Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng nhập viện và tử vong ở trẻ nhỏ, người già, người có bệnh nền Trong bối cảnh làn sóng mới Covid 19 đe doạ, việc bảo vệ lá phổi và hệ hô hấp một lần[.]
Trang 1Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng nhập viện và tử vong ở trẻ
nhỏ, người già, người có bệnh nền Trong bối cảnh làn sóng mới Covid-19 đe doạ, việc bảo vệ lá phổi và hệ hô hấp một lần nữa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Dù hiện nay đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị, nhưng viêm phổi vẫn gây gánh nặng y tế và kinh tế khủng khiếp cho trẻ em và người lớn, đặc biệt khi Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp Theo số liệu của UNICEF và WHO, viêm phổi đã giết 2 triệu trẻ em mỗi năm, nhiều hơn tử vong của AIDS, sốt rét và sởi cộng lại Ước tính mỗi ngày có khoảng 4.300 trẻ tử vong do viêm phổi trên toàn thế giới, nghĩa là cứ 20 giây lại có 1 trẻ tử vong do viêm phổi trên thế giới Riêng tại Việt Nam, hàng năm có khoảng 2,9 triệu lượt trẻ mắc và hơn 4.000 trẻ chết vì viêm phổi,
do vậy nước ta được xem là 1 trong 15 quốc gia đối diện với hiểm họa do bệnh viêm phổi nhiều nhất thế giới
Hiện nay nhiều phụ huynh tự ý mua thuốc ho, thuốc kháng sinh cho con uống khi trẻ
có tình trạng viêm phổi Trong khi đó, biểu hiện ban đầu của viêm phổi ở trẻ em rất
giống các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp khác, thậm chí Covid-19 nên nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể tiến triển nhanh dẫn đến biến chứng nặng, nguy cơ tử vong cao Trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là đối tượng dưới 2 tháng tuổi là nhóm tuổi có nguy cơ mắc và tử vong do viêm phổi cao nhất.”
Nhồi máu cơ tim là một trong những bệnh lý tim mạch nguy hiểm, xảy ra đột ngột; kể cả khi đã qua khỏi thì nguy cơ tái phát vẫn rất cao nếu không phòng ngừa đúng cách Một chế độ dinh dưỡng và lối sống kém lành mạnh sẽ khiến bạn rơi vào tình trạng nguy hiểm bởi những cơn tái phát nhồi máu cơ tim Dưới đây, bác sĩ tim mạch sẽ chia sẻ với bạn những điều người bệnh cần tránh sau nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim đã trở thành căn bệnh phổ biến tại Việt Nam Mỗi năm có hàng chục nghìn bệnh nhân nhập viện vì nhồi máu cơ tim tại các bệnh viện trên toàn quốc Dù nhồi máu cơ tim là nguy hiểm, nhưng nếu biết được các dấu hiệu cảnh báo và đến bệnh viện sớm thì có thể bảo toàn được sức khỏe
Nhồi máu cơ tim là một bệnh tim mạch nguy hiểm và ngày càng trở nên phổ biến với những con số đáng báo động Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, tỉ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim có thể giảm nhưng những biến chứng mà nó để lại thì luôn là vấn đề trăn trở của giới y học Nguyên nhân chính gây ra nhồi máu cơ tim chính là cục máu đông
Nhồi máu cơ tim cấp (AMI) là tình trạng một hay nhiều nhánh động mạch vành bị tắc nghẽn, gây thiếu máu cơ tim đột ngột và hoại tử vùng cơ tim bị thiếu máu
Nhồi máu cơ tim cấp (đột quỵ tim) là tình trạng cơ tim bị thiếu máu nuôi và
hoại tử do mạch vành (mạch máu nuôi cơ tim) bị tắc nghẽn đột ngột bởi cục huyết khối trong lòng mạch (1)
Chẩn đoán nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim thường được chẩn đoán trong trường hợp khẩn cấp Trước hết, bác sĩ sẽ hỏi
về các triệu chứng và bệnh sử của người bệnh Tiếp đó sẽ đo huyết áp, mạch và nhiệt độ; đồng thời thực hiện các kiểm tra sức khỏe tim tổng thể
Trang 2Các xét nghiệm để chẩn đoán nhồi máu cơ tim bao gồm:
Điện tâm đồ (ECG): cận lâm sàng đầu tiên được thực hiện để chẩn đoán nhồi máu
cơ tim, bằng cách ghi lại các tín hiệu điện trong tim Các điện cực được gắn vào ngực, cánh tay và chân Tín hiệu có dạng sóng được in lại trên giấy hoặc hiển thị trên màn hình Điện tâm đồ nhồi máu cơ tim có thể cho biết người bệnh đang bị hoặc có tiền sử mắc bệnh trong quá khứ
Xét nghiệm máu: Một số protein tim từ từ rò rỉ vào máu sau khi tim bị tổn thương
do nhồi máu cơ tim, gọi là men tim (troponin) Xét nghiệm máu có thể kiểm tra các protein này (chất chỉ điểm tổn thương hoại tử cơ tim)
Chụp X-quang lồng ngực: Cho biết tình trạng, kích thước của tim và phổi, các nguyên nhân khác gây đau ngực
Siêu âm tim: cho biết cách máu di chuyển qua tim và van tim, chức năng co bóp của cơ tim Siêu âm tim có thể giúp xác định xem một vùng tim có bị tổn thương hay không
Chụp mạch vành: Một ống dài, mỏng (ống thông) được đưa vào động mạch, thường là ở tay và dẫn đến tim Thuốc cản quang được bơm qua ống thông để giúp hình ảnh các động mạch hiển thị rõ ràng hơn trong quá trình kiểm tra
Xem thêm: Nhồi máu cơ tim ST không chênh lên là gì?
Sơ cứu người bị nhồi máu cơ tim đúng cách
ThS.BS Huỳnh Thanh Kiều – Trưởng khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM hướng dẫn một số nguyên tắc cơ bản khi sơ cứu cho người bị nhồi máu cơ tim cấp (đột quỵ tim): (3)
Đặt bệnh nhân ngồi hoặc nằm, nới lỏng thắt lưng, quần áo để giúp máu lưu thông dễ dàng
Gọi 115 hoặc số điện thoại khẩn cấp của bệnh viện gần nhất Nếu không thể chờ xe cấp cứu đến, hãy chủ động thuê taxi hoặc tự mình chở bệnh nhân đến bệnh viện
Cho bệnh nhân nhai và nuốt một viên aspirin trong khi chờ cấp cứu Aspirin giúp ngăn ngừa tình trạng đông máu, giảm nguy cơ tổn thương tim Không dùng aspirin nếu bệnh nhân bị dị ứng với thuốc
Ép tim ngoài lồng ngực (Hồi sinh tim phổi – CPR): Tiến hành càng sớm càng tốt vì cứ mỗi 1 phút chậm trễ thì người bệnh mất đi 10% cơ hội được cứu sống
Điều trị nhồi máu cơ tim cấp
Điều trị tái lưu thông động mạch vành bị tắc nghẽn cấp cứu
Các phương pháp điều trị tái lưu thông mạch vành bị tắc nghẽn trong nhồi máu cơ tim cấp gồm:
Thuốc tiêu sợi huyết (streptokinase, rt-PA): Sử dụng khi bệnh nhân đến bệnh viện sớm
và bệnh viện không có phòng thông tim;
Chụp mạch vành, nong đặt stent;
Mổ bắc cầu động mạch vành
Trang 3Chụp động mạch vành: Bác sĩ dùng 1 ống thông nhỏ, dài, mềm được luồn từ động mạch quay
hoặc động mạch đùi hướng vào tim, đi đến động mạch vành Qua ống thông, bác sĩ sẽ bơm thuốc cản quang, ghi lại hình ảnh mạch vành Bác sĩ sẽ đưa stent vào vị trí mạch vành bị tắc, bung stent, nong mạch máu rộng ra, giúp dòng máu lưu thông lại bình thường
Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành: Bác sĩ lấy 1 đoạn mạch máu từ bộ phận khác của cơ thể,
làm cầu nối phía trước và phía sau chỗ tắc, giúp máu đi qua chỗ cầu nối mới Phẫu thuật bắc cầu thường thực hiện khi hẹp mạch vành nặng, kéo dài lan tỏa không thể đặt stent được
Trang 4Điều trị lâu dài sau nhồi máu cơ tim cấp
Bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cần được điều trị và chăm sóc lâu dài để tránh tái phát và biến chứng về sau (4)
Thay đổi lối sống là điều cần làm xuyên suốt quá trình điều trị:
o Tập thể dục đều đặn, giảm cân nếu dư cân hoặc béo phì;
o Không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, nước ngọt;
o Không nên ăn mặn, giảm ăn thịt mỡ, thức ăn đóng hộp, thức ăn nhanh, đồ ăn chiên xào;
o Nên ăn nhiều trái cây, rau, củ, quả, hạt; Ăn cá hoặc thịt gà thay cho thịt heo, thịt bò;
o Tránh căng thẳng, luyện tập thư giãn
Người bệnh cần uống thuốc và tái khám thường xuyên:
o Các thuốc điều trị thiết yếu: Thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin 2, chẹn bêta, chống kết tập tiểu cầu (aspirin, clopidogrel, ticagrelor, prasugrel) và statin
o Bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cần uống 2 loại thuốc chống kết tập tiểu cầu tối thiểu trong vòng 1 năm Sau đó, duy trì ít nhất 1 loại thuốc chống kết tập tiểu cầu lâu dài
o Bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu hoặc đặt stent mạch vành cần uống thuốc chống kết tập tiểu cầu lâu dài để phòng ngừa huyết khối trong stent hoặc tái hẹp mạch vành
o Điều trị tích cực các bệnh đi kèm như: Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn
mỡ máu…
T Lúc khởi phát, nhồi máu cơ tim mang tính cách một “tai biến mạch vành”, cần được
xử trí khẩn trương tại bệnh viện, tốt nhất là đơn vị chăm sóc tích cực về mạch vành Đại
Trang 5đa số các hoại tử ấy đều liên quan huyết khối mới sinh bít lấp hoàn toàn (hoặc gần hoàn toàn) lòng động mạch vành tương ứng
Nhồi máu cơ tim diễn ra như thế nào?
Sinh lý bệnh nhồi máu cơ tim
Sẽ dẫn tới hoại tử một vùng cơ tim nếu vùng cơ tim ấy bị thiếu máu cục bộ nặng và kéo dài
Đó là sự sập hẳn cán cân cung - cầu, thường là mất hẳn cung Điều ấy xảy ra do nhánh động mạch vành tương ứng, trong vòng 4 giờ kể từ khởi phát cơn đau, bị huyết khối mới sinh bít lấp hoàn toàn (thấy ở 95% bệnh nhân nhồi máu cơ tim)
Huyết khối này thường liên quan đến hiện tượng viêm tại chỗ gây biến chứng của mảng
xơ vữa: Rạn, nứt, vỡ, gãy rồi đứt rời ở vỏ mảng xơ vữa với kết tập tiểu cầu xung quanh tạo ra một huyết khối “trắng”, rồi sẽ thêm cả hồng cầu và huyết cầu khác quấn trong tơ huyết tạo thành huyết khối “đỏ” hoàn chỉnh, hỗn hợp, nó di động theo dòng máu (cục thuyên tắc) tới đoạn mạch vành hẹp hơn nên bít lấp hoàn toàn nó lại
Thường có thêm vai trò của cơn co thắt mạnh chọn trúng những khu vực động mạch vành bị xơ vữa và/hoặc bị huyết khối Đôi khi còn có xuất huyết những tân mạch phía dưới mảng xơ vữa, đội nó lên, làm hẹp thêm lòng động mạch
Chỉ một số ít trường hợp thì hoại tử cơ tim là do cục thuyên tắc từ xa đến Vùng hoại tử
và vùng thiếu máu cơ tim bao quanh ắt sẽ:
Trở ngại co bóp dẫn đến làm giảm chung cung lượng tâm thất (suy tim);
Trang 6Gây bất ổn định điện học (Loạn nhịp tim như ngoại tâm thu thất, rung thất) hoặc trở ngại dẫn truyền xung động điện (block)
Gây toan huyết chuyển hóa do sinh nhiều acid lactic trong hoàn cảnh yếm khí
Vùng hoại tử này có biểu hiện “rối loạn chuyển động vùng” (giảm động, bất động, loạn động), có thể bị biến chứng cơ học (mỏng, phình, vỡ, thủng mạch), có thể tạo huyết khối mặt trong thành tâm thất, nếu bứt ra sẽ thành thuyên tắc trong đại tuần hoàn (não, mạc treo, chi dưới…) gây đột quỵ hay tắc mạch chi
P HÀ NỘI
108 Phố Hoàng Như Tiếp, P Bồ Đề, Q Long Biên
1800 6858
024 7106 6858
TP HỒ CHÍ MINH
2B Phổ Quang, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
0287 102 6789
0287 300 6858
‹
›
024 7106 6858 (HN)
làm việc từ 7:30 - 16:30
cskh@tamanhhospital.vn
2B Phổ Quang, Phường 2,
Q Tân Bình, Tp Hồ Chí
0287 102 6789
0287 300 6858 (HCM)
làm việc từ 7:00 - 19:00
cskh@tahospital.vn
Trang 7ĐƯỜNG DẪN NHANH
Chuyên khoa
Chuyên mục bệnh học
Chính sách bảo mật
CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Số đăng ký kinh doanh: 0102362369
cấp bởi Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội, đăng ký lần đầu ngày 11 tháng 9 năm 2007
4 TỔN THƯƠNG GlẢI PHẪU BỆNH
– Viêm phổi do phế cầu khuẩn thường gặp ở thùy dưới phổi phải nhiều hơn phổi trái, trường hợp bị cả hai bên hiếm gặp hơn
– Có khi bị nhiều thùy phổi
– Các giai đoạn viêm phổi thùy cổ điển của Laennec
4.1 Giai đoạn sung huyết
Vùng phổi bị tổn thương sung huyết mạnh, các mạch máu giãn rộng, thoát hồng cầu, bạch cầu tơ huyết vào phế nang, cấy dịch ở ổ viêm có nhiều vi khuẩn gây bệnh
4.2 Giai đoạn gan hoá đỏ
Sau khi bị bệnh 1-2 ngày, thuỳ phổi bị tổn thương có màu đỏ chắc như gan, cắt mảnh phổi bỏ vào nước thì chìm, trong phế nang chứa nhiều hồng cầu và bạch cầu Lấy dịch phế nang cấy có nhiều vi khuẩn
4.3 Giai đoạn gan hóa xám
– Vùng phổi bị tổn thương chắc như gan, màu xám, trên mặt có mủ, trong phế nang có nhiều đại thực bào, hồng cầu và bạch cầu
– Tổn thương giải phẫu bệnh trong phế quản phế viêm: những vùng tổn thương rải rác cả hai phổi, xen lẫn với những vùng phổi lành, những vùng tổn thương tuổi cũng khác nhau, phế quản bị tổn thương nặng hơn; cắt mảnh phổi bỏ vào nước thì chìm lơ lửng
Trang 8Giải phẫu bệnh
Viêm phổi thùy
Thương tổn có thể là một phân thùy, một thùy hay nhiều thùy, hoặc có khi cả hai bên phổi, thường gặp nhất là thùy dưới phổi phải
Theo sự mô tả của Laennec thì có các giai đoạn:
Giai đoạn sung huyết: Vùng phổi thương tổn bị sung huyết nặng, các mao mạch giãn
ra, hồng cầu, bạch cầu và fibrin thoát vào trong lòng phế nang, trong dịch này có chứa nhiều vi khuẩn
Giai đoạn gan hóa đỏ: Trong một đến 3 ngày tổ chức phổi bị thương tổn có màu đỏ xẩm và chắc như gan, trong tổ chức này có thể có xuất huyết
Giai đoạn gan hóa xám: Thuơng tổn phổi có màu nâu xám chứa hồng cầu, bạch cầu,
vi khuẩn và tổ chức hoại tử
Giai đoạn lui bệnh: Trong lòng phế nang còn ít dịch loãng, có ít bạch cầu
Phế quản phế viêm
Các thương tổn rãi rác cả hai phổi, vùng thương tổn xen lẫn với vùng phổi lành, các tiểu phế quản thương tổn nặng nề hơn, các thương tổn không đều nhau và khi khỏi thường để lại xơ
ĐỊNH NGHĨA
Viêm phổi là hiện tượng viêm nhiễm của nhu mô phổi bao gồm viêm phế nang, túi phế nang, ống phế nang, tổ chức liên kết khe kẽ và viêm tiểu phế quản tận cùng Nguyên nhân do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, không phải do trực khuẩn la
Viêm phổi là tình trạng nhu mô phổi bị nhiễm trùng (sưng) bao gồm viêm phế nang (túi khí nhỏ), túi phế nang, ống phế nang, tổ chức liên kết khe kẽ và viêm tiểu phế quản tận cùng do vi khuẩn, virus, nấm gây nên 9 thg 8, 2022
2 Nguyên nhân gây bệnh
Trang 9Có nhiều yếu tố dẫn đến sự hình thành quá trình viêm nhiễm xảy ra ở phổi Mỗi nguyên nhân đều có sự tác động khác nhau đến cơ thể và từ đó triệu chứng viêm phổi cũng sẽ thay đổi Các tác nhân gây ra hiện tượng viêm ở phổi được phân tích cụ thể như sau: Virus
Virus là tác nhân gây ra rất nhiều bệnh lý, trong đó viêm phổi là trường hợp không phải ngoại lệ So với các yếu tố gây bệnh khác, quá trình viêm do virus xảy ra chậm hơn và ít chuyển hưởng nghiêm trọng Theo thống kê, có khoảng gần 50% số trường hợp mắc bệnh do virus gây ra và triệu chứng viêm phổi trong trường hợp này tương tự cảm cúm thông thường
Chính vì điều này mà nhiều người hay nhầm lẫn tình trạng viêm nhiễm phổi do virus với cúm dẫn đến việc điều trị kém hiệu quả và mất nhiều thời gian Ngoài ra, các trường hợp mắc bệnh do virus sẽ tăng khả năng bội nhiễm vi khuẩn khiến quá trình viêm tiến triển nặng hơn
Vi khuẩn
Vi khuẩn gây viêm phổi có khả năng tiến triển bệnh nhanh hơn với triệu chứng ở mức độ nặng hơn so với virus Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn sẽ di chuyển đến các thùy phổi, khu trú ở đây và bắt đầu quá trình phát triển, nhân lên và gây bệnh lý
Nếu người vô tình hít phải những hạt nước bọt trong không khí của các bệnh nhân ho ra
có chứa Mycoplasma Pneumoniae sẽ dẫn đến tình trạng viêm nhiễm phổi Thông thường, Mycoplasma không gây viêm nhiễm quá nặng nhưng lại có khả năng lây lan nhanh chóng giữa người với người
Bên cạnh đó, các loại phế cầu khuẩn Gram dương là căn nguyên phổ biến dẫn đến hiện tượng viêm nhiễm xảy ra ở phổi bao gồm: Streptococcus Pneumoniae, Haemophilus Influenzae, Klebsiella Pneumoniae, Legionella Pneumophila Chlamydia Pneumoniae, Nấm
Một trong những nguyên nhân gây viêm phổi cấp ở người dù ít gặp nhưng không thể bỏ qua là nấm Người có khả năng nhiễm nấm qua tiếp xúc hoặc hít phải mầm bệnh từ ngoài môi trường Những đối tượng bị bệnh bạch cầu, ghép tủy, điều trị thuốc ức chế miễn dịch, Corticosteroid trong thời gian dài, sẽ có nguy cơ cao bị viêm phổi do nấm và
có khả năng nhiễm toàn thân
Nguyên nhân khác
Ngoài những tác nhân chính nói trên thì hiện tượng viêm nhiễm phổi ở người còn
có thể do: Hít sặc thức ăn, dịch dạ dày, chất béo, chất bay hơi, dị vật, Tăng đáp ứng miễn dịch, thuốc và chất phóng xạ, hoặc biến chứng từ bệnh lý nền
Môi trường số ô nhiễm, nhiều khói bụi bẩn, nhất là những nơi dày đặc khói thuốc
lá mỗi ngày có thể là yếu tố dẫn đến phản ứng viêm ở các cơ quan đường hô hấp Ngoài ra, việc dùng chung các đồ dụng cụ cá nhân như bàn chải đánh răng,
Trang 10khăn lâu, ly, bát, đũa, với bệnh nhân cũng có thể dẫn đến lây nhiễm cho người khỏe mạnh
Không khí ô nhiễm, khói bụi là điều kiện thuận lợi làm tăng các yếu tố gây bệnh đường
hô hấp
3 Cơ chế sinh bệnh
Điều kiện thuận lợi cho sự hình thành bệnh lý
Những điều kiện thuận lợi để tạo cơ hội cho mầm bệnh phát triển, xâm nhập và gây hại cho các cơ quan đường hô hấp bao gồm:
Môi trường: Sự thay đổi đột ngột của thời tiết có thể là yếu tố mà một người cần phải chú ý Nhất là vào giai đoạn trời chuyển lạnh sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh
lý về đường hô hấp kể cả viêm nhiễm các cơ quan nội tạng
Bệnh lý nền bao gồm các vấn đề mạn tính đang điều trị, viêm xoang, viêm amidan, tắc nghẽn đường hô hấp, hen suyễn, bệnh tự miễn,
Cơ thể có sức đề kháng kém, còi xương, người già hay những đối tượng hút thuốc lá, nghiện rượu