xã hội vận động và phát triển đúng quy luật
Chức năng kinh tế - xã hội của giáo dục thể hiện tập trung nhất thông qua việcđào tạo nhân lực Cụ thể giáo dục đào tạo những người lao động có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ và phẩm chất nhân cách, giáo dục tạo ra sức lao động mới một cáchkhéo léo, tinh xảo, hiệu quả để vừa thay thế sức lao động cũ, vừa tạo ra sức lao động
Trang 9mới cao hơn, góp phần tăng năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế
-xã hội
Đặc biệt trong xã hội hiện đại, khi trình độ phát triển của nền kinh tế là do trình
độ của con người được giáo dục và đào tạo ra quyết định thì vai trò của giáo dục càngđược khẳng định Trong nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồnvốn nhân lực (cùng với nguồn vốn tài nguyên, nguồn vốn sản xuất và nguồn vốn khoahọc công nghệ) với tư cách là nhân tố tăng trưởng kinh tế Trong đó, nguồn vốn nhânlực (chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũlao động) là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khácnhư tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưngnguồn nhân lực thì khó có thể làm theo cách tương tự Các yếu tố như máy móc thiết
bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởiđội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt
Để thực hiện tốt chức năng kinh tế - sản xuất, giáo dục phải thỏa mãn một sốyêu cầu cơ bản sau đây:
+ Giáo dục phải gắn bó với sự phát triển kinh tế - sản xuất, phải thỏa mãn cácyêu cầu phát triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể (hiện nay là phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước)
+ Xây dựng một hệ thống ngành nghề cân đối, đa dạng phù hợp với sự pháttriển kinh tế - sản xuất của đất nước
+ Các loại hình cán bộ kỹ thuật và công nhân phải đảm bảo tính cân đối, tránhtình trạng "thừa thầy, thiếu thợ” như hiện nay
+ Đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất cao,thỏa mãn các yêu cầu của nền sản xuất hiện đại
Tóm lại: Muốn nền sản xuất phát triển xã hội phát triển thì đòi hỏi giáo dục phảiphát triển Giáo dục phải đào tạo được một đội ngũ nhân lực lao động có trình độ đápứng kịp thời với yêu cầu của nền sản xuất đó
b Chức năng chính trị - xã hội
Sự phát triển xã hội cũng được thể hiện ở sự ổn định của hệ thống chính trị củamỗi quốc gia Các giai cấp hay đảng cầm quyền phải tập trung mọi nỗ lực và sử dụng
Trang 10mọi thứ công cụ cần thiết để thực hiện ý đồ chính trị, đạt được những mục tiêu củamình, củng cố địa vị cầm quyền và hướng tới sự ổn định chính trị để phát triển.
Giáo dục góp phần đắc lực vào việc củng cố và làm ổn định hệ thống chính trịthông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền, làm cho những chủ trương đườnglối, quan điểm, chính sách, hệ thống pháp luật đến được với mọi tầng lớp dânchúng, làm thay đổi ý thức, hình thành niềm tin, lý tưởng, tạo ra sự đồng thuận, ủng
hộ của mọi tầng lớp nhân dân
Giáo dục đào tạo ra thế hệ con người trung thành với giai cấp, đáp ứng yêu cầucủa công cuộc cách mạng, có đủ khả năng thực hiện thành công sự nghiệp chính trịcủa giai cấp, góp phần khẳng định, củng cố địa vị chính trị của giai cấp Như vậy,giáo dục ở trong bất kì một chế độ xã hội nào cũng phục vụ đắc lực cho chính trị,không thể có một nền giáo dục thoát ly chính trị, đứng ngoài chính trị
Giáo dục tác động toàn diện đến các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội, làm biến đổi sâu sắc cấu trúc xã hội, mối quan hệ xã hội, bình đẳng xã hội,hành vi xã hội, phân công lao động xã hội, vị thế xã hội
Trong xã hội phong kiến, giáo dục góp phần không nhỏ trong việc khoét sâuthêm sự phân chia giai cấp, xây dựng một cấu trúc xã hội mang tính giai cấp và đẳngcấp rõ rệt Những chính sách giáo dục phân biệt, bất bình đẳng trong xã hội phongkiến đã duy trì vị trí đối kháng giữa các giai tầng trong xã hội Trong xã hội ngàynay, giáo dục đang hướng tới một nền giáo dục bình đẳng, dân chủ Nền giáo dục mởrộng các cơ hội để cho mọi thành phần dân cư đều được tiếp nhận giáo dục một cáchbình đẳng và dân chủ để phát triển, làm thay đổi vị trí xã hội của mỗi cá nhân và cộngđồng
Chức năng chính trị - xã hội của nền giáo dục hiện nay ở nước ta bao gồmnhững nội dung cụ thể sau đây:
+ Trang bị cho thế hệ đang lớn lên cũng như toàn thể xã hội lý tưởng phấn đấu
vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh"
+ Thông qua việc nâng cao dân trí, nâng cao trình độ văn hóa cho toàn dân,thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực góp phần xoá đói, giảm nghèo, góp phầnchuyển đổi cơ cấu sản xuất, thay đổi cấu trúc lao động xã hội và tạo ra sự bình đẳngtrong các tầng lớp dân cư
Trang 11+ Góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý theo tinh thần "do dân và vì dân".
c Chức năng văn hóa - tư tưởng
Giáo dục có tác dụng to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xãhội, hình thành ở mỗi cá nhân thế giới quan, tư tưởng chính trị, ý thức, tình cảm và hành
vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục
xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng (Điều 2, Luật Giáo dục 2019), nền giáo dụcViệt Nam phục vụ mục đích chính trị tốt đẹp và tư tưởng cao quý của Đảng Cộng sảnViệt Nam hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của cácthế hệ, quá trình này giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở mang trí tuệ, hìnhthành và nâng cao trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ cho mỗi cá nhân và cho toàn
xã hội Mỗi quốc gia giàu mạnh là một quốc gia có nền kinh tế vững mạnh, khoa họccông nghệ tiên tiến, chính trị bền vững và trình độ dân trí cao Giáo dục góp phầnnâng cao trình độ dân trí – trình độ văn hóa chung cho toàn xã hội Nền giáo dụckhông chỉ hướng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực mà còn hướng vào quátrình phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Giáo dục không chỉ thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuyển tải nền văn hóa của thế
hệ này cho thế hệ kia mà còn là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo tồn và pháttriển nền văn hóa của dân tộc và nhân loại Thông qua con đường giáo dục, ngườihọc không chỉ biết giữ gìn mà còn có khả năng làm phong phú, sáng tạo thêm nhữnggiá trị văn hóa, những loại hình văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.Giáo dục là một phương tiện để đấu tranh, xóa bỏ những thói hư tật xấu, những
hủ tục của xã hội cũ, cổ vũ cho những giá trị, những hành vi văn hóa truyền thống tốtđẹp, giàu bản sắc của dân tộc và những giá trị tích cực, hiện đại của thế giới; xâydựng những thói quen, lối sống, nếp sống mới, phù hợp Giáo dục trở thành phươngtiện cơ bản để phát triển văn hóa
Tóm lại, thông qua ba chức năng xã hội, giáo dục đã góp phần vào sự phát triểncủa xã hội, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về sự phát triển của lực lượng sảnxuất, quan hệ xã hội, ý thức xã hội Đặc biệt trong thời đại ngày nay giáo dục được
Trang 12quan niệm không chỉ là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng mà nó còn là một
bộ phận thuộc cơ sở hạ tầng Giáo dục không chỉ là sự phản ánh đơn thuần các lựclượng kinh tế và xã hội đang hoạt động trong một xã hội mà nó còn là phương tiệnquan trọng để cấu thành các lực lượng kinh tế - xã hội, văn hóa và quyết định chiềuhướng phát triển của các lực lượng này Đến lượt mình động lực của các lực lượngnày lại tác động đến đặc điểm của giáo dục Do vậy có mối quan hệ vòng tròn trongmối quan hệ qua lại giữa giáo dục và một loạt các nhân tố xã hội Thế giới coi giáodục là động lực cơ bản và đòn bẩy mạnh mẽ, là điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự pháttriển kinh tế xã hội Đảng và nhà nước ta khẳng định phát triển giáo dục là quốc sáchhàng đầu và đầu tư phát triển giáo dục chính là đầu tư cho phát triển bền vững, mộtloại đầu tư thông minh nhất trong các loại đầu tư của thế giới hiện đại
1.2 Giáo dục học là một khoa học
1.2.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học
Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với sự xuất hiện của
xã hội loài người Giáo dục học với tư cách là một khoa học về giáo dục con người lạiđược hình thành muộn hơn nhiều Những công trình nghiên cứu cho thấy giáo dục học
ra đời khi giáo dục đóng một vai trò rõ rệt trong đời sống xã hội và xã hội có nhu cầutổng kết những kinh nghiệm giáo dục, đặc biệt là nhu cầu xây dựng những cơ quanchuyên biệt phụ trách việc chuẩn bị một cách có kế hoạch cho thế hệ trẻ đi vào cuộcsống Điều này đã được chứng minh trong lịch sử phát triển của giáo dục học
Thực tiễn tổ chức và tiến hành quá trình giáo dục đã làm nảy sinh những kinhnghiệm giáo dục Những kinh nghiệm giáo dục đã được ghi lại trong kho tàng vănhóa dân gian (ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, truyện kể)
Từ thời kì cổ đại, những kinh nghiệm giáo dục đã bắt đầu được tổng kết songdưới dạng những tư tưởng giáo dục Những tư tưởng giáo dục này được hình thànhvới những tư tưởng triết học và được trình bày trong hệ thống triết học của Socrat,Democrit, Aritxtot, Khổng Tử,
Cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV, khi mầm mống của chủ nghĩa tư bản xuất hiện,nhân loại bước vào thời kì Phục hưng Theo các nhà nghiên cứu thì chính bước quá
độ từ phong kiến qua chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện những hệ thống tri thức mới,
có nhiều khoa học tách ra khỏi triết học, trong đó có giáo dục học Đầu thế kỉ XVII
Trang 13giáo dục học với tư cách là một khoa học được tách ra từ triết học và trở thành một khoahọc độc lập gắn liền với tên tuổi của J A Comenxki nhà giáo dục người Séc vĩ đại Tiếp
đó nhiều nhà lịch sử tư tưởng giáo dục tiếp tục góp phần phát triển giáo dục học như làkhoa học độc lập: như nhà giáo dục Pháp J J Rútxô, Đ Điđơro; nhà giáo dục Thụy Sĩ J
G Petxtalogi, nhà giáo dục Đức A F Đixtecvec, nhà giáo dục Nga K Đ Usinxki, Đến giữa thế kỉ XIX sự xuất hiện của học thuyết Mác-Lênin về giáo dục thìgiáo dục học thực sự trở thành một khoa học về giáo dục con người, có cơ sở phươngpháp luận đúng đắn và vững chắc Như vậy, giáo dục học được hình thành và pháttriển qua một quá trình lịch sử lâu dài từ chỗ là một bộ phận của triết học đến chỗ làmột khoa học độc lập; từ chỗ dựa trên những tư tưởng giáo dục đến chỗ xây dựngđược hệ thống lí luận ngày càng phong phú, đa dạng; từ chỗ chưa có cơ sở khoa họcđến chỗ thực sự là một khoa học độc lập với đầy đủ bốn tiêu chí:
- Có đối tượng nghiên cứu xác định;
- Có nhiệm vụ nghiên cứu rõ ràng;
- Có hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học;
- Có hệ thống phương pháp nghiên cứu
a Đối tượng của Giáo dục học
Đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học là một phần của thế giới kháchquan, là lĩnh vực mà khoa học ấy tập trung nghiên cứu để phát hiện ra bản chất, quyluật vận động và phát triển của nó
Giáo dục học là ngành khoa học xã hội nghiên cứu việc giáo dục con người, songgiáo dục là một hiện tượng luôn vận động, biến đổi và phát triển Vì vậy, khi nghiêncứu giáo dục chúng ta luôn đứng trên quan điểm động tức là quan điểm quá trình.Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu của giáo dục học là quá trình giáo dục tổng thể.Quá trình giáo dục là một hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều thành tố có mốiquan hệ mật thiết với nhau, cụ thể:
Mục đích và nhiệm vụ giáo dục
Mục đích giáo dục có thể xem là đơn đặt hàng của xã hội đối với nền giáo dục vềmẫu nhân cách con người được giáo dục, mà giáo dục cần phải đào tạo, nhằm đáp ứngyêu cầu của xã hội về giáo dục người lao động trong từng giai đoạn phát triển của xã hội
Trang 14Để thực hiện tốt mục đích này, giáo dục phải hoàn thành tốt các nhiệm vụ giáodục: giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động.
Mục đích và nhiệm vụ giáo dục được xem là thành tố hàng đầu của quá trình giáodục vì nó định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ quá trình giáo dục
Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục bao gồm hệ thống những giá trị xã hội mà người được giáodục tiếp nhận để phát triển nhân cách theo những yêu cầu mà xã hội đặt ra Đó là hệthống những giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa, khoa học công nghệ, được lựachọn trong kho tàng giá trị của nhân loại Nội dung về cơ bản được phản ánh trongchương trình và sách giáo khoa Nó tạo nên nội dung hoạt động thống nhất cho nhàgiáo dục và người được giáo dục nhằm đạt mục đích giáo dục đã định
Phương pháp giáo dục và phương tiện giáo dục
Phương pháp và phương tiện giáo dục quy định những cách thức và phươngtiện hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hoàn thành nhữngnhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đã định
Nhà giáo dục
Nhà giáo dục cùng tập thể sư phạm đóng góp và trò tổ chức, định hướng, điềukhiển, điều chỉnh và đánh giá hoạt động nhận thức và sự tự giáo dục của người đượcgiáo dục
Người được giáo dục
Là những đối tượng tiếp nhận sự tác động có định hướng của nhà giáo dục, mặtkhác là chủ thể của quá trình nhận thức, tự giáo dục
Kết quả giáo dục
Là trình độ phát triển nhân cách của người được giáo dục đạt được sau mỗi quátrình giáo dục nhất định và sau toàn bộ quá trình giáo dục
Mỗi thành tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau
và thống nhất với nhau, ví dụ mục đích, nhiệm vụ giáo dục có vai trò định hướng cho
sự vận động và phát triển của các thành tố khác, về phần mình các thành tố khác lạiphục vụ cho việc hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục
đề ra Những thành tố trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và thống nhấtvới môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học công nghệ
Trang 15Mỗi yếu tố của quá trình giáo dục có một vị trí vai trò nhất định, chúng vừa vậnđộng theo quy luật riêng của mình vừa vận động theo quy luật chung của toàn hệthống Chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục liên quan đến từng thành tố củaquá trình giáo dục, mối quan hệ giữa các thành tố đó và có mối quan hệ mật thiết vớimôi trường Vì thế, cần đứng trên quan điểm hệ thống mà nhìn nhận đánh giá quá trìnhgiáo dục.
Như vậy, đối tượng của giáo dục học chính là quá trình giáo dục toàn vẹn nhằmhình thành nhân cách cho thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
b Nhiệm vụ của giáo dục học
Giáo dục học là một ngành khoa học có các nhiệm vụ sau đây:
1 Giải thích nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và phân tích bản chất củagiáo dục với tư cách là hiện tượng xã hội đặc biệt
2 Khám phá các quy luật chi phối quá trình giáo dục, chi phối sự phát triển của
hệ thống giáo dục quốc dân
3 Nghiên cứu mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục dựa trên xu hướngphát triển của xã hội hiện đại, của sự phát triển của khoa học – công nghệ nhằm nângcao chất lượng giáo dục và đào tạo
4 Nghiên cứu triển khai các lý thuyết giáo dục vào thực tiễn cuộc sống
Tóm lại, Giáo dục học là một khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất và cácquy luật của giáo dục, hình thành các lý thuyết về giáo dục và dạy học, nhằm triểnkhai, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cuộc sống
1.2.2 Một số khái niệm cơ bản của giáo dục học
Khi nói đến hệ thống tri thức của một khoa học thì thành phần cơ bản và quantrọng nhất phải kể đến là các khái niệm Nói cách khác, khái niệm và phạm trù lànhững viên gạch tạo nên tri thức khoa học Vì vậy, một đề tài, một công trình nghiêncứu thường được bắt đầu bằng việc tìm hiểu các khái niệm, phạm trù Sau đây là một
số khái niệm cơ bản của Giáo dục học:
a Giáo dục theo nghĩa rộng
Giáo dục theo nghĩa rộng được hiểu là hệ thống những tác động có mục đíchxác định, được tổ chức một cách khoa học (có chương trình, kế hoạch, có nội dung,
Trang 16phương pháp, ) của cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm hướng đếnphát triển nhân cách toàn diện cho người được giáo dục.
Nhà trường với những hoạt động dạy học và giáo dục đa dạng (tham quan, cắmtrại, hoạt động cộng đồng, ) ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhâncách người được giáo dục dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục Với nghĩa rộng,giáo dục hướng đến phát triển toàn diện các mặt: trí dục, đức dục, thể dục, mĩ dục vàgiáo dục lao động
b Giáo dục theo nghĩa hẹp
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, tình cảm, thái độcủa người được giáo dục Việc hình thành lý tưởng, niềm tin, thái độ là thế mạnh củaquá trình giáo dục và thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạtđộng xã hội, lao động xã hội công ích, trong và ngoài nhà trường
Tóm lại, mối quan hệ giữa quá trình giáo dục (QTGD) theo nghĩa rộng, quá
trình dạy học (QTDH) và QTGD theo nghĩa hẹp có thể biểu diễn dưới dạng sau:
- Quá trình dạy học và quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) trong thực tế luôn luôngắn bó chặt chẽ với nhau, rất ít trường hợp xảy ra một cách độc lập Ví dụ, trước khi
tổ chức hoạt động giáo dục như cho các em tham quan một di tích lịch sử, tiến hànhmột hoạt động xã hội công ích, bao giờ cũng phải giới thiệu mục đích, ý nghĩa, lịch
sử vấn đề nghĩa là phải thực hiện một quá trình dạy học
- Quá trình dạy học không chỉ làm nhiệm vụ hình thành hệ thống tri thức, kỹnăng và kỹ xảo mà cũng phải đồng thời hình thành, phát triển các thái độ, phẩm chấttốt đẹp cho học sinh Bởi vì, khi các em đã nhận thức được vấn đề bao giờ cũng có thái
Trang 17độ với nó, dù thầy giáo có chú ý đến điều đó hay không Tuy nhiên, thái độ của các emphụ thuộc rất lớn vào nghệ thuật trình bày vấn đề và thái độ của thầy giáo.
- Trong thực tiễn dạy học hiện nay, không ít nhà trường có xu hướng tập trungmọi nỗ lực của mình vào quá trình dạy học, ít chú ý đến quá trình giáo dục (nghĩahẹp) nghĩa là ít tổ chức sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội, hoạt động lao động côngích và lao động sản xuất, ít chú ý đến việc học tập, rèn luyện trong đời sống, vậndụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, không có điều kiện rèn luyện ý chí,phẩm chất và năng lực ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên học sinh rất bỡ ngỡkhi bước vào cuộc sống Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảmchất lượng giáo dục hiện nay
Vì vậy, việc tạm tách quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) ra khỏi quá trình giáo dục(nghĩa rộng) chỉ có ý nghĩa nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong đời sống nhàtrường Trong thực tế, quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) không hề tách bạch với quátrình dạy học Và với trường mầm non thì bảo vệ, chăm sóc, dạy học, giáo dục trẻ làmột quá trình tích hợp, hoàn chỉnh
c Dạy học
Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tácđộng qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinhnghiệm lịch sử xã hội loài người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo ) để phát triển nhữngnăng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục
Thế mạnh của dạy học là hình thành hệ thống tri thức (bao gồm các khái niệm,phạm trù, quy luật, phương pháp nhận thức ), hình thành các kỹ năng và kỹ xảochung và riêng, làm cơ sở cho việc hình thành năng lực chung, năng lực chuyên biệt
và phẩm chất của người học
Bằng con đường nhận thức lý luận, những kinh nghiệm đồ sộ của xã hội loàingười có thể được khái quát hóa và truyền thụ cho thế hệ trẻ trong một thời gian ngắn
và có hệ thống Nhờ đó, họ có điều kiện để kế thừa và phát huy sức mạnh tinh thần
và vật chất của bản thân và vào việc phát triển xã hội Đó là vai trò quan trọng đặcbiệt của dạy học
d Đào tạo
Trang 18Hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia bao giờ cũng được xây dựng đồng bộ trên
cả ba lĩnh vực: giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Nhưvậy song song với quá trình giáo dục được thực hiện ở các trường phổ thông nhằmhình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, chúng ta còn tiến hành quá trình đào tạo nghềnghiệp ở các trường dạy nghề, các trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học đểchuẩn bị cho nguồn nhân lực xã hội
Đào tạo là quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ của đất nước
Từ các khái niệm giáo dục và dạy học, người ta có thể xây dựng nhiều kháiniệm khác nhau có liên quan đến giáo dục và dạy học như: mục đích, mục tiêu giáodục (dạy học); phương pháp, phương tiện giáo dục (dạy học),
1.2.3 Cấu trúc của Giáo dục học
Giáo dục học bao gồm nhiều ngành khoa học cụ thể tạo thành một hệ thống cáckhoa học giáo dục như:
Trải qua một thời kì phát triển lâu dài, giáo dục học đã tự phát triển thành cácchuyên ngành khoa học riêng biệt tạo thành hệ thống các khoa học giáo dục hoànchỉnh Sự phân chia này được quy định bởi các đặc trưng của quá trình giáo dục có đốitượng và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau Hệ thống các khoa học giáo dục bao gồm:
- Giáo dục học đại cương;
Trang 191.2.4 Mối quan hệ giữa Giáo dục học với các khoa học khác
Giáo dục học với tư cách là một khoa học, có mối quan hệ với nhiều khoa họckhác, nhất là các khoa học về con người:
a Với Triết học
Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội
và tư duy con người, cho nên nó cũng là nền tảng khoa học cho sự phát triển của giáodục học Triết học cung cấp các quan điểm phương pháp luận và quy luật cho việcnghiên cứu sự vận động và phát triển của giáo dục
b Với Sinh lý học
Đây được coi là cơ sở khoa học tự nhiên của Giáo dục học, việc nghiên cứu Giáodục học phải dựa vào các tri thức của Sinh lý học về sự phát triển hệ thống thần kinh caocấp, về các đặc điểm của các loại hình thần kinh, về hoạt động của hệ thống tín hiệu thứnhất và thứ hai, về sự vận động, về hệ thống tim mạch và hô hấp v.v
c Với Tâm lý học
Tâm lý học cung cấp cho Giáo dục học những tri thức khoa học các cơ chế diễnbiến và các điều kiện tổ chức các quá trình bên trong của sự hình thành nhân cách củacon người, theo từng lứa tuổi, trong từng loại hoạt động, làm cơ sở đáng tin cậy cho việc
Trang 20Thông qua việc nghiên cứu các tính quy luật về sự phát triển các quan hệ thẩm mỹcủa con người với hiện thực và với nghệ thuật, nghiên cứu các tính quy luật về sự hìnhthành các lý tưởng thẩm mỹ, đã tạo cơ sở khoa học cho Giáo dục học giải quyết các conđường và các phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ.
h Các khoa học xã hội khác
Ngoài mối quan hệ với các khoa học nói trên, Giáo dục học còn có mối quan hệvới một số khoa học khác như: Kinh tế học, Lý luận nhà nước và pháp quyền v.v cũng
đã cung cấp những cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu các vấn đề nội dung
và phương pháp giáo dục và dạy học, tổ chức và quản lý giáo dục
1.2.5 Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục là tổng hợp những cách thức
mà nhà khoa học sử dụng để tiếp cận và khám phám đối tượng nhằm đối tượng
để phát hiện ra những quy luật và logic phát triển của chúng Phương phápnghiên cứu Giáo dục học không những cần thiết cho việc tìm tòi giải đáp mộtcách khoa học các vấn đề của giáo dục mà còn cần thiết cho việc học tập để nắmvững những vấn đề chung của Giáo dục học
Để nghiên cứu Giáo dục học, người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
`a Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu lí luận còn được gọi là phương pháp nghiên cứu lýthuyết, hay phương pháp đọc sách và tài liệu Đây là phương pháp không thể thiếutrong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào Các phương pháp nghiên cứu lýthuyết bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết:
Phân tích lý thuyết: Là thao tác phân chia tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến
thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của lý thuyết
Tổng hợp lý thuyết: Là sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một
tổng thể Trong phân tích cũng cần có sự liên kết các yếu tố nhưng nó có tính bộphận hơn hơn là tính toàn thể, còn trong phạm trù tổng hợp, sự chế biến những yếu tố
đã cho thành một tổng thể có nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất và tính sáng tạo.Phân tích và tổng hợp cho phép xây dựng được cấu trúc của các vấn đề cần
nghiên cứu
Trang 21- Phương pháp mô hình hóa:
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình giáo dục dựa vào môhình của chúng Mô hình đối tượng là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần Môhình tương tự như đối tượng nghiên cứu và tái hiện những mối liên hệ cơ cấu, chứcnăng, nhân, quả của đối tượng Nghiên cứu trên mô hình sẽ giúp cho các nhà khoahọc khám phá ra bản chất, quy luật của đối tượng
Các phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu Giáo dục học được coi là phươngpháp khai thác những thông tin khoa học lý luận Giáo dục học qua sách vào tài liệu cóliên quan đến vấn đề nghiên cứu (sách và tài liệu lý luận học…) Nhờ đó chúng ta có thểxây dựng lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận của vấn đề, bổ sung và phương pháp lýluận đã có hoặc xây dựng lý luận mới…
Khi nghiên cứu sách và tài liệu lý luận, cần chú ý đến những điều sau đây:
- Một là, lập danh mục những sách tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu từcác nguồn trong và ngoài nước trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc
- Hai là, đọc và ghi chép tư liệu, số liệu bằng những hình thức thích hợp (lậpphiếu ghi chép, lập hồ sơ, biểu đồ, bảng thống kê…)
- Ba là, phân tích, đánh giá những tư liệu, số liệu đã thu được sao cho chính xáckhách quan
- Bốn là, khái quát hóa và hệ thống hóa những điều rút ra được một cách chặt chẽdưới dạng tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
b Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm:
Là phương pháp sử dụng có mục đích, có kế hoạch các giác quan, phương tiện
kỹ thuật như máy ảnh, máy quay phim… để ghi nhận, thu thập những biểu hiện củacác hiện tượng, quá trình giáo dục nhằm khai thác những thông tin cần thiết phục vụcho việc đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp tương ứng hoặc kiểm chứngcho lý thuyết, cho giả thuyết khoa học
Để quan sát có hiệu quả, cần tuân theo những yêu cầu cơ bản sau:
+ Đảm bảo tính tự nhiên của các hiện tượng, quá trình giáo dục được quan sát
Trang 22+ Đảm bảo sự hiểu biết cần thiết về lý luận và thực tiễn có liên quan đến nhữnghiện tượng, quá trình sẽ quan sát.
+ Đảm bảo tính phong phú, đa dạng, tính chính xác, tính cụ thể, tính mục đíchcủa những tài liệu trong quá trình quan sát những hiện tượng, quá trình giáo dục
- Phương pháp điều tra giáo dục
Điều tra giáo dục được hiểu là phương pháp sử dụng một hệ thống câu hỏi đãđược xây dựng theo mục đích nhất định, đặt ra cho nhiều người ở nhiều vùng khácnhau, vào những thời gian khác nhau, thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau để cóthể thu được hàng loạt ý kiến trong một thời gian tương đối ngắn, phục vụ cho:
- Việc phát hiện được thực trạng giáo dục và những nguyên nhân của nó
- Việc đề xuất những giải pháp và những điều kiện có tính giả định làm chothực trạng ngày càng phát triển tốt đẹp
Điều tra giáo dục thường được tiến hành bằng anket và bằng phỏng vấn
+ Điều tra bằng anket:
Anket là phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó có in sẵn những câu hỏi được sắp xếptheo mục đích nhất định
Điều tra bằng anket là phương pháp sử dụng anket để trưng cầu ý kiến nhiềungười trong một thời gian ngắn, dưới hình thức viết
Người ta phân biệt 3 loại anket sau đây:
Anket đóng là anket trong đó chỉ có những câu hỏi có kèm theo những phương
án trả lời tương ứng Người được trưng cầu ý kiến đánh dấu “X” vào một (hoặcnhững) phương án trả lời phù hợp với sự hiểu biết và suy nghĩ của mình theo yêu cầucủa người hỏi
Anket mở là anket trong đó chỉ có những câu hỏi không kèm theo những
phương án trả lời Người được trưng cầu ý kiến tự ghi câu trả lời của mình theo yêucầu của người hỏi
Anket hỗn hợp là anket bao gồm một hỗn hợp các loại câu hỏi theo hai loại câu
hỏi trên
Trong thực tiễn, phương pháp điều tra bằng anket được vận dụng để điều trathăm dò, điều tra đi sâu vào điều tra bổ sung
Trang 23Để sử dụng phương pháp điều tra bằng anket có kết quả tốt, cần chú ý nhữngđiều sau đây:
- Một là, phải xác định rõ ràng mục đích và những đối tượng điều tra
- Hai là, phải xây dựng được nội dung anket với hệ thống câu hỏi và nhữngphương án trả lời (nếu cần) sao cho rõ ràng, chính xác, đảm bảo cho mọi người hiểu
dễ dàng và hiểu như nhau; sao cho các câu hỏi có thể kiểm tra lẫn nhau
- Ba là, phải hướng dẫn trả lời rõ ràng
- Bốn là, phải xử lý những thông tin cho chính xác, khách quan
+ Điều tra bằng phỏng vấn:
Điều tra bằng phỏng vấn là phương pháp thu lượm những thông tin về các hiệntượng, quá trình giáo dục qua trao đổi ý kiến trực tiếp với những người được nghiên cứu.Muốn phỏng vấn thành công cần chú ý:
Thiết kế hệ thống các câu hỏi cơ bản phù hợp với mục đích phỏng vấn đã định.Tùy theo nội dung cụ thể, cần xây dựng những câu hỏi trực tiếp (tức là đi thẳng vàovấn đề muốn tìm hiểu) và những câu hỏi gián tiếp hay đường vòng (tức là đi đườngvòng, qua đó có thể khai thác một cách tế nhị những thông tin cần thiết)
Tạo không khí nói chuyện thân mật, cởi mở, tự nhiên, gần gũi, thiện chí đối vớinhững đối tượng trò chuyện; kích thích họ trao đổi ý kiến một cách tự nhiên, thoải mái.Quan sát tế nhị hành vi, cử chỉ, thái độ của những đối tượng trò chuyện; đồngthời, phải nhạy bén với những hành vi, cử chỉ, thái độ và nội dung trò chuyện của họ
để có cách ứng xử thích hợp, kịp thời mà vẫn đảm bảo được không khí trò chuyệnthân mật, tự nhiên
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
Tổng kết kinh nghiệm là cách thức phát hiện, phân tích đánh giá, khái quát hóa và
hệ thống hóa những kinh nghiệm giáo dục Nhờ đó làm phong phú thêm lý luận đã cóhoặc xây dựng lý luận mới, giúp cho khoa học giáo dục không ngừng được phát triển.Khi tổng kết kinh nghiệm, chúng ta cần chú ý:
- Chọn điển hình để khai thác kinh nghiệm
- Đảm bảo khai thác kinh nghiệm từ nhiều nguồn khác nhau (con người, văn bản,sản phẩm…)
- Đảm bảo tính chân thực, tính đa dạng và tính phong phú
Trang 24- Sàng lọc những kinh nghiệm đã thu được; xử lý chúng một cách khách quan.
- Rút ra được những bài học kinh nghiệm để tổ chức thực tiễn giáo dục đạt hiệuquả hơn
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng cách chủđộng tác động đến đối tượng nghiên cứu trong điều kiện được khống chế, nhằm gây ranhững biến đổi mong muốn của chúng về mặt định lượng cũng như về mặt định tính
Để thực nghiệm hiệu quả ta cần chú ý:
Một là, xác định giả thuyết khoa học
Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ và mọiđiều kiện tương đương nhau nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thựcnghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm
Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp; đo đầu vào và đầu rasao cho khách quan
Bốn là, xử lý kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt định lượng lẫnmặt định tính; đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận.Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia là phương pháp khai thác và tận dụng “chấtxám” của các chuyên gia, nhằm mục đích thu thập những thông tin khoa học; những ýkiến đánh giá về tình hình giáo dục, về những sản phẩm giáo dục, về những sản phẩmkhoa học, những ý kiến về những giải pháp giáo dục cho những vấn đề được đặt ra.Khi thực hiện phương pháp này ta cần chú ý:
Một là, chọn những chuyên gia có uy tín, trình độ cao có liên quan đến vấn đềmuốn khai thác
Hai là, tổ chức các hội thảo, trong đó có sự định hướng rõ ràng về mục đích,yêu cầu, nội dung khoa học để các chuyên gia tập trung trí tuệ cùng nhau thảo luận,tranh luận cho phù hợp Bên cạnh đó, cũng có thể tổ chức lấy ý kiến các chuyên giabằng các bản viết
Ba là, thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan mọi ý kiến của chuyên gia trên cơ sởkết hợp việc nghe, việc sử dụng máy ghi âm, máy quay phim, việc ghi tốc ký và khaithác các bản viết của chuyên gia
Trang 25Bốn là, xử lý một cách khoa học những ý kiến đó và rút ra những điều bổ ích chovấn đề nghiên cứu.
Trang 26+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động giáo dục:
Đây là phương pháp khai thác, thu thập thông tin về các đối tượng nghiên cứu(học sinh, sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục…) thông qua việc phân tích,đánh giá những sản phẩm hoạt động do họ tạo ra (bài làm, vở ghi chép, sổ điểm, giáo
án, báo tường…)
Khi nghiên cứu các sản phẩm này, cần chú ý:
Một là, thu lượm những sản phẩm thuộc nhiều loại hình thức khác nhau để cóthể khai thác được những thông tin đa dạng
Hai là, tập trung vào những sản phẩm chủ yếu, tiêu biểu
Ba là, phân tích các sản phẩm dưới nhiều khía cạnh, góc độ
Bốn là, rút ra được nhiều những kết luận khái quát phục vụ cho mục tiêu nghiêncứu đã xác định
c Các phương pháp hỗ trợ
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học, các phần mềm tin học trongnghiên cứu giáo dục không chỉ tạo ra sự tiện lợi, giảm được chi phí trong nghiêncứu mà còn làm cho các kết nghiên cứu mang tính khách quan và khái quát hơn Sửdụng toán học trong nghiên cứu giúp cho nhà khoa học không những phát hiện raquy luật của đối tượng nghiên cứu mà còn có thể suy ra những khuynh hướng pháttriển của nó Mục đích sử dụng toán học là đảm bảo cho quá trình suy diễn đượctriệt để, nhất quán
Các nhà nghiên cứu dùng toán thống kê để xử lý các tài liệu thu thập được từ cácphương pháp khác nhau Kết quả cho ta các số liệu khái quát, chính xác, tin cậy về đốitượng nghiên cứu Một số phép toán cơ bản thường được sử dụng trong nghiên cứu giáodục là: tính tần suất, tính trung bình cộng, tính trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn Máy vi tính đang ngày càng trở nên gần gũi đối với nhà giáo dục, là công cụ hỗtrợ đắc lực đối với nhà nghiên cứu Với chiếc máy tính cá nhân, nhà nghiên cứu có thể
sử dụng các phép tính thống kê và toán học trong một thời gian ngắn với độ chính xáccao Hiện nay trong nghiên cứu khoa học, phần mềm SPSS đang được các nhà khoahọc ưa chuộng sử dụng Phần mềm này cho phép xử lí các số liệu điều tra hay thựcnghiệm khoa học một cách đáng tin cậy Tuy nhiên, sự đúng đắn của nó còn phụ thuộcvào các số liệu mà nhà nghiên cứu nhập vào, cũng như cách thức sử dụng các phần
Trang 27mềm để tính toán số liệu ấy Vì thế, muốn máy tính trở thành công cụ hỗ trợ đắc lựccho nghiên cứu của bạn, cần nắm được cách nhập số liệu và các chương trình điềukhiển chúng
Trong nghiên cứu Giáo dục học, các nhà khoa học lựa chọn và sử dụng cácphương pháp tùy theo mục đích, nội dung và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Khinghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể, ta cần sử dụng phối hợp các phương phápnhằm kiểm tra lẫn nhau, bổ sung những ưu điểm và hạn chế cho nhau để tìm ra cáckết quả khách quan và chân thực nhất
1.2.6 Logic tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục
Quy trình nghiên cứu khoa học giáo dục nhìn chung được diễn ra theo nămbước chủ yếu sau (5 bước) Trong đó, mỗi bước được thực hiện theo những cách thức
và kỹ thuật cụ thể:
Bước 1: Chọn đề tài nghiên cứu
Chọn đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phát hiện các vấn đề nghiên cứu Vấn đềnghiên cứu là điều chưa biết, hoặc chưa biết thấu đáo về bản chất, là một câu hỏi cầngiải đáp trong nghiên cứu Từ vấn đề nghiên cứu sẽ nảy sinh ra đề tài khoa học Xác định đề tài nghiên cứu: Tên đề tài phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiêncứu của đề tài
Bước 2: Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu thể hiện toàn bộ những nét cơ bản của nội dung nghiên cứu.Một đề cương nghiên cứu khoa học giáo dục thường có những phần chủ yếu sau:
- Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của đề tài)
Phải trả lời câu hỏi tại sao chọn đề tài này nghiên cứu? Câu hỏi được trả lời trên
cơ sở các mâu thuẫn, các thiếu sót của lý thuyết hay thực tế với yêu cầu bức thiếtphải giải quyết
Cũng có thể xác định tầm quan trọng của các vấn đề ta vừa phát hiện Giảiquyết được các vấn đề này đem lại lợi ích gì và ngược lại nếu vấn đề không được giảiquyết sẽ dẫn đến thiệt hại gì cho tương lai
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là mục tiêu mà đề tài hướng tới, là định hướng, chiến lược
của toàn bộ những vấn đề cần giải quyết trong đề tài
Trang 28Mục đích nghiên cứu do người nghiên cứu đặt ra để thực hiện vì thế nó mangtính chủ quan.
- Phạm vi nghiên cứu
Không phải đối tượng được nghiên cứu được xem xét một cách toàn diện mọiphía cạnh mà nó được giới hạn trong một phạm vi nhất định
Cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu có thể là:
+ Điều kiện chủ quan (khả năng của nhà nghiên cứu)
+ Tính chất của đề tài
+ Điều kiện về thời gian, địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Khách thể là một phần của tập hợp các quá trình, các hiện tượng thuộc về khoahọc giáo dục mà đề tài đang hướng tới
Đối tượng nghiên cứu là một mặt, một bộ phận của khách thể nghiên cứu.Khách thể có thể hiểu là môi trường của đối tượng mà ta đang xem xét Hay nói cáchkhác khách thể bao trùm lên đối tượng nghiên cứu
Lưu ý: Khái niệm đối tượng và khách thể nghiên cứu là tương đối, chúng có thểchuyển hóa cho nhau Khách thể của đề tài này có thể là đối tượng của đề tài kháclớn hơn
- Giả thuyết khoa học
Giả thuyết nghiên cứu (còn gọi là giả thuyết khoa học) là một giả định về bảnchất của sự vật hoặc hiện tượng do người nghiên cứu đặt ra để theo đó xem xét, phântích, kiểm chứng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu Giả thuyết khoa học phải thỏamãn các yêu cầu sau:
+ Giả thuyết được hình thành trên cơ sở lí luận hay thực tiễn Có thể từ mộtquan điểm lí luận, hay nền tảng lý thuyết nào đó suy diễn để có giả thuyết khoa học.Hoặc trên cơ sở khái quát hóa các kinh nghiệm, thành tựu thực tiễn, quy nạp tạo nêngiả thuyết khoa học
+ Có khả năng giải thích phạm vi khá rộng các hiện tượng
+ Phải kiểm nghiệm được
+ Được đặt ra cụ thể, rõ ràng và không phức tạp
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 29Trong nghiên cứu khoa học giáo dục nhiệm vụ nghiên cứu thường được xâydựng như sau:
+ Xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
+ Nghiên cứu thực trạng và tổ chức thực nghiệm nhằm cải tạo thực trạng ấytheo lý thuyết đã được xây dựng
+ Rút ra kết luận và đề xuất ứng dụng cho thực tế
- Phương pháp nghiên cứu
Trình bày mô tả cụ thể các phương pháp sẽ dùng để thực hiện đề tài Tránh chỉnêu tên phương pháp, phải trình bày mục đích sử dụng, chọn mẫu, kĩ thuật…
- Dự kiến cấu trúc đề tài
Dự kiến các chương, mục đề tài Thông thường, nội dung một đề tài nghiên cứukhoa học giáo gồm có các chương cụ thể về cơ sở lí luận đề tài, thực tiễn, thực tiễn,
đề xuất khoa học
- Kế hoạch nghiên cứu đề tài
Dự kiến thời gian, các công việc cụ thể, người phụ trách, sản phẩm cần đạt
- Kinh phí nghiên cứu đề tài
Thuyết minh về nguồn kinh phí, danh mục các khoản chi, mức chi cho cáccông việc trong quá trình nghiên cứu đề tài
Bước 3: Triển khai nghiên cứu
Nghiên cứu là sử dụng các phương pháp tác động trực tiếp vào đối tượng theonhững nhiệm vụ đã đặt ra nhằm đạt được mục tiêu của đề tài Việc triển khai nghiêncứu được tiến hành bằng các hoạt động chủ yếu sau:
- Nghiên cứu tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Đây là hoạt động xem xét, đánhgiá các công trình nghiên cứu trước có liên quan tới vấn đề phương pháp, nội dungnghiên cứu, đồng thời tránh được những trùng lặp trong nghiên cứu Trong nhiềutrường hợp, nhờ vào việc viết tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan,người nghiên cứu xác định rõ hơn đề tài hiện đang nghiên cứu cũng như phươnghướng và nội dung nghiên cứu
- Thu thập tư liệu: Trên cơ sở nguồn tư liệu đã xác định, nhà nghiên cứu thu thậpchọn lọc, phân loại, hệ thống hóa các tư liệu theo các nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 30Dựa vào dàn ý đề cương nghiên cứu chi tiết, các tư liệu được lựa chọn cần có kí hiệuriêng phù hợp với từng nội dung nghiên cứu (chương, mục) Các tư liệu thu được bêncạnh kết quả định lượng cần kèm theo kết quả định tính.
- Xử lí tư liệu: Sau khi lựa chọn, thu thập các tư liệu phù hợp hoặc có liên quanđến đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu tiến hành xử lí tư liệu, tức là phân tích, tổnghợp, hệ thống hóa, thiết lập các mối liên hệ tương ứng với giả thuyết đã đề ra Xử lí
tư liệu đưa đến kết quả định tính và định lượng Các tư liệu xử lí bao gồm hai loại chủyếu: tư liệu lí luận và tư liệu thực tiễn
Thông thường trong nghiên cứu khoa học giáo dục, các tư liệu lí luận đượcdùng làm cơ sở lí luận của đề tài, còn các tư liệu thực tiễn thu nhập được từ thực tếgiáo dục và dạy học ở nhà trường một phần quan trọng làm cơ sở thực tế cho đề tài
và một phần soi sáng, minh chứng các kiến nghị, đề xuất của đề tài
Bước 4: Viết công trình nghiên cứu
công trình còn gọi viết báo cáo tổng kết quả Có thể viết công trình thành nhiềulần tiếp nối nhau sau kết quả của một số giai đoạn nghiên cứu hoặc viết một lần khinghiên cứu xong, có kết quả cuối cùng
Công trình nghiên cứu cần được trình bày theo logic khoa học, bao gồm ba phầnchính: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết luận và đề xuất ý kiến Sau phần chínhcủa đề tài còn có các phần tài liệu tham khảo, bao gồm các tài liệu phục vụ chonghiên cứu đề tài được sắp xếp theo quy định hiện hành Sau danh mục tham khảo làphần phụ lục Phần này trình bày các tư liệu, số liệu, mẫu phiếu điều tra, giáo án thựcnghiệm nhằm giúp hiểu rõ thêm chi tiết một số nội dung và phương pháp nghiêncứu của đề tài
Ngôn ngữ viết trong công trình nghiên cứu phải đảm bảo tính khoa học, ngắngọn, súc tích, không dùng văn nói, không thể hiện cảm xúc của mình hoặc mô tả theohình thức văn học
Ngoài lời văn, tùy theo đề tài có thể sử dụng các biểu thức toán học, các số liệu,bảng số liệu, biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh, tranh vẽ Các loại ngôn ngữ khoa học (lời văn,bảng số liệu, biểu đồ, sơ đồ ) cần được sử dụng đúng quy định chung, tránh tùytiện, cẩu thả và chú ý sử dụng chúng kết hợp với nhau để thể hiện sinh động nội dungnghiên cứu khoa học
Trang 31Bước 5: Bảo vệ công trình nghiên cứu
Tùy theo cấp độ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu phải chuẩn bị báo cáo vàbảo vệ kết quả nghiên cứu trước hội đồng nghiệm thu (hay hội đồng thẩm định) ở cáccấp khác nhau
Khi đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục thường chú ý đếncác tiêu chí sau:
- Hiệu quả khoa học;
- Hiệu quả xã hội;
- Hiệu quả kinh tế;
- Hiệu quả giáo dục
Kết quả nghiên cứu cần được công bố bằng các hình thức khác nhau để trao đổithông tin, phát triển ý tưởng khoa học, đồng thời ghi nhận quyền tác giả
CÂU HỎI ÔN TẬP, CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP
A Câu hỏi ôn tập
1 Trình bày nguồn gốc phát sinh của giáo dục với tư cách là một hiện tượng xãhội đặc biệt
2 Phân tích các tính chất của giáo dục
3 Phân tích các chức năng xã hội của giáo dục Liên hệ với thực tiễn Việt Namtrong giai đoạn hiện nay
4 Nêu khái niệm nguồn nhân lực Trình bày yêu cầu về nguồn nhân lực có trình
độ cao trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế ởnước ta hiện nay
5 Trình bày các khái niệm giáo dục (nghĩa rộng, nghĩa hẹp) và dạy học Từ đóphân tích mối quan hệ giữa chúng
6 Phân loại và trình bày khái quát các phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
B Chủ đề thảo luận
Chủ đề 1: Giáo dục là chìa khóa mở đường đi tới tương lai của mỗi cá nhân, của
mỗi dân tộc
Chủ đề 2: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển bền vững nền kinh tế,
văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc
Trang 323 Hãy thiết kế một mẫu phiếu điều tra về một trong các nội dung sau:
- Khả năng tự học của học sinh/sinh viên
- Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của học sinh/sinh viên
- Hứng thú học tập của học sinh/sinh viên (theo môn học)
4 Hãy xây dựng một đề cương nghiên cứu khoa học cụ thể thuộc chuyên ngànhgiáo dục mầm non
Bài tập tình huống
Tình huống 1: Giáo dục có trong thế giới loài vật
Hôm qua,, nhóm bạn của Hương đi xem xiếc Sau khi xem xong: Hương vỗ tay khen: tài thật, tài thật, đúng là được giáo dục nên có khác Vân hưởng ứng ngay: mình cũng thấy thế, mình rất thích tiết mục Khỉ đạp xe đạp Chắc là sau này học xong mình xin đi dạy thú Ở nhà, mình đã giáo dục thành công con Cún rồi đấy Mỗi lần có nhu cầu đi vệ sinh, nó không ngồi bô như trẻ con nhưng Cún con biết đi đúng chỗ như mình hướng dẫn
Bạn có đồng ý với quan điểm của Vân và Hương không? Vì sao?
Tình huống 2: Hai cách xử sự
Năm 221 trước Công nguyên, sau khi lên ngôi hoàng đế, Tần Thủy Hoàng đã cho đốt toàn bộ sách vở và giết hết các nho sĩ của đất nước Trung Hoa cổ đại, với lí
do là để bảo toàn đế chế vĩ đại của mình.
Năm 146 trước Công nguyên, La Mã chiếm được Hy Lạp, họ đã đưa tất cả giáo viên và sách giáo khoa của Hy Lạp về La Mã để sử dụng, ngoài việc trả lương, giáo viên còn được hưởng nhiều ưu đãi khác.
Từ hai hiện tượng trái ngược nhau nói trên, anh/chị đánh giá nhận thức củangười xưa về vai trò của giáo dục? Liên hệ với thực tế giáo dục hiện nay
Trang 33CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Mục tiêu của chương 2
Về kiến thức: Nắm vững khái niệm con người, nhân cách, sự phát triển nhân
cách; Phân tích được vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triểnnhân cách, phê phán các quan điểm sai lầm về vai trò các yếu tố ảnh hưởng đến sựhình thành và phát triển nhân cách;
Về kĩ năng: Vận dụng kiến thức để đánh giá vai trò của các yếu tố: sinh học,
môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triểnnhân cách con người; Phê phán các quan điểm sai lầm khi quá đề cao hoặc xem nhẹvai trò của các yếu tố đó
Về thái độ: Tích cực trong học tập, rèn luyện Có thái độ cầu thị đối với việc bồi
dưỡng nhân cách người giáo viên trong tương lai
2.1 Nhân cách và sự phát triển nhân cách
2.1.1 Khái niệm con người, cá nhân, nhân cách
a Con người
Từ trước đến nay có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu con người và người
ta đã gọi con người bằng những từ ngữ chứa đựng những nội dung khác nhau dựatrên mục đích và phương tiện nghiên cứu của từng ngành khoa học
Có quan niệm cho rằng: Con người như là một sự tồn tại “thần bí” – đó là conngười mà mắt ta không trông thấy được Con người này điều khiển con người thểxác Đây là quan điểm phản khoa học Chính quan điểm sai lầm này làm cho ngườithiếu hiểu biết, đi vào con đường mê tín dị đoan, tin vào bói toán, số mệnh
Một quan niệm khác cho rằng có “con người bản năng” coi con người là mộttồn tại sinh vật, mọi sự sống của con người cũng như mọi thứ con người làm ra đềuhoàn toàn bắt nguồn từ bản năng Đây cũng là một lý thuyết sai lầm mà hậu quả của
nó là dẫn đến lối sống tự do, tùy tiện và tha hóa Trên thực tế, con người có bản năngsinh tồn nhưng bản năng của con người khác hẳn về chất so với bản năng động vật.Con người sống có ý thức, có trí tuệ và ngày càng văn minh
Trang 34Khi nhận ra vai trò to lớn của công cụ lao động đối với sự phát triển của xã hộiloài người, để chỉ một tồn tại sống biết sử dụng công cụ lao động, người ta đã đưa rakhái niệm “con người kỹ thuật”
Khi xã hội có sự phân chia giai cấp, hình thành thể chế xã hội với hệ thốngchính trị của mình, lúc ấy xuất hiện lý thuyết “con người chính trị” Gần gũi với quanniệm này, có người cho rằng có “con người xã hội” nhằm chỉ rõ mặt tồn tại xã hộicủa con người nói chung…
- Khác với các lý thuyết, các quan điểm trên, theo C Mác và F Ăngghen thìcon người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội Trước hết con người làmột thực thể tự nhiên, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của thế giới tự nhiên Conngười mang trong mình sức sống của tự nhiên, vận động và phát triển theo quy luật
tự nhiên – sinh học Vì vậy, muốn phát triển con người thì trước hết tạo điều kiện chocon người thõa mãn các nhu cầu bản năng
Nhưng con người không phải chỉ là một thực thể tự nhiên mà còn là một thựcthể xã hội Con người là sản phẩm của quá trình xã hội hóa, được thực hiện khi conngười gia nhập vào các mối quan hệ xã hội Do đó, con người mang trong mình mộttổng thể các thuộc tính xã hội và mang bản chất xã hội
Trong luận cương về Phơ Bách, C Mác đã đưa ra quan điểm rất khoa học về
con người Ông cho rằng: “…Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng,
vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người
là sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ xã hội".
Như vậy, theo C Mác bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng,chung chung, bất biến không thể thay đổi được mà bản chất của con người được hìnhthành, bộc lộ, được thể hiện rõ nét trong cuộc sống, trong các hoạt động thực tiễn đadạng và phong phú Con người không chỉ là sản phẩm của xã hội, mà con người baogiờ cũng tồn tại với tư cách là chủ thể hoạt động có ý thức, con người tác động trở lạithế giới khách quan, làm biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường xã hội làm thayđổi các mối quan hệ, các thể chế xã hội và phát triển xã hội, thông qua đó mà conngười không ngừng hoàn thiện bản thân mình
Trang 35Tóm lại, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên đồng thời vừa là sản phẩm củalịch sử xã hội, là một thực thể mang bản chất xã hội, là chủ thể của các hoạt động, làlực lượng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội.
b Cá nhân
Cá nhân là thuật ngữ dùng để chỉ một con người với tư cách đại diện cho loàingười, là thành viên của xã hội loài người Theo nghĩa đó, một người là nam hay nữ,trẻ thơ hay cụ già, người dân bình thường hay cán bộ lãnh đạo cấp cao đều là cá nhân.Mỗi người luôn là một cá nhân cụ thể, phân biệt với người khác, với cộng đồng
Tóm lại, cá nhân là xét đến một con người cụ thể, đơn giản là một đại diện củaloài người, đó là một đơn vị người không thể chia cắt được, có những đặc điểm riêng
để phân biệt người này với người khác
c Nhân cách
Có nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách
GS Phạm Minh Hạc trong cuốn “Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới”
(1994) cho rằng: “Nhân cách là tổ hợp các thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ
hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với cá nhân”.
GS Đặng Vũ Hoạt (Giáo dục học, tập 1, NXB Giáo dục, 1987) nhấn mạnh:
“Nhân cách là toàn thể các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người”.
GS TS Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “Khi nói đến nhân cách ta hiểu đó là
sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài; đó là một tổ hợp thống nhất giữa bốn nhóm thuộc tính tâm lí cơ bản của nhân cách: xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực”.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân cách, nhưng nhìn chungcác tác giả đều nhấn mạnh các điểm:
+ Nếu như cá nhân là thuật ngữ để chỉ một con người cụ thể, là một thành viêntrong xã hội thì nhân cách phản ánh bản chất xã hội của mỗi cá nhân Đó là tổ hợpnhững phẩm chất và năng lực, là đạo đức và là tài năng được kết tinh ở mỗi conngười Nhân cách được bộc lộ qua thái độ, hành vi, thói quen, được phản ánh trong
Trang 36những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân, được thể hiện trong các mối quan
hệ phức hợp của mỗi người với thế giới xung quanh, qua hoạt động, giao tiếp
+ Trước hết, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người
mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xãhội, nói lên toàn bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân.+ Nhân cách là tổng hợp những đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu xácđịnh Do đó, không phải con người sinh ra là đã có nhân cách Nhân cách được hìnhthành dần dần trong quá trình con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội
+ Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biệnchứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại diện
Như vậy, có thể xem nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính
tâm lý của cá nhân biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người phù hợp với yêu cầu của xã hội và thời đại.
Người Việt Nam khi nói đến nhân cách thường quan niệm đó là sự thống nhất
giữa phẩm chất và năng lực tức là giữa đức và tài của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức chỉ là người vô dụng Có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó” Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành
nhân cách vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi người, là nhiệm vụhàng đầu của thanh niên, học sinh, sinh viên
2.1.2 Sự hình thành và phát triển nhân cách
a Khái niệm sự phát triển nhân cách
Con người khi mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất xãhội của mỗi cá nhân và chỉ được hình thành và phát triển trong quá trình con ngườisống, hoạt động và giao lưu trong đời sống xã hội
Nhân cách con người được hình thành và phát triển trong quá trình sống, họctập, lao động, vui chơi giải trí và theo quy luật lĩnh hội các di sản văn hóa vật chấttinh thần do các thế hệ trước để lại trong công cụ lao động, trong văn học nghệ thuật,khoa học Mặt khác, bằng chính hoạt động xã hội của con người ngay từ tấm bé dầnlĩnh hội nội dung loài người chứa đựng trong các mối quan hệ xã hội có liên quan tớihoạt động của họ
Như vậy, sự phát triển nhân cách chính là quá trình cải biến một cách sâu sắc
Trang 37và toàn diện những sức mạnh thể chất và tinh thần ở trẻ diễn ra theo quy luật tích lũy về lượng, biến đổi về chất nhằm chuyển hóa cá thể người thành một chủ thể có ý thức trong xã hội.
Sự phát triển nhân cách được thể hiện trên cả 3 phương diện: sự phát triển vềthể chất, sự phát triển về tâm lý và sự phát triển về mặt xã hội
b Biểu hiện sự phát triển nhân cách
Sự phát triển nhân cách được biểu hiện qua các mặt:
+ Sự phát triển thể chất: biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, cân nặng, sựphát triển của cơ bắp và hoàn thiện các giác quan, cơ quan chức năng của cơ thể + Sự phát triển về mặt tâm lý, ý thức: biểu hiện ở những biến đổi căn bản trongcác quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, nếp sống, thói quen, sự hình thànhcác thuộc tính tâm lý mới của nhân cách
+ Sự phát triển về mặt xã hội: biểu hiện ở những biến đổi trong cư xử với nhữngngười xung quanh, trong việc tích cực tham gia vào đời sống xã hội quan hệ xã hội,tham gia các hoạt động xã hội
Như vậy, sự phát triển nhân cách cần được hiểu là một quá trình cải biến toàn
bộ sức mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần của con người Đó là sức mạnh mang tínhbản chất của con người Đó không chỉ là những biến đổi về lượng mà điều quan trọng
là những sự biến đổi về chất trong mỗi con người và sự chuyển hóa giữa chúng chonhau, là bước nhảy vọt của từng cá nhân về năng lực và phẩm hạnh phù hợp với sựphát triển và yêu cầu đặt ra của xã hội và thời đại Đồng thời sự phát triển nhân cáchcủa con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố tự nhiên vàcác yếu tố xã hội
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân là một quá trình lâu dài,liên tục và chịu ảnh hưởng, chi phối bởi nhiều yếu tố khác nha Trong các yếu tố đó,luôn có bốn yếu tố cơ bản: yếu tố bẩm sinh di truyền, yếu tố môi trường, yếu tố hoạtđộng cá nhân và yếu tố giáo dục
2.2.1 Yếu tố bẩm sinh, di truyền
a Khái niệm bẩm sinh, di truyền
Ngay từ khi sinh ra mỗi người đã kế thừa những phẩm chất sinh vật từ các thế
Trang 38hệ trước, mang dấu ấn đặc trưng của giống nòi đó là di truyền Di truyền là sự tái tạo
ở con cái những đặc điểm sinh học có ở cha mẹ Là sự truyền lại từ cha mẹ đến concái những phẩm chất và đặc điểm nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen (cấutạo cơ thể, loại hình thần kinh, tư chất )
Gen là vật mang mã di truyền của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Nhờ ditruyền mà những đặc điểm của loài được giữ lại, được phát triển và hoàn thiện Vậy di truyền là sự tái tạo ở thế hệ sau (con, cháu…) những đặc điểm sinh học(và cả một số thuộc tính tâm lý nhất định) của thế hệ trước và của loài thông qua cơchế gen Tuy nhiên, di truyền những đặc trưng sinh học của cha mẹ cho con cáikhông phải chỉ biểu hiện một cách rõ nét khi đứa trẻ mới sinh, mà có thể có nhữngmầm mống, tư chất sau một thời gian hay phải qua vài thế hệ sau mới bộc lộ thànhdấu hiệu của một số năng khiếu như hội hoạ, toán học,… hoặc thiểu năng về một sốlĩnh vực cần thiết của đời sống Bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểm sinh học cóngay từ khi đứa trẻ mới sinh ra
Như vậy, di truyền học đã chứng minh rằng, các thế hệ con người có thể truyềnlại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể như màu da, màu tóc, thể trạng, tưchất, về chức năng hoạt động các cơ quan… trước hết nó đảm bảo cho loài ngườithích ứng được với những biến đổi của các điều kiện sinh tồn, đồng thời tạo ra nhữngđặc điểm riêng biệt của mỗi cá thể người
b Vai trò của bẩm sinh di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Có thể nói trong sự hình thành và phát triển nhân cách, bẩm sinh di truyền đóngvai trò là tiền đề vật chất Tức nếu cá thể không thể tiếp nhận được vật chất di truyềncủa người sẽ không có được tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách Một
cơ thể lành mạnh, giác quan đầy đủ, hệ thần kinh bình thường sẽ tạo điều kiện cho sựphát triển nhân cách thuận lợi
+ Chương trình mang tính di truyền về sự phát triển con người trước hết đảm bảocho loài người tiếp tục tồn tại, làm phát triển các hệ giúp cơ thể con người thích ứngvới những biến đổi của các điều kiện tồn tại của nó Những thuộc tính được di truyềncủa cơ thể bao gồm cấu trúc giải phẩu sinh lý của cơ thể, những đặc điểm của cơ thểngười như màu mắt, màu da, màu tóc, vóc dáng thể trạng, những đặc điểm về hệ thầnkinh, các tư chất loài người về dáng đi đứng thẳng, các tư chất của hệ thần kinh
Trang 39+ Nếu không có bộ não người thì không thể nảy sinh các phẩm chất tâm lí, hìnhthành nhân cách của con người Bởi ngay từ khi lọt lòng mẹ trẻ đã kế thừa từ tổ tiên củamình cấu tạo và chức năng cơ thể, đã có một hệ thần kinh với bộ não người có khả năngtrở thành cơ quan hoạt động tâm lí cực kì phức tạp mà chỉ riêng con người mới có.+ Mỗi con người ít nhiều có khả năng bẩm sinh nào đó tức là những tư chất cósẵn trong cấu tạo của não bộ, của cơ quan vận động hoặc ngôn ngữ,… đây là điều kiện
có thể thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể nếu được phát hiện và bồi dưỡng.+ Yếu tố bẩm sinh di truyền tạo điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi cho conngười trong quá trình phát triển nhân cách Tuy nhiên, bẩm sinh di truyền không quyđịnh trước hình thái cụ thể trong tương lai của cá nhân, không quyết định trước sựphát triển về mặt xã hội, mặt tâm lí của cá nhân Những đặc điểm sinh học dù có ảnhhưởng lớn đến tài năng, xúc cảm, đến sức khỏe, thể chất của con người nhưng nóchỉ tạo tiền đề, khả năng cho người đó hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vựcnhất định với phạm vi khá rộng của mỗi lĩnh vực Song khả năng có trở thành hiệnthực hay không còn tùy thuộc vào điều kiện sống, giáo dục, học tập, rèn luyện cũngnhư hoạt động tích lũy kinh nghiệm của cá nhân Khoa học giáo dục đã khẳng địnhrằng tất cả các phẩm chất tâm lí của nhân cách đều chỉ có thể có được trong quá trìnhhoạt động lao động và giao lưu với người khác Khi mới lọt lòng con người không cósẵn một chương trình định trước nào về các hành vi tốt hay xấu Nói cách khác,không có sự chương trình hóa về mặt sinh học hành vi của con người trong xã hội.Con người khi mới sinh chưa bị lệ thuộc gì vào những giá trị đạo đức và những quanniệm đối xử sẵn có trong xã hội
c Một số quan điểm sai lầm về vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách
Quan điểm duy tâm trong thuyết “ưu sinh”, thuyết “định mệnh do di truyền” đãtuyệt đối hóa vai trò của di truyền Những người theo trường phái này họ cho rằng tưchất của con người được quy định trước hành vi của người đó, quy định trước phẩmchất và trình độ hoạt động trí tuệ của con người Theo họ, trẻ em sinh ra có nhữngyếu tố sinh học thuận lợi hoặc bất lợi sẽ quyết định mặt “thiên tài” hoặc “đần độn”sau này của trẻ
Phái nhi đồng học thì cho rằng, nhân cách, đạo đức của con người cũng mang
Trang 40tính di truyền vì thế cha mẹ thuộc tầng lớp nào sẽ quyết định vận mệnh của con cái
họ như vậy Theo họ, con cái của nhà bác học, những người giàu có sẽ trở thànhnhững người thông thái, thành đạt, giàu có, còn con cái của những người lao độngbình thường, những kẻ trộm cắp, rượu chè,…cũng sẽ như cha mẹ của chúng mà thôi
Có quan điểm lại phủ nhận hoàn toàn vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền, họcho rằng con người trở thành tốt, xấu, thiện ác, thông minh, hay ngu dốt,… hoàn toàn
do giáo dục mà ra
Từ vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đối với sự hình thành và phát triểnnhân cách, trong quá trình giáo dục cần đánh giá và chú ý đúng mức vai trò của yếu
tố bẩm sinh, di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân cách
- Tạo điều kiện để học sinh có được sự phát triển thể chất lành mạnh
- Quan tâm phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu tạo ra điều kiện thuận lợi cho sựphát triển tài năng ở học sinh
- Chú ý hướng dẫn học sinh rèn luyện, bảo vệ các giác quan, hệ thần kinh, não bộ,
- Hạn chế, cải tạo những yếu tố bất lợi do bẩm sinh di truyền mang lại cho conngười Không nên có định kiến với trẻ khuyết tật
- Giáo dục cần đảm bảo những điều kiện bình đẳng cho sự phát triển toàn diệncủa mọi người và của mỗi người, đồng thời không coi nhẹ việc đối xử thích hợp vớitừng học sinh theo những đặc điểm cá nhân của họ
Chú ý đúng mức vai trò của di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách, cần tránh các thái độ sau:
+ Không quan tâm tới những đặc điểm tư chất của học sinh và đòi hỏi học sinhphải có khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tập như nhau hoặc không chú ý đến tưchất thuận lợi ở một số học sinh cũng như không tìm cách hỗ trợ, giúp đỡ những họcsinh không có tư chất thuận lợi
+ Đề cao ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh đến mức cho rằng nhân cách là bẩmsinh và phủ nhận khả năng biến đổi bản chất con người
+ Hạ thấp vai trò của yếu tố giáo dục qua việc tổ chức giáo dục theo mức độphát triển đã bị quy định bởi yếu tố bẩm sinh