1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Giáo dục học đại cương - Nguyễn Thị Bích Hồng & Võ Văn Nam

111 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Giáo dục học đại cương gồm có 4 chương, mỗi chương đều giới thiệu mục tiêu học tập định hướng cho sinh viên trong việc tìm hiểu nội dung đồng thời giúp sinh viên tự thẩm định kết quả học tập của mình. Ngoài phần trình bày lý thuyết, tài liệu còn đưa ra những câu hỏi hướng dẫn học tập và thảo luận ở cuối chương để sinh viên có thể tự học cùng với việc tiếp thu bài giảng trên lớp.

Trang 1

GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG

GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG

Biên soạn: NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG - VÕ VĂN NAM

LỜI NÓI ĐẦU

Giáo dục học là một môn học trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ tác nghiệp cho sinh viên sư phạm Việc giảng dạy, học tập bộ môn Giáo dục học

và học phần Giáo dục học đại cương đòi hỏi sinh viên phải tham khảo nhiều nguồn tài liệu và đối chiếu lý luận với thực tiễn giáo dục ở nhà trường Để hỗ trợ việc học tập của sinh viên, chúng tôi biên soạn tài liệu “Giáo dục học đại cương” theo chương trình phần giáo dục cốt lõi chuyên nghiệp cho các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm trong quyết định số 2677/GD

- ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo

Tài liệu gồm có 4 chương Mỗi chương đều giới thiệu mục tiêu học tập định hướng cho sinh viên trong việc tìm hiểu nội dung đồng thời giúp sinh viên

tự thẩm định kết quả học tập của mình Ngoài phần trình bày lý thuyết, tài liệu còn đưa ra những câu hỏi hướng dẫn học tập và thảo luận ở cuối chương để sinh viên có thể tự học cùng với việc tiếp thu bài giảng trên lớp Một vài triết lý giáo dục được nêu lên ở đầu chương nhằm nhấn mạnh ý nghĩa bài học đồng thời làm nổi bật tính chất sư phạm của một tài liệu thuộc lĩnh vực giáo dục Tài liệu đã cố gắng cập nhật tri thức và liên hệ lý luận với thực tiễn để giúp sinh viên tiếp thu môn học thuận lợi hơn

Tài liệu đã được điều chỉnh dựa trên nhận xét phản biện của Giáo sư Bùi Ngọc Hồ và ý kiến của Hội đồng thẩm định gồm một số giảng viên Tổ Giáo dục học, khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm TPHCM

Nhóm biên soạn chân thành đón nhận và cảm ơn các ý kiến đóng góp

để tài liệu được hoàn chỉnh nhằm phục vụ tốt hơn cho việc học tập của sinh viên trong quá trình đào tạo ở nhà trường sư phạm

Trang 2

Nhóm biên soạn

Võ Văn Nam và Nguyễn Thị Bích Hồng

Bài mở đầu

Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC HỌC

Mục tiêu: Sau bài học này, người học có khả năng

1 Về kiến thức:

a Biết cấu trúc chương trình học

b Xác định mục tiêu của học phần “Giáo dục học đại cương”

2 Về thái độ:

a Khẳng định sự cần thiết của việc nghiên cứu và vận dụng tri thức Giáo dục học đối với giáo viên trong công tác giáo dục học sinh

b Chủ động tìm hiểu nội dung môn học

“Nghệ thuật giáo dục có một đặc điểm là một việc mà ai cũng có thể hiểu được, nhận thức được, thậm chí có một số người cho là một việc dễ dàng Thật ra, chính những người cho giáo dục là dễ và quen thuộc lại là những người trên thực tế cũng như trên lý luận chẳng hiểu gì về giáo dục cả”

K D Usinxki (Nga; 1824 - 1870):

Nội dung bài học:

I Giáo dục học với việc giáo dục con người

Giáo dục là hoạt động nhằm rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách cho con người Hoạt động này không thể tiến hành một cách tùy tiện theo những ý muốn chủ quan hay kinh nghiệm riêng lẻ mà phải dựa trên những hướng dẫn

có tính khoa học

Giáo dục học là khoa học nghiên cứu về việc giáo dục con người Những ai quan tâm đến việc giáo dục con người đều có thể tìm thấy trong Giáo dục học những chỉ dẫn cần thiết về phương hướng, biện pháp và cách thức tổ chức giáo dục để đạt kết quả mong muốn

Trang 3

Vì vậy nghiên cứu Giáo dục học có tầm quan trọng đối với mỗi người tùy theo góc độ quan tâm của họ

II Ý nghĩa của việc nghiên cứu Giáo dục học

a Đối với giáo viên

Một trong những điều kiện để giáo viên có thể phát triển năng lực sư phạm, có thể giải quyết tốt các nhiệm vụ giáo dục là phải có kiến thức, kỹ năng, thái độ nghiêm túc trong việc nắm bắt các quy luật, các phương pháp giáo dục , tức là phải nắm vững khoa học giáo dục

Giáo dục học là một môn học nghiệp vụ, trang bị tay nghề cho giáo viên, giúp họ thực hiện tốt đẹp sứ mạng giáo dục thế hệ trẻ đã được xã hội giao phó Cụ thể là:

- Nghiên cứu Giáo dục học giúp giáo viên có cơ sở lý luận vững chắc

để tổ chức tốt quá trình giáo dục ở nhà trường Tri thức Giáo dục học định hướng cho giáo viên trong việc thiết kế, tổ chức các hoạt động giảng dạy và học tập; hoạt động giáo dục và rèn luyện cụ thể đối với học sinh Giáo viên biết vận dụng tri thức Giáo dục học một cách phù hợp sẽ xây dựng được những tác động giáo dục hiệu quả và gặt hái thành công trong công tác giáo dục, chứng tỏ được bản lĩnh nghề nghiệp của mình Ngược lại nếu không quan tâm nghiên cứu vận dụng Giáo dục học trong các tác động giáo dục học sinh, giáo viên sẽ có nhiều sai sót và cho thấy trình độ nghề nghiệp còn non yếu Trong thực tiễn giáo dục học sinh, phần lớn những sai sót của giáo viên đều do họ đã xa rời lý luận, không tuân thủ các nguyên tắc giáo dục cơ bản

mà Giáo dục học đã xác định

- Nghiên cứu Giáo dục học giúp giáo viên làm tròn chức năng tham mưu, cố vấn hướng dẫn công tác giáo dục của gia đình và xã hội Để công tác giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa

ba lực lượng giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong sự phối hợp giáo dục học sinh là con em của các gia đình và là công dân của xã hội Vì vậy ngoài việc trực tiếp giáo

Trang 4

dục học sinh, giáo viên còn có chức năng hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động giáo dục của gia đình, xã hội và thống nhất các tác động giáo dục này đối với học sinh để tạo hiệu quả giáo dục cao nhất Tri thức Giáo dục học giúp giáo viên

có cơ sở khoa học để giải thích, hướng dẫn và tổ chức phối hợp các hoạt động giáo dục của gia đình và xã hội theo định hướng giáo dục của nhà trường

- Nghiên cứu Giáo dục học giúp giáo viên rèn luyện nâng cao năng lực

sư phạm, làm cho hoạt động nghề nghiệp ngày càng tinh xảo Thực tế hoạt động giáo dục sẽ tạo nên nhiều kinh nghiệm quý báu để mỗi giáo viên điều chỉnh và phát huy khả năng hoạt động nghề nghiệp của bản thân Vì vậy có những giáo viên tuy không được trang bị tri thức Giáo dục học nhưng họ vẫn thành công trong nghề nghiệp bằng cách tự học hỏi, tự đúc kết kinh nghiệm

để rèn luyện tay nghề thông qua hoạt động giáo dục trong thực tiễn Tuy nhiên, nếu giáo viên được trang bị Giáo dục học hoặc luôn chú trọng nghiên cứu Giáo dục học thì hoạt động nghề nghiệp của họ sẽ không diễn ra một cách mày mò với nhiều vấp váp mà sẽ nhanh chóng thành công ở đỉnh cao của nghệ thuật giáo dục

b Đối với các bậc cha mẹ

Gia đình có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách trẻ em Giáo dục gia đình thành công không chỉ mang lợi ích cho từng cá nhân con người

mà còn liên quan đến hạnh phúc gia đình và sự tiến bộ của xã hội Trên thực

tế các bậc cha mẹ thường tiến hành giáo dục con bằng những kinh nghiệm ít

ỏi vốn có, thiếu tính hệ thống nên gặp nhiều lúng túng, khó khăn Việc nghiên cứu Giáo dục học giúp các bậc cha mẹ có thể thực hiện việc giáo dục con khoa học hơn và hiệu quả hơn

Giáo dục con cái là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống chúng ta Con cái chúng ta là những công dân tương lai của nước ta và thế giới Chúng

sẽ làm nên lịch sử Con chúng ta sẽ là những người cha và người mẹ tương lai, chúng cũng sẽ phải nuôi dạy con cái sau này Con chúng ta phải trở thành những công dân tốt, cha mẹ tốt Mặt khác, tuổi già của chúng ta phụ thuộc ở

Trang 5

con cái Được giáo dục tốt chúng sẽ làm cho tuổi già của chúng ta sung sướng, không được giáo dục tốt, chúng sẽ làm cho chúng ta đau khổ và chính chúng ta lại là người chịu trách nhiệm về chúng trước tổ quốc

(A.C Macarenko)

c Đối với các cán bộ xã hội và các nhà quản lý giáo dục

Hoạt động giáo dục diễn ra không chỉ trong nhà trường mà cả ở những đơn vị, tổ chức xã hội (nhà văn hóa, cơ quan truyền thông, trại giam Giáo dục học giúp cho các nhà quản lý, các cán bộ chuyên trách tại các đơn vị xã hội tiến hành các hoạt động quản lý và giáo dục một cách chủ động, hiệu quả đồng thời phối hợp với các hoạt động giáo dục của gia đình và nhà trường một cách đúng đắn, tối ưu hơn

Kết luận

Tất cả những người làm công tác giáo dục đều cần phải nghiên cứu Giáo dục học - khoa học về giáo dục con người Đối với giáo viên, nghiên cứu Giáo dục học càng có ý nghĩa quan trọng vì giáo viên vốn được xem là những chuyên gia giáo dục, hơn ai hết họ phải am tường khoa học giáo dục để giáo dục học sinh ở nhà trường và giáo dục con em của họ trong gia đình Đây là một kết luận rút ra từ những thành công, thất bại của hoạt động giáo dục trong thực tiễn

III Cấu trúc chương trình học

Chương trình học bộ môn Giáo dục học dành cho sinh viên trường Đại học Sư phạm bao gồm 2 học phần như sau:

Trang 6

* Học phần 2: 60 tiết

- Lý luận giáo dục;

- Lý luận về công tác chủ nhiệm lớp

- Giao tiếp sư phạm

- Báo cáo thực tế

- Hội thi nghiệp vụ sư phạm

IV Giới thiệu học phần “Giáo dục học đại cương” (dành cho sinh viên các khoa không phải chuyên ngành Tâm lý Giáo dục)

* Mục tiêu của học phần:

Sau khi học xong học phần này, người học có khả năng:

- Nhận thức khái quát và cơ bản về hoạt động giáo dục và Giáo dục học

- Xác định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của cá nhân và của xã hội

- Định hướng công tác giáo dục trong thực tiễn nhà trường phổ thông thông qua việc nhận thức mục tiêu và các con đường giáo dục

- Tìm hiểu hệ thống lý luận giáo dục một cách thuận lợi trong quá trình tiếp thu các học phần sau

* Nội dung của học phần gồm 4 chương:

- Chương 1: Giáo dục học là một khoa học

- Chương 2: Giáo dục và sự phát triển nhân cách

- Chương 3: Mục đích giáo dục

- Chương 4: Các con đường giáo dục

- Chương 1: Trình bày sự nảy sinh, phát triển và tác động biện chứng của hiện tượng giáo dục đối với quá tình phát triển xã hội Tóm tắt lịch sử ra đời của Giáo dục học và định hướng nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện Giáo dục học trong giai đoạn hiện nay Phân tích những yếu tố cơ bản giúp xác

Trang 7

định Giáo dục học là một khoa học: đối tượng - nhiệm vụ nghiên cứu; hệ thống khái niệm cơ bản; phương pháp nghiên cứu

- Chương 2: Phân tích vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách trong mối liên hệ với các yếu tố ảnh hưởng khác như di truyền, môi trường, hoạt động - giao lưu của cá nhân Trình bày nội dung và cách thức giáo dục tương ứng với các giai đoạn phát triển nhân cách của trẻ em

- Chương 3: Xác định các cấp độ mục đích giáo dục và nhiệm vụ của giáo viên tương ứng với từng cấp độ Phân tích cơ sở xác định và nội dung của mục đích giáo dục tổng quát trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện nay Trình bày hệ thống giáo dục quốc dân và các nhiệm vụ giáo dục tổng quát

- Chương 4: Trình bày nội dung, cách thức thực hiện và tác động của các con đường giáo dục cơ bản trong nhà trường phổ thông

Trang 8

Chương 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

Mục tiêu: Sau bài học này người học có khả năng

1 Về kiến thức

a Mức độ Biết:

i Phát biểu được đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học

ii Phát biểu nội dung các khái niệm: giáo dục, tự giáo dục, giáo dục lại, giáo dưỡng, dạy học, tự học

iii Nêu ra được thời điểm và người xây dựng Giáo dục học thành một khoa học độc lập

Trang 9

Nội dung bài học:

I GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT

1 Giáo dục là một hiện tượng xã hội

Giáo dục là một hiện tượng làm thỏa mãn nhu cầu to lớn của xã hội là truyền kinh nghiệm của các thế hệ trước cho thế hệ sau để duy trì và phát triển loài người Giáo dục nảy sinh và phát triển trong lao động sản xuất và đời sống của con người

* Nảy sinh: Khoa học chứng minh rằng con người có nguồn gốc từ động vật (loài vượn) Hai nhân tố chủ yếu quyết định cho sự chuyển biến từ vượn thành người là: lao động và có tiếng nói

Khi loài người xuất hiện trên trái đất họ đã tiến hành lao động Hoạt động lao động giúp con người thích ứng và cải tạo môi trường sống để tồn tại, qua đó họ tích lũy được các kinh nghiệm và những hiểu biết về thế giới tự nhiên, xã hội Cuộc đấu tranh sinh tồn đòi hỏi con người phải phân công và truyền đạt những kinh nghiệm lao động cho nhau (săn bắt, hái lượm, chăn nuôi, trồng trọt ), kinh nghiệm tìm kiếm các phương tiện sinh sống, kinh nghiệm chống thú dữ Nhờ có ngôn ngữ nên con người có thể trao đổi và truyền thụ các kinh nghiệm, sự hiểu biết từ người này sang người khác Sự trao đổi và truyền thụ kinh nghiệm đó chính là hiện tượng giáo dục Lúc ban đầu, việc truyền thụ thường do người già, người lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm truyền lại cho lớp trẻ một cách trực tiếp hay gián tiếp Khi xã hội hình thành gia đình thì việc truyền thụ kinh nghiệm do các bậc cha mẹ đảm nhận

* Phát triển: Xã hội ngày càng tiến lên thì sự tích lũy kinh nghiệm ngày càng nhiều, phong phú, đa dạng về nhiều lĩnh vực: từ kinh nghiệm lao động sản xuất, đấu tranh xã hội, kinh nghiệm về đời sống xã hội (phong tục, lễ nghi ) đến những hiểu biết về tự nhiên, thẩm mỹ, đạo đức, triết học Nội dung phong phú đòi hỏi hình thức truyền thụ phải thích hợp hơn Hình thức truyền thụ của người già và sau đó của các bậc cha mẹ trong từng gia đình không còn thích hợp với yêu cầu của cuộc sống nữa Từ đó, việc giáo dục bắt

Trang 10

đầu được giao cho những người có kinh nghiệm truyền đạt và nhiều hiểu biết tiến hành Trong xã hội dần dần xuất hiện đội ngũ những nhà trí thức chuyên tiến hành việc truyền thụ kinh nghiệm và tri thức cho người khác Từ đó dẫn đến sự ra đời của nghề dạy học

Như vậy thực chất của giáo dục là truyền thụ kinh nghiệm lịch sử xã hội cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho họ bước vững vàng vào cuộc sống xã hội

Nét đặc trưng cơ bản của giáo dục là truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người Nhờ lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội lịch sử mà cá thể trở thành nhân cách Giáo dục gắn bó với tiến trình phát triển của lịch sử - xã hội làm cho nhân cách của con người được phát triển đầy đủ và phong phú hơn

2 Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt

2.1 Giáo dục là chức năng không thể thiếu của xã hội loài người

Muốn được duy trì và phát triển, xã hội nhất định phải thực hiện chức năng giáo dục để tái sản xuất những nhân cách, những nhu cầu, năng lực của con người, tái sản xuất những sức mạnh của bản chất con người Giáo dục chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, bảo đảm mối liên hệ kế tục giữa các thế hệ Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ thu nhận những kinh nghiệm do thế hệ trước đã tích lũy, nhờ vậy họ không rơi vào những sai lầm hay thất bại của người đi trước và có thể tiếp cận trình độ văn minh của xã hội để tham gia vào đời sống hiệu quả hơn Giáo dục còn thúc đẩy xã hội tiến lên không ngừng thông qua việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những phẩm chất cần thiết để

họ giải quyết những nhiệm vụ mới nảy sinh do sự phát triển của xã hội mà kinh nghiệm cha anh chưa từng trải

Ví dụ: Trước đây con người đã từng bó tay trước một số bệnh nan y như: lao phổi, bệnh phong Giáo dục thúc đẩy y học phát triển để phát hiện phương thuốc chữa trị đối với các bệnh này Ngày nay con người lại đang đối diện với các vấn đề mới nảy sinh như: bệnh Aisd, sự bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường

Trang 11

Nhờ có giáo dục, con người sẽ tìm được cách giải quyết cho các vấn

đề đó và làm cho xã hội ngày càng văn minh tiến bộ hơn

2.2 Nhu cầu về giáo dục không bao giờ suy giảm mà sẽ ngày càng gia tăng

Một số hiện tượng xã hội sau khi nảy sinh, phát triển sẽ có những giai đoạn bị suy thoái như các hiện tượng về thời trang, về phong tục tập quán, về tôn giáo Nhưng giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi vì trình độ xã hội càng nâng cao thì nhu cầu của xã hội và con người về giáo dục không giảm sút mà ngày càng gia tăng theo xu thế “giáo dục là cho tất cả mọi người” trong một “xã hội học tập” như Lênin đã từng khẳng định “giáo dục là phạm trù phổ biến và vĩnh hằng”

3 Các chức năng xã hội của giáo dục

Chức năng trọng yếu của giáo dục đối với xã hội là hình thành và phát triển nhân cách con người, là chuẩn bị hành trang cho cá nhân con người với

tư cách là chủ thể tham gia có hiệu quả vào các lĩnh vực của đời sống xã hội

Do tác động đến nhân cách con người thông qua việc đào tạo một thế hệ công dân, một đội ngũ lao động lành nghề và đội ngũ các nhà trí thức cho xã hội, giáo dục có khả năng tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà con người là chủ thể

Là một hiện tượng xã hội nên giáo dục tác động chi phối đến các quá trình xã hội khác thông qua ba loại chức năng xã hội của giáo dục như:

3.1 Chức năng kinh tế- sản xuất

Con người là sản phẩm của giáo dục, với tư cách là một lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất xã hội Mỗi thời kỳ lịch sử đòi hỏi phải có người lao động thích ứng Giáo dục tái sản xuất sức lao động cho xã hội, tạo ra sức lao động mới có chất lượng và hiệu quả hơn để thay thế cho sức lao động cũ đã hoàn thành nhiệm vụ lao động cống hiến cho xã hội Giáo dục trước hết giúp cho người lao động có được thể lực khỏe mạnh, có trí tuệ phát triển kịp với trình độ phát triển của thời đại, được đào tạo về chuyên môn để tiến hành

Trang 12

hoạt động nghề nghiệp hiệu quả Ngoài ra giáo dục còn rèn luyện những phẩm chất đạo đức để người lao động tận tâm, tận tụy công hiến sức lực cho

sự phát triển của nền kinh tế xã hội Giáo dục có tác dụng đẩy mạnh sản xuất

xã hội, phát triển kinh tế Ngày nay giáo dục được xem là một nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng và bền vững Đầu tư cho giáo dục cũng là đầu tư cho nền kinh

tế xã hội, là sự đầu tư sáng suốt nhất và đem lại nhiều lợi ích nhất

3.2 Chức năng chính trị - xã hội

Chức năng trọng yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách nên giáo dục tác động đến toàn bộ cấu trúc xã hội, đến các bộ phận hợp thành của xã hội, các tầng lớp, các nhóm xã hội và tính chất các mối quan hệ giữa các bộ phận đó Giáo dục không chỉ tạo nên một lớp người lao động mới cho xã hội, một lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất mà giáo dục còn làm thay đổi cả bộ mặt chính trị xã hội Giáo dục làm thay đổi cả bề ngoài và nội dung bên trong của các nhóm xã hội, các bộ phận dân cư, các tầng lớp xã hội, các dân tộc trong cộng đồng Giáo dục góp phần làm cho các tầng lớp xã hội xích lại gần nhau bằng cách nâng cao trình độ văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người được học tập, lựa chọn nghề nghiệp và thay đổi vị trí

xã hội của cá nhân Đặc biệt là các hoạt động giáo dục bình đẳng, giáo dục thường xuyên, giáo dục ý thức công dân của một nước, ý thức một thành viên của nhân loại, làm cho các tầng lớp xã hội trong một nước cũng như các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn để tiến đến một thế giới hòa bình

3.3 Chức năng tư tưởng - văn hóa

Giáo dục có tác động to lớn trong việc xây dựng một hệ thống tư tưởng cho toàn xã hội, làm cơ sở xác định hệ thống giá trị và các chuẩn mực trong cuộc sống xã hội

Ví dụ: Ngày nay, công tác giáo dục đang xây dựng tư tưởng bình đẳng

về vai trò của giới trong xã hội, làm thay đổi nhận thức “trọng nam khinh nữ”

và hình thành những giá trị và chuẩn mực xã hội mới đối với nam giới và nữ giới

Trang 13

Giáo dục còn bồi dưỡng một lối sống lành mạnh, giúp con người xây dựng cuộc sống tích cực, và mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp Các tác động giáo dục truyền thống trong xã hội thường xuyên nâng cao nhận thức và nhắc nhở mọi người thực hiện những thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày như cách dinh dưỡng, luyện tập cơ thể để bồi dưỡng sức khỏe Hệ thống các nhà văn hóa xây dựng các loại hình hoạt động đa dạng phục vụ cho mọi lứa tuổi, thành phần xã hội (thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, lao động ) giúp con người

có một cuộc sống phong phú khi tham gia các sinh hoạt vui chơi, giải trí, mở rộng quan hệ giao lưu, trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng tổ chức cuộc sống cá nhân

Ngoài ra, giáo dục xây dựng một nền văn hóa kết tinh được tinh hoa nhân loại đồng thời mang đậm bản sắc dân tộc bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông ngày càng cao cho thế hệ trẻ và các tầng lớp nhân dân

Tóm lại giáo dục thực hiện ba chức năng của mình đó là tái sản xuất lao động xã hội, cải biến cấu trúc xã hội và hình thành ý thức hệ tư tưởng mới trên nền tảng văn hóa mới của thời đại nhằm tạo ra con người thời đại có khả năng hòa nhập quốc tế và khu vực nhưng không bị hòa tan

4 Các tính chất của giáo dục

Giáo dục và các hiện tượng xã hội khác có tác động biện chứng với nhau Sự chi phối của các quá trình xã hội đối với hiện tượng giáo dục gây nên những tính chất sau đây của giáo dục:

4.1 Tính lịch sử-xã hội

Giáo dục luôn vận động và biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn lịch sử nhất định Lịch sử nhân loại đã có nhiều kiểu giáo dục khác nhau thể hiện ở sự biến đổi mục đích, nội dung, phương pháp phương tiện và hình thức tổ chức giáo dục theo sự qui định của những điều kiện xã hội lịch sử cụ thể

Vì vậy:

Trang 14

- Khó có thể có sự phù hợp tuyệt đối giữa hai nền giáo dục ở hai quốc gia có điều kiện phát triển khác nhau

- Ngay trong cùng một nước ở những giai đoạn lịch sử khác nhau thì trình độ phát triển giáo dục cũng có những nét khác nhau

- Cần đổi mới liên tục hệ thống giáo dục, đảm bảo cho giáo dục thích ứng với chiều hướng mới của quá trình phát triển xã hội

4.2 Tính giai cấp

Giáo dục là chức năng đặc biệt của nhà nước, do giai cấp cầm quyền chỉ đạo nhằm củng cố địa vị của tầng lớp thống trị Trong xã hội có giai cấp, giáo dục mang tính giai cấp thể hiện ở việc xây dựng những hệ thống giáo dục phù hợp với các mục đích chuẩn bị khác nhau cho con em của những giai cấp khác nhau bước vào đời sống

4.3 Tính phổ quát

Tính phổ quát thể hiện trong sự hiện diện của giáo dục trong tất cả các chế độ xã hội, các giai đoạn lịch sử của nhân loại Trong đó nổi bật là sự chăm sóc, bồi dưỡng con người ở lứa tuổi học sinh, là truyền thụ một cách có

ý thức cho thế hệ trẻ những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa, tính thần của loài người và dân tộc, giúp họ bước vững vàng vào cuộc sống và góp phần phát triển xã hội

4.4 Tính nhân văn

Giáo dục luôn hướng con người đến những cái đẹp, cái tốt, đó là những giá trị văn hóa, đạo đức thẩm mỹ chung nhất của nhân loại và những nét bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa của từng quốc gia dân tộc đồng thời phát huy những yếu tố tích cực trong mỗi con người để giúp họ ngày càng hoàn thiện nhân cách

II KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA GIÁO DỤC HỌC

1 Thời cổ đại

Trang 15

Giáo dục học chưa hình thành mà xã hội chỉ xuất hiện nhiều tư tưởng giáo dục nổi tiếng vẫn được coi trọng đến ngày nay

Cách chúng ta 2.500 năm, Heraclitus (540 - 480 TCN), nhà hiền triết Hy lạp cổ đại đã nhận định: “Giáo dục, dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu người học như người ta rót chất lỏng vào chai, thông qua cái phễu Thực chất giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi tự bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy"

Như vậy, giáo dục chỉ là soi sáng Soi sáng để người học TỰ CHỌN, rồi TỰ BƯỚC ĐI Người dạy không áp đặt con đường, cũng không bước đi thay cho người học

Sau Heraclitus, Socrate (470 - 399 TCN), nhà hiền triết Hy lạp Cổ đại,

đã nêu ra phương châm nổi tiếng: “Hỡi con người, hãy tự khám phá bản thân mình!”

Để người học tự khám phá mình, ông nói: “Mục đích của giáo dục không phải là tách con người ra khỏi đám đông, càng không phải là làm cho con người ấy mất hút trong đám đông; mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra chính mình giữa đám đông Đó là một quan điểm giáo dục có tính nhân văn cao Để khám phá được bản thân con người phải biết tự bộc lộ bản thân Nhằm giúp cá nhân tự bộc lộ, ông đề ra phương pháp sản ý, thường gọi là phương pháp Socrate Thực chất đó là phương pháp đàm thoại gợi mở bằng hệ thống câu hỏi của nhà giáo dục mà khi trả lời những câu hỏi

đó, cá nhân sẽ bộc lộ và tự khám phá năng lực của bản thân

Nối tiếp tư tưởng của Socrate, học trò ông, nhà triết học Hy lạp Cổ đại Platon (427 - 348 TCN) cũng đã đưa ra những quan điểm giáo dục tiến bộ Platon cho rằng mục tiêu số một của con người là sống phù hợp với đạo đức

Đó là hành động theo điều thiện Thiện là cái gì phù hợp với chân lý mà chân

lý chính là sự công bằng Xã hội công bằng khi nó được sắp xếp theo một trật

tự hoàn hảo, trong đó mỗi người và mỗi vật được đặt đúng vị trí và làm đúng phận sự của mình, ở đây chúng ta nhận thấy Platon đã tiếp cận và kế thừa

Trang 16

phương châm sống của Socrate Bởi vì chỉ khi con người tự khám phá và biết

rõ bản thân thì họ mới có thể chọn đúng vị trí và làm đúng phận sự, nhờ vậy trở thành một cá nhân có đạo đức

Theo Platon, một xã hội chiếm hữu nô lệ lý tưởng có các tầng lớp như sau: nhà triết học (những người quản lý đất nước); quân nhân (người bảo vệ quốc gia); người làm ruộng, làm nghề thủ công và buôn bán; người nô lệ (lao động trực tiếp trong sản xuất và kinh doanh) Platon đã khẳng định sự cần thiết của việc giáo đục đối với con người: “Mọi công dân phải được giáo dục như nhau, ngay từ đầu Ngay tầng lớp nông dân và binh sĩ cũng phải học ít nhất là 30 năm trước khi hành nghề! Còn quan lại, để cai trị dân, cần được học thêm 15 năm nữa, vị chi 45 năm học tập, thì mới có thể cai trị người khác: Đặc biệt là người thầy, để dạy người, anh ta phải được giáo dục đến nơi đến chốn Bởi "người thợ giày tồi thì khách hàng có người phải xỏ chân vào chiếc giầy không vừa vặn chút ít! Còn người thầy giáo tồi thì hại cả ba thế hệ" Để đạt được mục đích trên ông cũng hình dung một hệ thống giáo dục phù hợp với kiểu xã hội tương ứng với 4 tầng lớp đã nêu Trong đó tầng lớp nô lệ không hề được giáo dục!

Đó là phương Tây Còn phương Đông nơi mang nặng truyền thống

"Tôn sư trọng đạo", thì sao?

Khổng tử (551- 479 TCN), người thầy tiêu biểu của muôn đời (vạn thế

sư biểu) và không riêng của Trung Hoa, đã hết sức coi trọng sự học và đặc biệt coi trọng người học Ông đã để lại những câu nói bất hủ sau hơn 50 năm dạy học Như là: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo!" (Ngọc

- đá quý, không mài không thành vật quý, người không học không biết đạo)

Vì vậy ông chủ trương “Hữu giáo vô loại”: Quyền được đi học là quyền tự nhiên của mọi người, không phân biệt địa vị xã hội! Đó là một tư tưởng tiến

bộ trong xã hội bấy giờ Bởi vì ngay cả phương Tây mà mãi đến năm 1850,

có nghĩa là đến 2300 năm sau Khổng tử, người ta mới mở cửa trường học cho mọi tầng lớp xã hội

Trang 17

Khổng tử đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động, tích cực và độc lập ở người học Ông nói: “Ai không biết tức giận vì tri thức hạn hẹp của mình, ta không gợi mở cho được Ai không biết tự mình nỗ lực bộc bạch tâm tư, ta không giúp cho phát biểu tư tưởng được Vật có 4 góc, ta vén cho một góc, ai không tự mình vén 3 góc còn lại thì là người không thể giáo dục lại được! (Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngưng phản, tắc bất phục dã! - Luận ngữ)

Đặc biệt Khổng tử đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, suy nghĩ độc lập, để tự phát hiện vấn đề và tự đặt câu hỏi - nêu - vấn - đề ra trước để được người dạy giải đáp Điểm khác biệt giữa phương pháp đàm thoại của Khổng tử với phương pháp đàm thoại Socrate là ở chỗ: Khổng tử không đặt câu hỏi cho học trò trước mà ngược lại, ông đòi hỏi học trò phải chủ động đặt câu hỏi trước Nếu ai không tự đặt câu hỏi ra trước, Khổng tử sẽ không dạy cho người ấy (bất viết như chi hà, như chi hà giả, ngô mạt như chi hà dã dĩ hỉ

- Luận ngữ) Khổng tử, ngoài việc đòi hỏi người học phải chủ động, tích cực hỏi, còn căn cứ vào câu hỏi để biết người hỏi đang gút mắc chỗ nào, trình độ vốn có đến đâu, để dạy tiếp Điều này hoàn toàn phù hợp với một ngạn ngữ phương Tây: “Hỏi một câu chỉ dốt trong chốc lát Nhưng nếu không hỏi sẽ dốt suốt đời” Chính vì vậy người xưa thường học bằng cách hỏi Và ta có từ học

- hỏi rất hay! Đấy cũng là một cách để “Sát đối tượng” trong nguyên tắc dạy học hiện đại!

Không những đòi hỏi người học phải học một cách chủ động, tích cực

và độc lập, Khổng tử còn yêu cầu người học phải học bằng cả tâm hồn - học một cách vui thú Ông nói “Biết mà học, không bằng thích mà học; thích mà học không bằng vui mà học "Lạc học - Luận ngữ)

2 Thời Trung đại

Trong thời kỳ Trung đại xuất hiện hình thái xã hội mới - xã hội phong kiến Nhà thờ Thiên chúa giáo trở thành công cụ tư tưởng chủ yếu của chế độ phong kiến châu Âu Mọi sự phát triển về văn hóa và giáo dục đều bị chi phối bởi tư tưởng của công giáo Nhà thờ phủ nhận hầu hết những thành tựu văn

Trang 18

hóa thời cổ đại, ngoại trừ ngôn ngữ La tinh Xã hội xuất hiện các trường học giáo hội do giáo hội mở và cấp kinh phí Nội dung giáo dục gồm 7 môn học đáp ứng lợi ích cho nhà thờ và xã hội phong kiến Việc dạy học mang tính chất nhồi nhét, áp đặt, kinh viện, giáo điều và áp dụng một kỷ luật rất khắc nghiệt Trong trường giáo hội, việc dạy học không chia thành học kỳ, không

có thời khóa biểu Trong cùng một phòng học, học sinh nhiều lứa tuổi, nhiều trình độ khác nhau cùng ngồi học chung Khi giảng dạy thầy giáo làm việc với từng học sinh

Từ thế kỷ X giai cấp tư sản dần dần hình thành và bắt đầu tích tụ hệ tư tưởng và văn hóa tư sản, kéo theo nhiều quan niệm mới mẻ về thế giới và con người, mâu thuẫn với thế giới quan giáo điều tôn giáo Nhiều nhà tư tưởng đặc biệt chú ý nghiên cứu sự phong phú của văn hóa cổ đại vốn bị lãng quên trong nhiều thế kỷ Lịch sử xã hội bắt đầu bước vào thời kỳ Phục hưng,

ở đó tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa ảnh hưởng nhiều đến thực tiễn giáo dục Cuộc đấu tranh của các nhà theo chủ nghĩa nhân văn đã làm giảm đi nhiều ảnh hưởng của nhà thờ đối với trường học

* Các tư tưởng giáo dục:

1 Francois Rabelais (1494 - 1553, người Pháp):

Rabelais là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và các tư tưởng giáo dục thời kỳ Phục hưng Ông đã phê phán lối học kinh viện và chủ trương giáo dục nhân đạo chủ nghĩa Ông đả phá lối giảng dạy cũ kỹ, bắt học sinh thuộc lòng các tín điều khô khan, khó hiểu Rabelais coi trọng sự phát triển nhiều mặt trong nhân cách của trẻ vì vậy nội dung giáo dục bao gồm trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục thể chất, về trí dục ông đòi hỏi học trò phải học nhiều kiến thức, vì vậy phải theo một thời khóa biểu tỉ mỉ và căng thẳng từ 4 giờ sáng cho đến tối Ông đề cao những hiểu biết thực tế, có ích và các phương pháp dạy học tích cực, trực quan Do

đó ông có chú ý đến lao động chân tay và có sáng kiến trong việc tổ chức các hình thức giáo dục phong phú ngoài trường học

2 Michel de Montaigne (1533 - 1592, người Pháp):

Trang 19

Ông là một nhà tư tưởng lỗi lạc và là một trong các đại biểu của chủ nghĩa hoài nghi triết học, một sản phẩm đặc sắc của chủ nghĩa nhân đạo, quan tâm đến thế giới xung quanh và phê phán thái độ sợ sệt, sùng phục trước uy quyền Ông nghi ngờ các tập tục và quan điểm của xã hội đương thời và phủ nhận lòng tin vào đấng siêu nhiên Ông chống đối khoa học kinh viện và ủng hộ khoa học kinh nghiệm, nghiên cứu chính xác sự vật và đi sâu vào bản chất của chúng Các quan điểm giáo dục của ông hình thành chính trên cơ sở đó Montaigne không đồng tình với lối dạy học nhồi nhét và quan niệm thầy giáo có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh khả năng phán đoán, xây dựng tư tưởng riêng của mình từ những điều đã học Về nội dung giáo dục ông quan tâm đến giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất, tuy nhiên còn hời hợt

và thiếu hệ thống Ông cũng ít chú trọng việc giáo dục đối với phụ nữ Về phương pháp giáo dục ông phản đối cách trừng phạt thể xác đối với học sinh, ông đã sớm nhận thấy rằng “roi vọt không có tác dụng gì khác là làm cho tâm hồn của trẻ hèn nhát hơn hoặc bướng bĩnh một cách ranh mãnh hơn

tổ của nền giáo đục Cận đại

Trước hết, về đối tượng giáo dục cũng như về nội dung giáo dục, Komensky khẳng định phải “Dạy mọi điều cho mọi người” Tuy đơn giản nhưng cực kỳ tiến bộ, bởi trước đó, loài người còn học từ chương, sách vở,

và không phải ai cũng có quyền đi học

Nhưng công đầu của Komensky có lẽ là công tách Lý luận giáo dục ra khỏi triết học để hình thành một khoa học độc lập: Khoa sư phạm học

Trang 20

(Didaktika) Trước Komensky khoa sư phạm chỉ là một bộ phận nằm trong triết học

Sáng kiến thứ hai mà lịch sử giáo dục thế giới trân trọng ghi nhận ở Komensky là sáng kiến vĩ đại, sáng kiến hình thành "lớp học" mà gắn liền với

nó là bài học, tiết học Trước Komensky, thế giới chưa có cái gọi là "Lớp học" mà chỉ có "trường học", ngay cả trường thầy đồ giới hạn trong 4 bức tường nhỏ hẹp cũng không thể gọi là "lớp học", vì ở đó tập hợp nhiều học sinh ở nhiều lứa tuổi và nhiều trình độ cách biệt xa nhau Nhờ sáng kiến thành lập lớp học và giảng dạy theo lớp mà giáo dục có thể tăng năng suất đào tạo lên gấp bội lần, đáp ứng đủ nguồn nhân lực cho guồng máy kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa

Cuối cùng, không thể không kể đến một đóng góp đặc sắc của Komensky khi ông kêu gọi mọi nền giáo dục phải được tổ chức và hoạt động sao cho đúng quy luật Mà quy luật lớn nhất là quy luật của tự nhiên Do vậy giáo dục đúng quy luật phải được tổ chức và hoạt động sao cho thích ứng với thiên nhiên Bởi lẽ con người là một bộ phận của thiên nhiên, phương thức tồn tại, vận động của thiên nhiên cũng là phương thức tồn tại và vận động của con người, của giáo dục loài người Mà “thiên nhiên thì không bao giờ làm điều gì không có ích” Vậy giáo dục theo cái chuẩn, cái mẫu của thiên nhiên là giáo dục mang lại lợi ích cho con người và cho loài người Đi ngược quy luật

tự nhiên thì giáo dục sẽ tàn hại con người và loài người!

Loài chim không sinh sản về mùa đông rét mướt, hoặc về mùa hạ nóng nực hay về mùa thu khi mọi vật đã tàn tạ, mà về mùa xuân, khi ánh mặt trời đem lại sức sống cho muôn vật Vậy thì việc giáo dục con người ta cũng bắt đầu từ tuổi thanh xuân của cuộc đời, cũng như giờ học tốt nhất phải là buổi sáng của một ngày

Muốn cho chim con nở nhanh, chim mẹ không ném trứng vào lửa mà dùng sức ấm tự nhiên sưởi nóng những quả trứng một cách từ từ Người kiến trúc sư cũng vậy không vội vã xây tường ngay trên móng, đặt mái ngay trên tường, khi móng và tường chưa khô, chưa đủ chắc chắn Người làm

Trang 21

vườn cũng không đòi hỏi cái cây phải lớn lên ngay trong tháng đầu, hoặc muốn cho cây được sưởi ấm thì anh ta cũng không đốt lửa cạnh gốc, không chất vôi sống vào

Vậy thì thật hành hạ đối với học sinh nếu hàng ngày người ra bắt chúng phải học bài, làm bài tám, chín giờ trên lớp và về nhà làm thêm mấy giờ nữa Thật là khờ khạo khi một thầy giáo không dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh mà lại dạy theo ý muốn chủ quan của thầy

4 Thế kỷ XIX

Nhờ sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác, Giáo dục học phát triển, chứng minh một cách khoa học các vấn đề có tính qui luật trong giáo dục như:

- Tính quy định của kinh tế - xã hội đối với giáo dục

- Tính lịch sử của giáo dục trong tiến trình phát triển xã hội

- Vai trò của giáo dục trong điều kiện xã hội có giai cấp

III ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC HỌC

1 Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học

Giáo dục học là khoa học về việc đào tạo, giáo dục con người, khoa học về sự hình thành và phát triển nhân cách con người trong quá trình nhà giáo dục và người được giáo dục hoạt động với nhau theo một sự tổ chức đặc biệt

Việc giáo dục con người là một quá trình có sự vận động, diễn ra trong một thời gian, không gian nhất định, có nội dung, quy luật và động lực nhất định

Đối tượng của Giáo dục học là quá trình đào tạo con người dưới những tác động có mục đích của xã hôi

Trong nhà trường quá trình đào tạo con người (còn gọi là quá trình giáo dục theo nghĩa rộng) bao gồm toàn bộ các tác động giáo dục và dạy học

Trang 22

được định hướng theo mục đích xác định, được tổ chức một cách hợp lý, khoa học nhằm hình thành và phát triển nhân cách cá nhân

QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC (rộng) = DẠY HỌC + GIÁO DỤC

Có mục đích

Có tổ chức Hình thành nhân cách toàn vẹn Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội được nhiều ngành khoa học nghiên cứu: Kinh tế học, Xã hội học, Đạo đức học, Tâm lý học Kinh tế học nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển nền kinh tế xã hội

Xã hội học xem xét quan hệ giữa quá trình giáo dục với các quá tình xã hội khác Đạo đức học quan tâm đến giáo dục như là một con đường quan trọng

để rèn luyện các phẩm chất đạo đức cho con người Tâm lý học tìm hiểu vai trò tác động của yếu tố giáo dục tới sự phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân Trong phạm vi của mình Giáo dục học nghiên cứu bản chất bên trong của quá trình giáo dục thông qua việc tìm hiểu cấu trúc và cơ chế vận động của nó đồng thời soi sáng các qui luật của quá trình giáo dục, nghiên cứu lý luận và phương pháp tổ chức quá trình giáo dục

2 Cấu trúc của quá trình giáo dục

2.1 Cấu trúc tổng thể

QTGD tổng thể = QT sư phạm = QT đào tạo

Quá trình giáo dục tổng thể là sự thống nhất của hai quá trình dạy học

và giáo dục (nghĩa hẹp) trong nhiệm vụ chung là hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho con người Bên cạnh đó mỗi quá trình lại có chức năng trội riêng như:

- Chức năng trội của quá trình dạy học là giáo dưỡng: tổ chức trau dồi học vấn, tổ chức cho học sinh tìm hiểu, lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và hành động

Trang 23

- Chức năng trội của quá trình giáo dục (nghĩa hẹp) là xây dựng một hệ thống niềm tin, lý tưởng, động cơ, hình thành những phẩm chất và thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội

- Hai quá trình này gắn bó chặt chẽ với nhau Giáo dưỡng, trau dồi học vấn phải đi đôi với việc trau dồi đạo đức và ngược lại việc hình thành niềm tin, phẩm chất, thói quen hành vi phải dựa trên cơ sở giáo dưỡng, học vấn

2.2 Cấu trúc bộ phận

Quá trình giáo dục là một quá trình vận động nên cấu trúc bộ phận gồm

có hai hệ thống: hệ thống tác nhân (gây nên sự vận động của quá trình) và hệ thống các thành tố cơ bản

* Hệ thống các thành tố tác nhân

Trong sơ đồ trên yếu tố chính tạo nên sự vận động của quá trình giáo dục là sự tác động qua lại và phối hợp chặt chẽ với nhau giữa chủ thể giáo dục (CT) và khách thể giáo dục (KT) Tác động qua lại được diễn ra trong một môi trường sư phạm (bao gồm cơ sở vật chất của trường học, những đặc điểm tâm lý, thể chất và trình độ của chủ thể và khách thể) và trong một môi trường xã hội với những đặc điểm kinh tế, văn hóa và chính tri xã hội, đó là những điều kiện ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng của quá trình giáo dục Sự phối hợp giữa chủ thể và khách thể giáo dục diễn ra trên các mối liên

hệ thông tin, giao tiếp, tổ chức hoạt động và quản lý - tự quản lý

* Hệ thống các thành tố cơ bản

Trên thực tế quá trình giáo dục diễn ra rất đa dạng về nội dung, thời gian, không gian nhưng dù diễn ra ở bất cứ dạng nào, quá trình giáo dục cũng được thể hiện qua những thành tố cơ bản như trên.Trong hệ thống các thành tố cơ bản, thành tố mục đích là xuất phát điểm của quá trình giáo dục

và qui định trước kết quả của toàn bộ quá trình Thành tố nội dung là sự cụ thể hóa của mục đích vì vậy nội dung phải có sự tương ứng phù hợp với mục đích đặt ra Muc đích và nội dung qui định cách thức tổ chức hoạt động qua việc sử dụng phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức giáo dục Từ

Trang 24

đó dẫn đến kết quả giáo dục là mức độ phát triển của khách thể sau quá trình giáo dục Cách thức tổ chức hoạt động là thành tố trực tiếp quyết định cho chất lượng của quá trình giáo dục

Như vậy trong từng hệ thống các yếu tố có sự liên hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau Sự biến đổi của một yếu tố sẽ dẫn đến những biến đổi của những yếu tố khác một cách tương ứng Ngoài ra hai hệ thống tác nhân và hệ thống các thành tố cơ bản cũng không tách rời mà chúng luôn kết hợp thống nhất với nhau trong một quá trình giáo dục Nếu sự tương tác giữa chủ thể giáo dục và khách thể giáo dục không được định hướng theo mục đích giáo dục với nội dung giáo dục tương ứng và cũng không thông qua các phương pháp giáo dục thì sự tương tác giữa họ không phải là một quá trình giáo dục

mà chỉ là một quá trình giao tiếp, ứng xử mà thôi Vì vậy có thể cho rằng cấu trúc của quá trình giáo dục bao gồm các nhân tố chủ thể, khách thể, mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kết quả giáo dục Trong đó hai nhân tố trọng tâm là chủ thể và khách thể, bởi vì các nhân

tố còn lại đều thể hiện qua hai nhân tố này Có thể hình dung cấu trúc chung của quá trình giáo dục như sau:

2 Nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học

+ Nghiên cứu các nhân tố của quá trình giáo dục, từ đó xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức nhằm đạt chất lượng và hiệu quả tối ưu trong những điều kiện của một xã hội nhất định

+ Xây dựng một hệ thống lý luận để soi sáng các hoạt động giáo dục trong thực tiễn

Trang 25

Giáo dục học nghiên cứu quá trình giáo dục trong tính tổng thể, toàn vẹn Cũng như nghiên cứu các bộ phận, các yếu tố của nó

* Nhiệm vụ trước mắt:

- Nghiên cứu và hoàn thiện các vấn đề thuộc phạm trù phương pháp luận khoa học giáo dục, làm cho Giáo dục học phát triển có định hướng, tiếp cận với xu thế phát triển mới ở thế kỷ 21

- Nghiên cứu góp phần giải quyết mâu thuẫn lớn giữa việc phát triển nhanh quy mô và gấp rút nâng cao chất lượng đào tạo trong những điều kiện hạn chế

- Nghiên cứu phát hiện các nhân tố mới mang tính quy luật trong sự phát triển giáo dục về mặt lý luận và thực tiễn: trong nội dung như các vấn đề

về giáo dục quốc tế, giáo dục môi trường; trong phương pháp như vấn đề tự học, phát huy nội lực của người học

- Nghiên cứu các vấn đề về hệ thống giáo dục quốc dân trong tiến trình đổi mới và phát triển, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý giáo dục

- Nghiên cứu làm rõ vấn đề giáo dục giá trị trong điều kiện xã hội hiện đai

Các nhiệm vụ nói trên vừa có tính định hướng cho mọi hoạt động nghiên cứu, sáng tạo trong phạm vi Giáo dục học vừa có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình điều chỉnh, hoàn thiện Giáo dục học

3 Đặc trưngg của quá trình giáo dục

a) Là một dạng vận động và phát triển liên tục của các hiện tượng, tình huống giáo dục và dạy học, được tổ chức thực hiện theo những quy trình xác định

b) Là một dạng vận động xã hội liên quan đến các quá trình xã hội khác (kinh tế, chính trị, văn hóa ) được tổ chức một cách chuyên biệt (theo quy luật giáo dục)

Trang 26

c) Chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục trong sự phối hợp chặt chẽ và tác động lẫn nhau

4 Phương hướng và phương pháp nghiên cứu Giáo dục học

* Cơ sở phương pháp luận: Việc nghiên cứu dựa trên các quan điểm

Triết học của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Tức là:

+ Phải đặt các hiện tượng giáo dục trong không gian thời gian cụ thể, trong mối quan hệ tương tác với các hiện tương khác trong xã hội

+ Hoạt động giáo dục luôn vận động phát triển vì vậy phải nghiên cứu

nó trong sự vận động phát triển

* Phương hướng chung:

+ Phải lấy bản sắc nền văn hóa giáo dục dân tộc Viêt Nam trong quá khứ, hiện tại, tương lai làm cái gốc cơ bản quan trọng nhất để nghiên cứu và phổ biến khoa học giáo dục

+ Phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và khách quan những kinh nghiệm và thực tiễn giáo dục của các nước khác trên thế giới để tiếp thu những tinh hoa của nhân loại nhằm bổ sung cho nền giáo dục của dân tôc

* Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Trang 27

phối hợp nhịp nhàng, cộng tác chặt chẽ giữa nhà khoa học và các giáo viên ở

- Giáo dục là một quá trình toàn vẹn được tổ chức một cách có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người được giáo dục những kinh nghiệm xã hội của loài người, bao gồm các quá trình giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động

Ngoài ra chúng ta cần phân biệt: quá trình hình thành con người và quá trình giáo dục

- Quá trình hình thành con người là quá trình phát triển con người về các mặt: sinh học, tâm lý, xã hội Quá trình này chịu ảnh hưởng bởi các nhân

tố bên trong như tính di truyền, bẩm sinh, vốn sống kinh nghiệm, cá nhân và những yếu tố bên ngoài như hoàn cảnh tự nhiên, môi trường xã hội bao gồm các quá trình kinh tế sản xuất, chính trình xã hội, tư tưởng - văn hóa, dân số dân cư, sinh hoạt xã hội và gồm tất cả những tác động tự phát ngẫu nhiên cùng các tác động có mục đích, có tổ chức

- Giáo dục chỉ là một bộ phận của quá trình xã hội hình thành con người, là quá trình hình thành nhân cách con người một cách tự giác thông qua những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội Việc tổ chức

đó chủ yếu do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn đảm nhận (các

Trang 28

nhà giáo dục, nhà sư phạm) Nơi tổ chức quá trình giáo dục một cách có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường

+ Giáo dục (nghĩa hẹp):

Giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những phẩm chất, quan điểm, niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, lao động

2 Xã hội hóa cá nhân

Quá trình xã hội hóa là quá trình biến đứa trẻ từ một thực thể tự nhiên thành con người xã hội Xã hội hóa cá nhân là quá tình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hóa xã hội để thích ứng được với xã hội, thực chất của xã hội hóa là quá trình chủ thể hóa các tri thức của xã hội - là sự tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội thông qua lăng kính chủ quan và sự xét đoán của mỗi cá nhân bằng hai con đường:

- Không chính thức: quá trình cá nhân học hỏi qua bắt chước, quan sát, trải nghiệm trong tương tác với gia đình, bạn bè,

- Chính thức: quá trình cá nhân học hỏi tiếp thu từ những tác động giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội

Vì vậy giáo dục là con đường xã hội hóa quan trọng nhất đối với cá nhân Giáo dục là một quá trình xã hội hóa liên tục trong cuộc đời mỗi người

và lưu ý rằng sự học hỏi từ nhà trường có thể yếu kém hơn sự học hỏi từ những tác động không chính thức trong gia đình và ngoài cộng đồng

3 Tự giáo dục

Quá trình cá nhân tự giác tiến hành có hệ thống những hành động có ý thức nhằm trau dồi tính tốt khắc phục tính xấu, điều chỉnh bản thân cho phù hợp với yêu cầu xã hội

4 Giáo dục lại

Hoạt động giáo dục nhằm thay đổi quan điểm, ý thức tư tưởg, nhận thức, thái độ, hành vi sai lệch với những chuẩn mực xã hội để trở thành người

Trang 29

tốt, có nhân cách được xã hội chấp nhận Điều kiện tiên quyết để nhà giáo dục tiến hành giáo dục lại cho trẻ là lòng nhân ái và lòng tin vững chắc vào những phẩm giá tốt đẹp còn tiềm ẩn trong mỗi con người có thể làm thức dậy được

5 Giáo dưỡng: Được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

- Giáo dưỡng là quá trình nuôi nấng, giáo dục con người một cách cân đối về thể chất và tinh thần

- Giáo dưỡng là quá trình và kết quả bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo đã được hệ thống hóa thành học vấn Con đường chủ yếu tiếp thu học vấn, giáo dưỡng là việc dạy học trong hệ thống các trường học

- Giáo dưỡng được hiểu như là sự giáo dục lại (các trường giáo dưỡng dành cho trẻ em phạm pháp)

6 Dạy học

Quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh được tổ chức đặc biệt (căn cứ vào chương trình, kế hoạch, tuân theo quy trình, qui chế chặt chẽ) nhằm trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo qua đó hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất nhân cách cho học sinh

Dạy về bản chất là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, giúp cho học sinh biết cách tự học tốt

Học là quá trình tiếp thu kinh nghiệm, phương pháp tự học để tiến hành hoạt động nhận thức chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến đổi và nâng cao giá trị bản thân, hình thành nhân cách

Dạy và học là hai mặt của một quá trình luôn luôn tác động qua lại và

bổ sung cho nhau, trong đó, dạy phải đóng vai trò chủ đạo, còn học đóng vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo

7 Tự học

Tự học là quá trình cá nhân chủ động tiến hành hoạt động nhận thức có

hệ thống để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại và biến

Trang 30

lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình, cốt lõi của hoạt động học là tự học Việc tự học có thể diễn ra ở ba mức độ:

- Tự học độc lập: cá nhân tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo Chẳng hạn, tự học qua sách, qua hoạt động thực tiễn

- Tự học có hướng dẫn từ xa: cá nhân tự học thông qua sự hướng dẫn của giáo viên trên các phương tiện truyền thông hoặc bằng tài liệu hướng dẫn học tập

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: cá nhân tự học ngay trong quá trình học giáp mặt với giáo viên ở trên lớp

Xây dựng ý nguyện tự học và trang bị kỹ năng tự học cho học sinh là vấn đề thời sự hiện nay của công tác dạy học trước sự bùng nổ thông tin và

sự mở rộng xa lộ thông tin trên thế giới

8 Giáo dục cộng đồng

Cộng đồng là một nhóm người với nhiều thành phần giới tính, lứa tuổi cùng sống chung trên một địa bàn, cùng có chung một truyền thống văn hóa

và những nhu cầu nguyện vọng giống nhau

Giáo dục cộng đồng là giáo dục trong cộng đồng và có sự tham gia của cộng đồng trong giáo dục nhằm duy trì, củng cố và phát triển cộng đồng

Giáo dục cộng đồng là một quá trình biến đổi các loại trường học thành các trung tâm giáo dục và câu lạc bộ văn hóa cho mọi lứa tuổi

* Đặc trưng của giáo dục cộng đồng:

+ Giáo dục được tổ chức và phát triển ổn định cùng với các quá trình phát triển kinh tế xã hội nhằm mục tiêu duy trì, củng cố và phát triển cộng đồng

+ Được tổ chức một cách hệ thống mang tính phổ biến (toàn cầu) nhưng cũng đậm nét bản sắc dân tộc, truyền thống, tinh hoa văn hóa của từng dân tộc, từng cộng đồng

Trang 31

+ Là một hệ thống mở tạo cơ hội cho mọi tầng lớp, mọi thành viên trong cộng đồng ngày càng gắn bó với cộng đồng, xã hội Nguyên tắc của trường cộng đồng là giáo dục cho mọi lứa tuổi Mục tiêu giáo dục dựa trên lợi ích và nhu cầu của cộng đồng, nhà trường phục vụ cộng đồng và cộng đồng phục

vụ lại nhà trường

+ Cách thức tổ chức hoạt động đa dạng phong phú, nội dung, phương pháp giáo dục mềm dẻo, linh hoạt để phù hợp với nhiều loại đối tượng Phương pháp áp dụng trong nhà trường cộng đồng là phương pháp chủ điểm theo những nội dung thiết thực gắn liền với thực tiễn và nhu cầu phát triển của cộng đồng

* Tác dụng của giáo dục cộng đồng:

- Giáo dục cộng đồng là một tư tưởng, một cách làm mới mẻ nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững, gắn bó giữa giáo dục với các quá trình xã hội, với đời sống và lợi ích của cộng đồng

- Giáo dục cộng đồng là một cách thức tốt và có hiệu quả nhằm tạo những điều kiện, cơ hội thực hiện sự công bằng xã hội, tạo lập nền tảng cho

sự phát triển và ổn định xã hội

9 Công nghệ giáo dục

Công nghệ được hiểu là một quy trình chặt chẽ trong khoa học kỹ thuật, trong quá trình sản xuất Khi các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển người ta áp dụng vào quá trình dạy học để giảm bớt lao động nặng nhọc

và nâng cao hiệu quả dạy học như áp dụng điều khiển học để chương trình hóa dạy học, tạo các thiết bị kỹ thuật hiện đại cho quá trình dạy học Sau này người ta nghiên cứu áp dụng tư tưởng công nghệ để xây dựng quy trình dạy học với các công đoạn, thao tác, được thiết kế tương tự như quy trình kỹ thuật và công nghệ

Gần đây các nhà khoa học đã thống nhất: công nghệ giáo dục không chỉ là việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn (audi- visual media) vào mục đích dạy học mà còn là trong các lĩnh vực như tin học, viễn thông, phương

Trang 32

pháp đánh giá, phân tích các hệ thống khoa học nói chung Từ đó có thể hiểu công nghệ giáo dục là cách thức tiếp cận hệ thống trong việc thiết kế toàn bộ quá trình dạy học và lĩnh hội tri thức có tính đến cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật và nguồn nhân lực trong sự tương tác giữa chúng với nhau nhằm tối ưu hóa quá trình dạy học và đào tạo

Công nghệ giáo dục tạo nên những cải tiến rõ rệt trong giáo dục, gia tăng sự gắn bó chặt chẽ trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch học tập, thi cử và đánh giá Như vậy công nghệ giáo dục tạo sự gắn bó chặt chẽ trong từng thành phần của quá trình giáo dục hơn là giúp đạt tới hiệu quả cao Tuy nhiên con ngươi cần một sự đào tạo vững vàng về nhân văn, xã hội dựa trên những khát vọng tự do của con người do đó không thể rút gọn quá trình giáo dục thành một quy trình cứng nhắc Do đó không nên quá đề cao hiệu quả của công nghệ giáo dục Thực tế cho thấy có thể thiết kế, tổ chức quá trình giáo dục giống nhau nhưng việc dạy học, nhất là tự giáo dục rèn luyện nhân cách rất đa dạng, độc đáo mà không có phương pháp, hình thức hay phương tiện giáo dục nào dù hiện đại có thể thay thế hoạt động sáng tạo của con người (giáo viên và học sinh)

10 Giáo dục hướng nghiệp

Hướng nghiệp là hệ thống những tác động giúp cá nhân lựa chọn các công việc hoặc nghề phù hợp với nguyện vọng và năng lực cá nhân nhằm đáp ứng các nhu cầu về kinh tế và lao động của xã hội

Ở nhà trường phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được hiểu là một bộ phận của quá trình giáo dục nói chung đòi hỏi nhà trường phải cung cấp cho học sinh nắm được:

- Hệ thống các nghề nghiệp chủ yếu hiện có trong xã hội

- Nội dung cơ bản và các yêu cầu đối người tham gia nghề nghiệp

- Các thông tin cần thiết về sự phân bố, tuyển chọn, sử dụng nhân lực

ở các nghề nghiệp

Trang 33

Ngoài ra còn phải hướng dẫn có tính chất tư vấn để học sinh đối chiếu với năng lực, sở trường của bản thân để định hướng đúng và lựa chọn nghề sau khi tốt nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục và dạy học, kể cả nội dung giáo dục lao động kỹ thuật trong nhà trường

11 Kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó việc vận dụng và quản lý tri thức đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo nên sự thịnh vượng Tri thức được xem là nền tảng của vốn, và sự phát triển kinh tế có được là do sự tích lũy tri thức mà nên

Như vậy kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển trên cơ sở lấy tri thức làm nguồn tài nguyên chủ yếu Khoa học- công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành công nghiệp cao trở thành ngành sản xuất quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế xã hội Nhân loại đã trải qua các nền kinh tế như: nền kinh tế sức người (nông nghiệp), nền kinh tế tài nguyên (công nghiệp) và nền kinh tế tri thức Ngày nay người ta phân biệt rõ ba phạm trù:

dữ liệu, thông tin và tri thức

- Dữ liệu: những khối cơ bản trong kinh tế thông tin

- Thông tin: dữ liệu được xếp thành mẫu hình có ý nghĩa

- Tri thức: áp dụng và sử dụng một cách có ích các thông tin

(Trích theo “Kinh tế tri thức”, Viện Quản lý kinh tế Trung ương, NXB Thống kê Hà Nội, 2000, trang 35- 36)

V HỆ THỐNG CÁC NGÀNH THUỘC KHOA HỌC GIÁO DỤC - MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC

1 Hệ thống các ngành thuộc khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục là một hệ thống các bộ môn khoa học có đối tượng nghiên cứu chung là quá trình giáo dục, có nhiệm vụ vạch ra bản chất và cấu trúc của quá trình giáo dục, vạch ra các mối liên hệ và quan hệ có tính qui luật

Trang 34

chi phối sự vận động của quá trình giáo dục, từ đó xây dựng cơ sở khoa học

để tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục một cách tối ưu

Hệ thống các ngành thuộc khoa học giáo dục hình thành do tác động của ba nhân tố khách quan sau:

- Những đòi hỏi mới của đời sống xã hội và thực tiễn giáo dục

- Logic phát triển của khoa học giáo dục (sự phát hiện những khía cạnh mới cần nghiên cứu)

- Tác động qua lại giữa khoa học giáo dục và các khoa học khác

Khoa học giáo dục là một lĩnh vực lý luận tương đối độc lập đang trong quá trình vừa tự phân hóa thành những bộ môn khoa học giáo dục riêng biệt, vừa hội nhập với các bộ môn khoa học khác để tạo thành hệ thống phát triển các bộ môn khoa học giáo dục Các bộ môn khoa học giáo dục được chia thành 6 nhóm theo các tiêu chuẩn phân loại khác nhau:

- Nghiên cứu ở thể hoàn chỉnh về mặt cấu trúc, vận hành và phát triển cũng như về không gian và thời gian, có nhóm các bộ môn khoa học giáo dục:

+ Cơ sở lý luận và phương pháp luận của Giáo dục học

- Nghiên cứu thông qua việc chiếm lĩnh các lĩnh vực văn hóa khác nhau

và việc tham gia các loại hình hoạt động khác nhau:

+ Giáo học pháp bộ môn (lý luận dạy học bộ môn): khoa học về các quy luật giảng dạy và nghiên cứu từng môn học cụ thể

Trang 35

+ Phương pháp tổ chức và hướng dẫn các hoạt động (trò chơi, thể thao, nghiên cứu khoa học, lao động kỹ thuật )

- Nghiên cứu trong mối liên hệ và tác động qua lại giữa giáo dục với các quá trình khác như quá trình phát triển tâm sinh lý con người, quá trình phát triển kinh tế - xã hội:

+ Tâm lý học giáo dục

+ Kinh tế học giáo dục

+ Xã hội học giáo dục

+ Vệ sinh trường học

+ Lý luận về cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học

- Nghiên cứu quá trình giáo dục ở những lứa tuổi khác nhau, các thiết chế và bậc học khác nhau:

+ Giáo dục học chuyên ngành: Giáo dục học y học, Giáo dục học quân

sự, Giáo dục học thể dục - thể thao, Giáo dục học sản xuất, Giáo dục học cải tạo

- Nghiên cứu quá trình giáo dục đối với trẻ khuyết tật:

+ Giáo dục học chuyên biệt: chuyên nghiên cứu đặc điểm dạy học, giáo dục và chuẩn bị lao động cho trẻ em khuyết tật Hiện nay Giáo dục học

Trang 36

chuyên biệt đang nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật

2 Mối quan hệ giữa Giáo dục học và các khoa học khác

Giáo dục học nghiên cứu giáo dục như một hiện tượng xã hội nên nó liên quan đến mọi khoa học về xã hội

+ Triết học Mác Lênin: Khoa học về các quy luật phổ biến nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy con người, là nền tảng khoa học cung cấp các quan điểm phương pháp luận cho việc xây dựng Giáo dục học

+ Xã hội học: nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường xã hội tới con người và tới quan hệ giữa mọi người, nghiên cứu các đặc điểm của sự phát triển kinh tế, văn hóa và ảnh hưởng của chúng tới sự hình thành và phát triển nhân cách con người; nó giúp Giáo dục học giải quyết nhiều nhiệm vụ xây dựng nhà trường, cũng như tác động qua lại giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục trẻ em

+ Kinh tế học:

Đối tượng dạy học và giáo dục là con người, bởi vậy giáo dục học liên quan chặt chẽ đến những khoa học nghiên cứu con người như sinh lý học và tâm lý học

+ Sinh lý học: được coi là nền tảng khoa học tự nhiên của cả Tâm lý học và Giáo dục học

Giáo dục học dựa trên tài liệu của sinh lý học về sự phát triển của hoạt động thần kinh cao cấp và các đặc điểm loại hình của hệ thần kinh, của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai, về sự phát triển và vận hành của các giác quan, các cơ quan nội tạng

Hiểu biết cơ sở sinh lý học của các hiện tượng tâm lý sẽ giúp các nhà giáo hình dung rõ hơn một số cơ chế dạy học và giáo dục để nâng cao hiệu quả tác động

Trang 37

+ Tâm lý học: trang bị cho Giáo dục học tri thức về nhiều điều kiện và

cơ chế diễn biến của quá trình hình thành nhân cách con người Chẳng hạn Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm có vai trò rất quan trọng đối với việc nghiên cứu và ứng dụng Giáo dục học vì trang bị cơ sở để ứng dụng hợp lý các phương pháp dạy học và giáo dục, còn Tâm lý học xã hội lại cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề giáo dục đạo đức, nhân cách

Như vậy Giáo dục học tuy có đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu riêng nhưng vẫn liên quan chặt chẽ với nhiều khoa học khác cùng nghiên cứu về con người Sự liên quan thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng: cùng nghiên cứu những vấn đề chung; Giáo dục học sử dụng những tài liệu, sự kiện của các khoa học khác, sử dụng những thuật ngữ và luận điểm; vận dụng phương pháp của các khoa học khác trong các công trình nghiên cứu giáo dục

VI ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1 Nghiên cứu hoàn thiện các vấn đề thuộc phạm trù phương pháp luận

khoa học giáo dục, đảm bảo tiếp cận với xu thế phát triển mới mẻ, đa dạng của giáo dục và Giáo dục học: kế thừa những tư tưởng giáo dục tiến bộ, hội nhập với xu thế phát triển giáo dục của thế giới, mở rộng và nâng cao tầm bao quát của tư tưởng giáo dục, mở rộng hệ thống khái niệm giáo dục (đề cao tính nhân văn, tính quốc tế )

2 Xác định đối tượng nghiên cứu của khoa học giáo dục nói chung và của Giáo dục học nói riêng

Trước đây đối tượng nghiên cứu khoa học giáo dục là quá trình vận động và phát triển giáo dục trong các nhà trường công lập Ngày nay cần bổ sung nghiên cứu quá trình giáo dục trong các loại hình nhà trường khác như bán công, dân lập, nội trú, bán trú và các loại hình giáo dục từ xa, giáo dục thường xuyên, giáo dục tình thương

3 Nghiên cứu hoàn thiện nội dung của Giáo dục học

Trang 38

- Nhiều phạm trù lý luận vốn có trở nên quá đơn giản không đáp ứng với thực tiễn phức tạp hiện nay, không bao hàm đầy đủ các nội dung khoa học mới, thành tựu lý luận mới của Giáo dục học như: mục đích giáo dục, giáo dục gia đình, giáo dục trẻ chưa ngoan, công nghệ giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân

- Nhiều vấn đề lý luận trong Giáo dục học đại cương cũng như trọng Giáo dục học chuyên ngành cần được nghiên cứu tiếp tục

4 Nghiên cứu vận dụng các phương tiện kỹ thuật mới trong dạy học, bổ sung và hoàn thiện các phương pháp nghiên cứu Giáo dục học

Cần lưu ý áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, sử dụng những phương tiện kỹ thuật mới, phương pháp nghiên cứu mới để nâng cao chất lượng các công trình khoa học đồng thời đào tạo các nhà khoa học trẻ tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu hiện đại trên thế giới

5 Nghiên cứu một số vấn đề nổi bật về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện không ngừng hệ thống giáo dục quốc dân

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò, vị trí, tác dụng của giáo dục trong giai đoạn mới Xác định mối tương quan biện chứng giữa giáo dục với sự phát triển kinh tế xã hội

- Phương thức tổ chức giáo dục: từ nhà trường sang toàn xã hội, mối liên quan giữa giáo dục phổ cập, trình độ dân trí và văn hóa

- Vấn đề giáo dục nhân cách con người – mối liên quan giữa các chuẩn mực, giá trị đang hình thành trong xã hội với những khuôn mẫu mà nhà trường đang giáo dục học sinh

- Việc kết hợp giữa giáo dục văn hóa với giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề

Các định hướng ảnh hưởng lớn đến việc điều chỉnh, xây dựng lại cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân để bảo đảm hiệu quả giáo dục, làm cho giáo dục thực sự gắn với quá trình kinh tế - xã hội năng động hiện nay

Trang 39

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP

1 Hiện tượng giáo dục xuất hiện từ khi nàơ? Vì sao nói giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt?

2 Giáo dục có những chức năng xã hội và tính chất gì?

3 Giáo dục học ra đời từ khi nào, được đánh dấu bằng sự kiện gì? Ai là người có công tách Giáo dục học thành một khoa học độc lập?

4 Vì sao Giáo dục học được xem là một khoa học?

5 Đối tượng - nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học là gì?

6 Cấu trúc của quá trình giáo dục gồm có những hệ thống nào? (phân tích từng hệ thống)

7 Giáo dục học có những khái niệm cơ bản nào? Mỗi khái niệm có những cách hiểu khác nhau như thế nào?

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1 Cấu trúc hệ thống các thành tố cơ bản của quá trình giáo dục đòi hỏi việc cải tiến hoạt động giáo dục phải được bắt đầu từ yếu tố nào? Vì sao?

2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chỉ tập trung vào việc cải tiến phương pháp giáo dục là đúng hay sai?

3 Phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố: Giáo dục và Tự giáo dục; Dạy học và Tự học dựa trên nội hàm của các khái niệm đó

Chương 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

Sau bài học này, người học có khả năng:

1 Về kiến thức:

a Mức độ Biết:

- Trình bày các khái niệm: Nhân cách, sự phát triển nhân cách theo nghĩa GDH

Trang 40

- Nêu đầy đủ những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách

Nội dung bài học:

I SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI

1 Khái niệm con người và bản chất con người

* Một số quan niệm về con người:

- Con người thần bí: Quan niệm này có tính chất duy tâm khi cho rằng trong con người có hai phần cơ thể và linh hồn Phần cơ thể to lớn được nhìn thấy rõ, còn phần linh hồn nhỏ bé, bí ẩn không hiển hiện ra ngoài nhưng có khả năng điều khiển cái cơ thể to lớn của con người

- Con người bản năng, sinh vật: Từ lập luận cho rằng con người khi mới sinh ra đã phải dựa vào bản năng để tồn tại và sau đó tiếp tục cuộc sống

Ngày đăng: 06/10/2021, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG - Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê - NXBGD, 1997 Khác
2. GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG - Nguyễn An - ĐHSP TPHCM, 1998 Khác
3. GIÁO DỤC HỌC HIỆN ĐẠI - Thái Duy Tuyên - NXBGD, 2001 Khác
4. GIÁO DỤC HỌC - Phạm Viết Vượng NXB ĐHQG Hà Nội, 2000 Khác
5. GIÁO DỤC HỌC -Một số vấn đề lý luận và thực tiễn- Hà Thế Ngữ- NXB ĐH quốc gia Hà nội, 2001 Khác
6. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC - Võ Quang Phúc, Lê Nguyên Lương -1986 TPHCM Khác
7. LUẬT GIÁO DỤC - NXB Chính trị Quốc gia, 1999 Khác
8. TỪ ĐIỂN GIÁO DỤC HỌC - Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tả- - NXB Từ điển bách khoa, 2001 Khác
9. GIÁO DỤC VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ XXI - Phạm Minh Hạc - NXB Chính trị Quốc gia, 1999 Khác
10. VỀ PHÁT TRỂN TOÀN DIỆN CON NGƯỜI THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - Phạm Minh Hạc - NXB Chính trị Quốc gia, 2001 Khác
11. XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC - Võ Tấn Quang - NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2001 Khác
12. DẠY HỌC HIỆN ĐẠI - Đặng Thành Hưng - NXB ĐH Quốc gia Hà nội, 2002 Khác
13. QUÁ TRÌNH DẠY – TỰ HỌC - Nguyễn Cảnh Toàn - NXBGD, 1997 Khác
14. LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC - Lưu Xuân Mới - NXBGD, 2000 Khác
15. TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH - Nguyễn Ngọc Bích - NXBGD, 1998 Khác
16. GIÁO DỤC HỌC - Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) - NXB GD, 1998 Khác
17. NỀN GIÁO DỤC CHO THẾ KỶ HAI MƯƠI MỐT: NHỮNG TRIỂN VỌNG CỦA CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG - RAJA ROY SINGH - Viện KHGD Hà nội, 1994 Khác
18. GIÁO DỤC CON NGƯỜI HÔM NAY VÀ NGÀY MAI - Phạm Minh Hạc - NXBGD. 1995 Khác
19. LỊCH SỬ GIÁO DỤC - ROGER GAL, Lê Thanh Hoàng Dân, Trần Hữu Đức (dịch), 1971 Khác
20. NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC THẾ GIỚI ĐỜI XƯA - Võ Quang Phúc, sở Giáo dục TPHCM, 1992 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w