1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình giáo dục học đại cương 1 phần 2 - ĐH An Giang

30 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục và sự phát triển nhân cách
Trường học Đại Học An Giang
Thể loại Giáo trình
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 251,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Trong quá trình lĩnh hội và sử dụng những kinh nghiệm lịch sử xã hội, nhân cách được hình thành và ngày càng phát triển đầy đủ hơn. Trong quá trình đó các thế hệ sau không chỉ tiếp thu, lưu trữ, giữ gìn mà còn phát triển gía trị văn hoá xã hội, do đó góp phần phát triển xã hội. Cho nên, sự kế tục các thế hệ - đó là quy luật của sự tiến bộ xã hội. Giáo trình giáo dục học đại cương 1 phần 2 trình bày với bạn đọc nội dung của chương 2: Giáo dục và sự phát triển nhân cách, một số khái niệm về Giáo dục và sự phát triển nhân cách. Chúc các bạn học tốt.

Trang 1

Chương II: Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách

Một Số Khái Niệm Về Nhân Cách Và Sự Phát Triển Nhân Cách

Khái Niệm Con Người

1 The o Từ điể n Tiế ng Việ t, con người được hiể u :

• Là động vật tiến hóa nhất

• Có khả năng nói, tư duy, sáng tạo

• Sử dụng công cụ trong quá trình lao động sáng tạo

Trong Luận cương về Phơ bách, K Mác đã khẳng định về bản chất con nguời : “bản chất conngười không phải là cái trừu tượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó,bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”

Qua sự khẳng định của của Mác, chúng ta thấy có ba điều cần lưu ý :

• Con người tồn tại trong rầt nhiều mối quan hệ xà hội mà ngời đó tham gia

• Bản chất con ngưòi không phải là cái trưù tượng, vốn có của mỗi cá nhân Bản chất con ngườibao giờ cũng được thể hiện trong cuộc sống, trong lao động, nói một cách khác là trong hoạt động thựctiển

• Nhấn mạnh tính xã hội trong con người không có nghĩa là phủ nhận phần thể xác, phần tự nhiêncủa con người

Trong một con người, bao giờ cũng bao gồm hai bộ phận : Phần tự nhiên và phần xã hội

Chính K Mác đã chỉ ra : ”Con người là một thực thể tự nhiên trực tiếp, với tư cách là thực thể tựnhiên sống, con người được phú cho những sức mạnh tự nhiên, những sức sống đã trở thành thực thể tựnhiên hoạt động.”

2 Trái với quan điể m của K Mác về bản chất con người, có một số quan niệ m phiế n diệ n về con người sau :

• Con người như một tồn tại thần bí Quan điểm này cho rằng trong con người ta có một con ngườinhỏ xíu tồn tại và nó điều khiển con người thể xác mà ta thấy

• Con người tồn tại như một sinh vật Họ cho rằng cuộc sống của con người đều do bản năng quyếtđịnh Đó là các bản năng sống, chết, duy trì nòi giống…

• Con người tồn tại như một cái máy

• Con người chính trị

• Con ngưòi xã hội

• Con người là cái máy biết suy nghĩ biết yêu đương…

Trang 2

Khái Niệm Cá Nhân

Cá nhân là một con người cụ thể, là một thành viên của một xã hội nhất định, sinh sống và hoạtđộng trong những điều kiện xã hội nhất định

Cá nhân bao gồm hai phần:

- Về mặt thể chất

Cá nhân là một cơ thể sống, có đặc điểm chung về mặt hình thái và sinh lí của loài người

Cá nhân có những đặc trưng cho riêng mình

Các thuộc tính tâm lí của con người được hình thành thông qua các quá trình, trạng thái tâm lí

Hệ thống những thuộc tính tâm lí của con người là bộ phận quan trọng nhất trong đời sống tâm lícủa mỗi cá nhân con người

Trang 3

Khái Niệm Nhân Cách

1 Con người sống, hoạt động trong các mối quan hệ đa dạng.

Khi con người được nhìn nhận là một đại diện cho loài người thì đó là một cá nhân

Khi con người tham gia vào các hoạt động có mục đích có ý thức thì con người được xem nhưmột chủ thể

Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tham gia tích cực vào các mốiquan hệ xã hội thì con người được xem như là nhân cách

Có thể biểu diễn cách hiểu trên theo sơ đồ sau:

2 Như vậy, khi nói tới khái niệ m nhân cách, phải xe m xé t:

- Nó bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người

- Những thuộc tính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữ con người và conngười trong xã hội…

Khi nói tới nhân cách, cần nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của nó, đó là cácgiá trị, bao gồm:

Các giá trị tư tưởng

Các giá trị đạo đức

Các giá trị nhân văn

Hệ thống các giá trị này được hình thành và cũng cố bởi năng lực nhận thức kinh nghiệm sống củamỗi cá nhân trong quá trình thể nghiệm lâu dài Nội dung của định hướng giá trị là niềm tin, thế giớiquan đạo đức, nguyên tắc sống… của con người

3 Khi nói tới nhân cách con người Việ t Nam, ta thấy có sự thống nhất biệ n chứng giữa các mặt phẩm chất (đức) và năng lực (tài)

- Đức : Hệ thống thái độ của con người

- Tài : Hiệu quả tác động của nhân cách tới các đối tượng xung quanh

Đức bao gồm các mặt:

Các phẩm chất xã hội : Các quan điểm niềm tin tư tưởng – chính trị, thế giới quan khoa học, thái

độ đới với các hoạt động

Các phẩm chất cá nhân: Nếp sống, thói quen, những ham muốn…

Các phẩm chất ý chí: Tính kỉ luật, tính tự giác, tính tự chủ, tính mục đích…

Tài bao gồm các mặt:

Trang 4

Khả năng thích ứng, năng lực sáng taọ, linh hoạt, mềm dẽo trong cuộc sống, hoạt động.

Khả năng biểu hiện tính độc đáo, biểu hiện cái riêng cái bản lĩnh của cá nhân

Khả năng hành động

Hành động có mục đích, có điều khiển, chủ động, tích cực, sáng tạo, đạt kết quả tốt…

+ Khả năng giao tiếp

Xây dựng, duy trì được các mối quan hệ tốt đẹp vời mọi người xung quanh

4 Như vậy, chúng ta có thể hiể u nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lí của mỗi người, là tổng thể những phẩm chất và năng lực tạo nê n bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi người.

Trang 5

Khái Niệm Cá Thể - Cá Tính - Sự Phát Triển Nhân Cách

1 Khái niệ m cá thể

Cá thể là chỉ một con vật riêng lẻ, phân biệt với chủng loại

Như vậy khái niệm cá thể hiểu giống khái niệm cá nhân nhưng nó chỉ dùng chỉ con vật (Khái niệm

cá nhân dùng chỉ một người cụ thể ; khái niệm cá thể dùng để chỉ một con vật cụ thể )

2 Khái niệ m cá tính

Chỉ tính cách đặc trưng của mỗi người, nó phân biệt giữa người này và người khác

3 Khái niệ m sự phát triể n nhân cách

Con người sinh ra chưa có nhân cách Chính trong quá trình sống, hoạt động, giao lưu … mà conngười tự hình thành và phát triển nhân cách của mình bằng con đường xã hội : Lĩnh hội các di sản vănhóa vật chất và tinh thần của loài người

3.1 The o quan điể m duy vật biệ n chứng, sự phát triể n được hiể u là:

Là sự tích lũy về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất

Sự phủ định cái cũ và xuất hiện cái mới

Động lực của sự phát triển là giải quyết các mâu thuẩn bên trong của sự vật hiện tượng

3.2 Cần chú ý, sự phát triể n nhân cách và sự phát triể n cá nhân không phải là một.

- Sự phát triển cá nhân bao gồm các mặt phát triển sau:

- Vì nhân cách là bộ mặt xã hội – tâm lí của mỗi người nên sự phát triển nhân cách phải được hiểu

sự phát triển mặt tâm lí xã hội của con người

Trong các sách giáo dục học trước đây, một số tác giả có sự hiểu biết lẫn lộn giữa sự phát triểnnhân cách và sự phát triển cá nhân Nếu quan niệm như vậy thì có thể hiểu khái niệm cá nhân là kháiniệm nhân cách Nhưng trong thực tế, hai khái niệm này không phải là một!

Sự phát triển nhân cách là quá trình biến đổi không chỉ về lượng mà cả những biến đổi về chấttrong mỗi nhân cách Đó là quá trình nảy sinh cái mới và hủy diệt cái cũ

3.3 Sự hình thành và phát triể n nhân cách chịu ảnh hưởng của nhiề u nhân tố, trong đó có hai nhân tố cơ bản sau:

Trang 6

- Nhân tố sinh học

- Nhân tố xã hội

Các nhân tố này tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách không phải có giá trị song songhoặc bằng nhau hoặc độc lập đối với nhau Vì vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩyđến sự hình thành và phát triển nhân cách cần phải thật sự khách quan, đúng đắn và khoa học

Trang 7

Vai Trò Các Yếu Tố Bẩm Sinh Di Truyền, Môi Trường Trong Sự Phát Triển Nhân Cách

Vai Trò Yếu Tố Bẩm Sinh Di Truyền

Bẩm sinh là sinh ra đã có

Di truyền là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những đặc điểm giống chúng (sự tái tạo ở trẻ

em những thuộc tính sinh học của cha mẹ)

Vai trò của bẩm sinh – di truyề n trong sự hình thành và phát triể n nhân cách:

Vấn đề di truyền những tư chất và nhất là các năng lực (nghệ thuật, khoa học, kiến trúc…) ở trẻ

em là một vấn đề quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục

Di truyền tạo sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đóhoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực nhất định

Nhà giáo dục cầøn quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tự nhiên đó của con người ;cần phát hiện sớm, có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng kịp thời nhằm phát triển tài năng chotrẻ em

Di truyền không quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội loài người

Di truyền tạo ra tiền đề cho sự phát triển nhân cách

Trên cơ sở tiền đề ấy, phải có môi trường sống thích hợp, hoạt động tích cức và được sựgiáo dục đúng đắn thì bẩm sinh di truyền mới trở thành hiện thực

Quá trình phát triển con người xét về mặt sinh lí cũng là một quá trìnhphức tạp

Cần chú ý :

Chú ý đúng mức đến vai trò của di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân cách

Nếu xem nhẹ yếu tố bẩm sinh di truyền thì chúng ta đã bỏ qua một tiền đề quan trọng cho sựhình thành và phát triển tâm lí

Nếu đánh giá quá cao yếu tố bẩm sinh di truyền sẽ dẫn tới sai lầm về mặt nhận thức, phủnhận khả năng biến đổi bản chất của con người, phủ nhận vai trò của giáo dục và tự giáodục

Trang 8

Vai Trò Của Môi Trường Sống Trong Sự Hình Thành Và Phát

Triển Nhân Cách

Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cầnthiết cho hoạt động sống và phát triển của con người

Môi trường sống được chia thành 2 loại :

Môi trường tự nhiên : bao gồm các điều kiện tự nhiên – sinh thái phục vụ cho hoạt động củacon người

Môi trường xã hội, bao gồm :

Môi trường chính trị : chế độ chính trị, giai cấp…

Môi trường kinh tế sản xuất : chế độ kinh tế, quan hệ sản xuất, cơ sở sản xuất – kinh doanh …

Môi trường sinh hoạt xã hội: gia đình, các tổ chức phục vụ sinh hoạt cộng đồng

Môi trường văn hóa: hệ tư tưởng, nhà trường, cơ quan văn hóa - giáo dục, phương tiện thông tinđại chúng…

Môi trường xã hội được chia thành 2 loại :

Môi trường lớn : đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế,

hệ thống các quan hệ sản xuất…

Môi trường nhỏ : là một bộ phận của môi trường lớn trực tiếp bao quanh trẻ, đó là : gia đình, nhàtrường, bạn bè, đoàn - đội, người lớn thân thuộc, cơ sở sản xuất mà trẻ tham gia, cơ sở văn hóađịa phương…

Vai trò môi trường trong sự hình thành và phát triể n nhân cách

Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường nhất định Môitrường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện, điều kiện cho hoạt động giaolưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hóa để hìnhthành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình

Tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách tùythuộc :

Lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó (tiếp thu, chấp nhậnhay phủ định phản đối)

Xu hướng, năng lực của cá nhân tham gia vào cải biéân môi trường (tích cực hay tiêu cực,mạnh hay yếu)

Trong sự tác động qua lại giữa môi trường và nhân cách, cần chú ý đến hai mặt của vấn đề :

Tính chất tác động của hoàn cảnh sống đã phản ánh vào nhân cách

Tính tích cực của nhân cách tác động đếùn hoàn cảnh nhằm mục đích làm cho hoàn cảnhphục vụ nhu cầu và lợi ích của cá nhân

Trang 9

(Quan hệ giữa môi trường sống và nhân cách là mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, quan hệ haichiều)

Khi bàn về mối quan hệ giữa môi trường sống và con người, K.Mác đã khẳng định : “Hoàn cảnhsáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh”

Khi bàn về việc xây dựng con người mới XHCN Việt Nam, Đảng CS Việt Nam cũng đã khẳngđịnh : Con người mới vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể có ý thức của xã hội Con người mới Việt Nam

là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng, đặc biệt việc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội

có ý nghĩa to lớn và quyết định đối với sự hình thành con người mới Song con người mới là chủ thể

có ý thức của xã hội Phải bằng kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng, phải thông qua hoạt độngthực tiễn, thông qua lao động và đấu tranh thì những thành viên của xã hội mới cải tạo được mình vàdần dần trở thành con người mới

Trong quá trình giáo dục con người, cần gắn chặt từng bước việc học tập và giáo dục với thựctiễn cải tạo và xây dựng xã hội và đấu tranh cách mạng

Trong quá trình giáo dục học sinh, cần lưu ý một số điểm sau :

Từng bước gắn việc giáo dục và học tập của học sinh với việc cải tạo và xây dựng xã hội Xây dựng cho học sinh có các giá trị đúng đắn

Giúp học sinh chiễm lĩnh những ảnh hưởng tích cực của môi trường sống, phê phán nhữngảnh hưởng tiêu cực của nó đến học sinh

Tổ chức cho học sinh tích cực tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường có tácdụng giáo dục

Xã hội kết hợp với nhà trường có kế hoạch “sư phạm hóa” từng bước môi trường, quan tâmđến việc bảo vệ học sinh trước ảnh hưởng xấu…

Cần đánh giá đúng đắn vai trò của môi trường sống trong sự phát triển nhân cách

Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách là sai lầm về mặt nhậnthức, cho rằng mọi cái đều do hoàn cảnh, rơi vào thuyết “Định mệnh do hoàn cảnh” Thuyếtnày hạ thấp, thủ tiêu vai trò của giáo dục…

Hạ thấp, phủ nhận vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách dẫn đễn “thuyết giáodục là vạn năng”, giáo dục con người theo xu hướng cải lương…

Trang 10

Vai Trò Của Giáo Dục Trong Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách

1 Khái niệ m về giáo dục

1.1 Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch,thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh kinhnghiệm xã hội của loài người

1.2 Theo nghĩa hẹp : giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi …nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội

2 Vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triể n nhân cách

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách :

Giáo dục định hướng, dẫn dắt đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Tính định hướng vàdẫn dắt của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách được thể hiện ở các điểm sau :

Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục tổ chức, dẫndắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng đó

Điều này được thể hiện qua : mục đích giáo dục, mục tiêu cấp học

Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố di truyền, môi trường sống không thể cóđược

Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật Nhờ có giáo dục mà nó cóthể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người

Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lí xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướngmong muốn của xã hội

Giáo dục không chỉ thích ứng, mà còn đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển

Sự phát triển tâm lí trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong điều kiện của dạy học và giáodục

Khi bàn về vai trò yếu tố giáo dục trong sự phát triển tâm lí con người, Bác Hồ đã viết trong bàithơ “Nửa đêm” :

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nhật kí trong tù)

3 Để phát huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục đảm bảo các yê u cầu sau

- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục

Trang 11

Giáo dục không chỉ là sự tác động một chiều của những người làm công tác giáo dục tới thế hệ trẻ

mà nó còn bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người được giáo dục trong mối quan hệ haichiều giữa nhà giáo dục và học sinh

- Giáo dục chỉ có thể đảm bảo sự phát triển nhân cách nếu có được chõ dựa là :

Tư chất vốn có ở mồi người

Hoạt động tích cực (tự vận động) của mỗi người trước khi tác động bên ngoài

Ở đây ta thấy có sự thống nhất giữa tác động bên ngoài (giáo dục) và điều kiện bên trong (tư chất hoạt động tích cực cá nhân)

Dạy học và giáo dục phải được xây dựng theo nguyên tắc phát triển và đón trước được sự pháttriển tâm lí

- Giáo dục không phải là vạn năng, nó cũng không hạ thấp, thủ tiêu các yếu tố khác

4 Công tác giáo dục sẽ thành công khi người được giáo dục ý thức được, chấp nhận các yêu cầucủa nhà giáo dục, biến chúng thành của bản thân, làm cho họ tự đề ra mục đích phấn đấu, rèn luyện…Điều đó có nghĩa là người được giáo dục phải tích cực hoạt động

Hoạt động cá nhân giữ vai trò quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách

Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tự thân vận động, về động lực của sự phát triển nhâncách

Trong quá trình giáo dục, nhà trường cần tổ chức được các hoạt động phong phú, đa dạng để cuốnhút học sinh tham gia

Trang 12

Đặc Điểm Phát Triển Nhân Cách Học Sinh Trung Học

1 Sự phát triể n nhân cách trẻ e m diễ n the o thời gian, mang tính quy luật, chu kỳ nhất định trong sự luân phiê n các hình thái phản ánh các dạng hoạt động chủ đạo

Nếu chụp ảnh một người lớn rồi sau đó thu nhỏ lại thì dù cho làm cách nào chăng nữa cũng khôngthể có được hình ảnh của một đứa trẻ…Thân hình người lớn khác thân hình trẻ em không chỉ về độ lớn

mà còn ở các đường nét, tỉ lệ…(có sự khác nhau về chất) Đó là nói về mặt thể chất

Còn về mặt nhân cách, người ta thấy rằng nhân cách người lớn không phải là nhân cách trẻ emđược phóng to, tăng lên số lượng, trình độ mà chúng khác nhau về chất giữa một người trưởng thành vàmột đứa trẻ, thậm trí giữa lứa tuổi này và lứa tuổi khác

Như vậy, cho phép ta khẳng định: Sự hình thành và phát triển nhân cách con người diễn ra theo mộtquá trình biện chứng

Mỗi giai đoạn phát triển nhân cách đều có sự nhảy vọt về chất và tạo tiền đề cho giai đoạn tiếptheo

Mỗi giai đoạn lứa tuổi đều có liên quan đến:

Giáo dục phải được xây dựng mang tính chất của một quá trình:

• Xây dựng được nội dung

• Lựa chọn các hình thức tổ chức

• Xây dựng được các phương pháp, phương tiện tác động…

Giáo dục phải phù hợp với các giai đoạn phát triển nhân cách trẻ em

2 Sự hình thành và phát triể n nhân cách của trẻ e m thường được chia thành các mốc sau

2.1 Thời kì trước khi đế n trường phổ thông.

Thời kì này được chia làm ba giai đoạn:

Tuổi sơ sinh

Tuổi nhà trẻ

Tuổi mẫu giáo

2.1.1 Tuổi sơ sinh (từ lúc ra đời đế n khoảng 12 tháng).

Trang 13

Trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời, sự phát triển trẻ em gắn với hai hoạt động sau:

Giao lưu của trẻ em với cha mẹ, người lớn

Hành động của trẻ với đồ vật

Trong những ngày tháng đầu đời này, hoạt động nhận thức của trẻ hết sức sơ đẳng Trẻ chỉ có thểtri giác được các đối tượng (đồ vật) nổi bật, tách biệt so với các đồ vật khác Hoạt động phản ánh vàvận động còn đơn giản song nó là tiền đề cho giai đoạn sau (tuổi nhà trẻ), làm phát triển các hình tháiđơn giản nhất của thao tác đối với đồ vật, chuẩn bị cho trẻ tham gia hoạt động chơi và sáng tạo saunày

2.1.2 Tuổi nhà trẻ (từ 1 tuổi đế n 3 tuổi)

Đặc trưng cơ bản của tuổi nhà trẻ là các em đã biết nói, biết đi Chính điều đó đã giúp cho trẻ mởrộng phạm vi tiếp xúc với các vật thể xung quanh, quan sát các đồ vật ở nhiều góc độ khác nhau

Việc biết nói, nắm được ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nhân cách trẻ em.Trẻ nắm được những tín hiệu cơ bản về kích thích cà ức chế (nên và không nên, được và khôngđược…) , các tín hiệu đánh giá (tốt, xấu) Trẻ đã biết tách mình ra khỏi những ngời xung quanh, hạnchế sự làm thay của người lớn…

2.1.3 Tuổi mẫu giáo (từ 3 tuổi đế n khoảng dưới 6 tuổi)

Ở tuổi này, tốc độ phát triển và tăng trưởng về chiều cao và cân nặng vẫn còn cao (nhưng so vớihai giai đoạn trước thì không bằng) cùng với sự biến đổi về giải phẫu sinh là cơ thể Chính điều này

đã tạo điều kiện cho trẻ làm việc được tốt hơn trước

Tuy vẫn còn hay bắt chước ngưòi khác, đặc biệt những người lớn trong gia đình (ông bà, cha mẹ,anh chị) nhưng ở các em đã có sự lựa chọn rõ rệt hơn Các em ngày càng muốn tự lập hơn, muốn suynghĩ và hành động theo ý riêng mình

2.2 Thời kì học trường phổ thông.

Thời kì học trường phổ thông được chia thành ba giai đoạn:

• Tuổi nhi đồng

• Tuổi thiếu niên

• Tuổi thanh niên mới lớn

2.2.1 Tuổi nhi đồng (từ 6 -7 tuổi đế n 11 - 12 tuổi)

Lứa tuổi này các em theo học bậc tiểu học, học từ lớp 1 đến lớp 5 Tuổi này được đặc trưng bằngviệc, các em đi học, thực sự bắt tay vào việc lĩnh hội nền văn hóa – sản phẩm của xã hội loài người đãtích lũy được trong suốt chiều dài lịch sử phát triển Từ hoạt động vui chơi là chủ yếu ở lứa tuổi mẫugiáo, các em chuyển sang hoạt động học tập một cách có ý thức và hệ thống trong trường học đã làmthay đổi cơ bản toàn bộ cuộc sống của các em Nếu như trước đây, ở nhà trẻ và lớp mẫu giáo, các emchỉ hoạt động chân tay, chỉ biết các trò chơi là chủ yếu thì nay, vào lớp 1, các em phải ngồi ttrong lớp

Trang 14

hàng giờ, chú ý điều giáo viên nói, làm, thực hiện ngay các yêu cầu của thầy cô giáo Trước đây, ở lớpmẫu giáo, các em chỉ biết những điều cần thiết cho trò chơi hay công việc lao động phục vụ thì nay các

em lớp một phải làm, phải biết những công việc cần thiết nhưng có thể không hấp dẫn

Việc tham gia hoạt động học tập nó sẽ kích thích mạnh mẽ sự phát triển của các chức năng của bộnão Đó là điều kiện cần thiết cho sự phát triển tư duy cho các em, nhất là sự chuyển dần từ tư duy hìnhtượng đồ vật sang tư duy trừu tượng lời nói

Được sự dạy dỗ tích cực của thầy cô, học sinh bậc tiểu học cũng có thể dần dần lĩnh hội được cơ

sở thực sự của các khoa học về tự nhiên, về xã hội, về con người Một điểm quan trọng ở tuổi nhi đồng

là các em còn có thể nắm được chính những cơ sở của phương pháp học tập, các thao tác tư duy, củaviệc khám phá tìm tòi tri thức của loài người

Lứa tuổi này các em thường dựa vào những kinh nghiệm cảm tính, ở các biểu tượng, các ấn tượngcủa bản thân, những tri thức gần gũi cuộc sống thực tế của các em

Trong quá trình giảng dạy, các thầy cô giáo ngoài việc khuyến khích các em nâng cao tài liệu cảmtính còn phải dẫn dắt các em biết cách suy nghĩ, biết tìm ra các mối liên hệ có tính quy luật, bản chấtcủa các đối tượng

Điểm hạn chế trong sự phát triển trí tuệ của các em bậc tiểu học là:

Hay đãng trí trong các công việc ít hoặc không có hứng thú

Khó tập trung vào công việc, tài liệu học tập thiếu sự hấp dẫnvề mặt xúc cảm trực tiếp

Do đó trong công tác giáo dục, cần giáo dục cho các em:

Không nên chỉ chú ý, thích thú với công việc dễ chịu, thích thú mà còn chú ý, hoạt động với côngviệc ít hứng thú…

Rèn kuyện khả năng chú ý bền vững

Rèn luyện năng lực tổ chức, điều chỉnh hoạt động trong hoạt động học tập…

Một đặc điểm quan trọng của tuổi nhi đồng là các em rất ham thích và hăng say hoạt động (tínhhiếu động) Vì hiếu động quá mà các em không kềm chế, điều khiển được hoàn toàn hành vi của mìnhtrong lớp học Điều này sẽ dẫn tới tình trạng các em thường dễ bị kích động, thiếu kềm chế và vô tổchức

Trong việc giáo dục trẻ em cần luư ý:

Không nên cấm trẻ em vận động

Làm cho tính hiếu động của trẻ được biểu hiện dưới những dạng, hình thức đúng đắn

Tổ chức cho trẻ hoạt động đa dạng, hấp dẫn

2.2.2 Tuổi thiế u niê n (ké o dài từ 11-12 tuổi đế n 14 - 15)

Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm lí là đặc trưng nỗi bậc nhất của tuổi thiếu niên Do sựphát triển mạnh mẽ này, đặc biệt là sự “nhảy vọt“ về sinh lí, liên quan đến hiện tượong dậy thì, phátdục khiến cho các em có sự thay đổi từ trẻ nhỏ thành người lớn, từ giai đoạn ấu thơ sang trưởng thành

Do sự thay đổi này mà các em bắt đầu chú ý đến cơ thể và vẽ bên ngoài của mình

Thiếu niên tham gia ngày càng nhiều hơn vào đời sống của người lớn:

Bước đầu đảm nhận một số công việc của người lớn

Trang 15

Gánh vác ngày càng tăng trách nhiệm đối với gia đình.

Từ đó mà thái độ của người lớn đối với các em cũng có sự thay đổi, thể hiện ở chỗ người lớnkhông còn coi các em là những trẻ nhỏ nữa Song sức mạnh thể chất và tinh thần của thiếu niên cònchưa đủ để các em có thể làm được công việc của người lớn, thức hiện những kế hoạch của người lớncủa mình

Các em chưa thấy được sự hạn chế về thể lực của mình Do ý thức được sự phát triển về thể chấtcủa mình mà thiếu niên mong muốn khẳng định các giá trị của phẩm chất và năng lực bản thân, mongmuốn tự lập, mong muốn làm những công việc có ý nghĩa Điều đó sẽ làm tăng hơn tính tích cực, độclập của các em, phát triển sự sáng tạo, thu hút các em vào cuộc sống, nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụcủa các em đối với mọi người, trước hêt trong gia đình Những đặc điểm trên của tuổi thiếu niên là cơ

sở cần thiết để hình thành và phát triển xu hướng xã hội cho chính lứa tuổi này

Một điểm cần lưu ý trong đặc điểm của mỗi thiếu niên là các em cũng gây ra nhiều bận tâm, lolắng cho cha mẹ và thầy cô giáo Người lớn, cha mẹ thường phàn nàn về tính ngang bướng, vụng về,thô lỗ, dễ bị kích động… của các em

Do đang diễn ra quá trình đánh gía lại các giá trị mà các em thường :

Phê bình và đòi hỏi chặt chẽ người lớn

Tự đánh giá không khách quan

Ở tuổi này có những đặc điểm tâm lý sau:

Tính tình thay đổi bất thường, vô nguyên cớ

Sự thay đổi nhanh chóng từ e thẹn, nhút nhát, thờ ơ một cách bất ngờ…

Sự thay đổi bất ngờ trên đây của thiếu niên đã được nhà tâm lí học Hunggari mô tả như dưới đây:

“Cái xứ sở kì lạ đó là cái sứ sở của thiếu niên Nó đầy những cái đặc biệt,thần diệu và kì lạ Biên giới của nó quanh co, mơ hồ, linh động lạ lùng Nhiều khi bản thân các cư dân của nó cũng không biết mình bước qua biên giới lúc nào và ở đâu Họ lại càng ít nhận thấy mình rời bỏ vào lúc nào và như thế nào cái sứ sở hỗn độn này, trong đó đôi khi có nhiều cái lộn ngược Khí hậu xứ sở này rất thất thường và kì quặc, Khi thì nóng nực như ở vùng nhiệt đới, khi thì bỗng đổi sang lạnh như băng, chẳng qua một sự chuyển tiếp nào cả Có cả mùa xuân hoa nở tưng bừng, có cả màu thu

lá rụng tơi tả, nhưng hai màu này không phải tuần tự nối theo nhau, với lại đôi khi mùa đông cũng đôi khi đột nhập vào mùa hạ, và màu thu đôi khi cũng xuất hiện trong mùa xuân Nhưng ngay cả dân cư của xứ sở lạ lùng này cũng chẳng nhất quán gì hơn Họ tỏ ra cực đoan trong cách cư xử của họ Khi thì rất vui vẻ, ồn ào, khi bỗng trầm ngâm lặng lẽ, khi thì họ là những anh hùng quả cảm, khi thì họ bỗng quay ra sợ sệt, yếu đuối Đôi khi họ ngờ vực và không tin vào mình Đôi khi

họ rất khiêm tốn và kín đáo, đôi khi họ rất buông tuồng trân tráo…"

Trong các xứ sở kì lạ này không có trẻ con và cũng chẳng thấy người lớn Dân bản xứ tự tách mình

ra khỏi trẻ em vì họ đã bắt đầu khinh thường trẻ em Người bản xứ theo dõi sao cho đừng có đứa trẻnào xâm nhập vào cái xã hội hỗn độn của họ, vì họ cảm thấy bản chất phi thường của mình, cách cư xửcủa mình không phải bao giờ cũng được ngưòi lớn thừa nhận, nhưng bản thân họ lại muốn làm ngườilớn Dân xứ thiếu niên này không phải bao giờ cũng được người lớn hiểu biết và đối xử có cảm tình :Người lớn trách họ vì những hành động vô nghĩa, mắng mỏ họ và lên án họ Có những người lớn khẳngđịnh: Dân xứ sở này không chịu thừa nhận uy quyền và tập quán, không biết kính trọng các bậc đàn anh

và những người có kinh nghiệm, không hề chú ý đến công luận, rằng trong lòng họ chỉ có thái độ trơ

Ngày đăng: 20/05/2021, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w