1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CỔ-THỊ-BÍCH-NHẪN-21100102-BÀI-TIỂU-LUẬN-LSĐ.docx

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 57,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài Tiểu Luận Lịch Sử Đảng về chủ trương chính sách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐAI HỌC Y DƯỢC- ĐHQG HÀ NỘI

- -BÀI TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG VIỆT NAM

ĐỀ TÀI : CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI PHÁP TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/12/1946

Hà Nội, tháng 01 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI PHÁP TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/12/1946 4

1 Hoàn cảnh lịch sử 4

2 Những chủ trương, chính sách của nước ta trong quan hệ với thực dân Pháp 5 2.1 Giai đoạn 1( từ tháng 9/1945 đến ngày 6/3/1946): Chủ trương, chính sách của Đảng trước khi khí kết các bản Hiệp định với thực dân Pháp 5 2.2 Giai đoạn 2( từ ngày 6/3/1946 đến 19/12/1946): Chủ trương “ Hòa để tiến” của Đảng 6

CHƯƠNG II BÀI HỌC RÚT RA TỪ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY 9 KẾT LUẬN 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm 1945 của thế kỉ XX, nước ta là một trong số các nước thuộc địa của Pháp, chúng ta luôn bị Pháp kìm hãm, bóc lột và tàn phá hết sức nặng nề Nhưng sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã thành công mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử nước ta, chấm dứt 80 năm bị thực dân đô hộ và hàng nghìn năm áp bức của chế độ phong kiến Đến ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản

“Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một nhà nước non trẻ vừa mới ra đời Ngay sau đó nước ta gặp rất nhiều khó khăn và thử thách với nhiều kẻ thù nguy hiểm, thù trong giặc ngoài, phải đối mặt cùng lúc với ba loại giặc nguy hiểm là : “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” Vì thế nên nước ta cần phải đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp để đẩy lùi những khó khăn này Mà Pháp lại là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với nước ta bấy giờ, chúng luôn tìm đủ mọi cách

để chống phá nước ta

Lenin từng dạy những người cách mạng rằng: “Thấy cuộc chiến đấu rõ ràng có lợi cho kẻ thù chứ không có lợi cho ta mà cứ nghênh chiến, đó là một tội ác; và những nhà chính trị nào của giai cấp cách mạng không biết “lựa chiêu, liên minh và thỏa hiệp” để tránh một cuộc chiến đấu bất lợi rõ rệt thì đó là những người vô dụng”.1Vậy nên Đảng và Nhà nước ta phải có những chủ trương, chính sách phù hợp để đối phó với thực dân Pháp lúc đó

Bài tiểu luận này sẽ đi tìm hiểu những chủ trương, chính sách của nước ta trong quan hệ với Pháp từ tháng 9/1945 đến đến trước ngày 19/12/1946 và những bài học rút ra từ những chủ trương, chính sách đó trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay

1 V.I,Lênin, Toàn tập, tập 41, nxb Tiến bộ, Mát- xcow- va, 1977, tr77.

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI PHÁP TỪ THÁNG 9/1945 ĐẾN TRƯỚC NGÀY

19/12/1946 1.

Hoàn cảnh lịch sử

Sau khi cách mạng tháng tám tháng Tán thành công cùng với diến biến tình hình thế giới lúc đó đã mang không ít thuận lợi trong việc quản lý và xây dựng đất nước cho Việt Nam Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời còn non trẻ nên công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng lên trước bối cảnh vừa có thuận lợi, vừa phải đương đầu với những khó khăn to lớn và nguy hiểm

Về thuận lợi: Phong trào đấu tranh của nước ta giành được nhiều thắng lợi, cùng với những chuyển biến tốt đẹp với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới và hệ thống Xã hội chủ nghĩa đã góp phần tạo nên chỗ dựa vững chắc chó cách mạng Việt Nam Đồng thời, nước ta đã thành lập được chính quyền dân chủ cho nhân dân, có hệ thống từ Trung ương cho đến cơ sở Nhân dân từ thân phận nô lệ bây giờ đứng lên làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ vận mệnh đất nước Cùng với đó, chúng ta còn được toàn dân tin tưởng và ra sức ủng hộ Việt Minh, ủng hộ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo

Về khó khăn: Nước ta lúc bấy giờ tuy có những thuận lợi cơ bản nhưng không thể tránh khỏi được nhiều khó khăn khi “thù trong, giặc ngoài” luôn ra sức chống phá Cùng với những hậu quả nghiêm trọng do chế độ cũ để lại như nạn đói, nạn dốt nặng

nề, ngân quỹ quốc gia trống rỗng; kinh nghiệm quản lý đất nước của các cấp còn non yếu; thêm vào đó là nền độc lập nước ta lúc đó chưa được quốc gia nào trên thế công nhận vì vậy để giải quyết được những khó khăn đó là thách thức khó nhằn đối với tình hình nước ta lúc bấy giờ Chúng ta vừa phải đối phó với quân Tưởng và bè lũ tay sai( đứng đằng sau là đế quốc Mỹ), vừa phải đối phó với các cường quốc đế quốc Mỹ, Anh, Pháp đang âm mưu xâm chiếm nước ta Tình hình nước ta khi đó có thể nói là

“ngàn cân treo sợi tóc” khi phải đối phó đồng thời ba loại giặc là “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”

Có thể thấy, khó khăn lớn nhất và nguy hiểm nhất của Việt Nam là giặc ngoại xâm bởi lẽ nếu không giải quyết được khó khăn liên quan tới giặc ngoại xâm thì nền

Trang 5

độc lập của ta lại bị đe dọa, chỉ khi giữ được độc lập dân tộc thì mọi khó khăn trong nước mới có thể giải quyết ổn thỏa được Xuất phát từ hoàn cảnh thực tế lúc đó thì những biện pháp hòa hoãn, nhân nhượng với kẻ thù chính là cách giải quyết tốt nhất đối với nước ta bấy giờ Trên tinh thần “Tổ quốc trên hết!”, “Dân tộc trên hết!”, Đảng chủ trương: “ Củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũ khí cần thiết, đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập”

2.

Những chủ trương, chính sách của nước ta trong quan hệ với thực dân Pháp 2.1 Giai đoạn 1( từ tháng 9/1945 đến ngày 6/3/1946): Chủ trương, chính sách của Đảng trước khi khí kết các bản Hiệp định với thực dân Pháp.

Vào ngày 23/9/1945, sau khi Pháp đánh chiếm được Nam Bộ và Nam Trung

Bộ, chúng lại có âm mưu đánh chiếm miền Bắc Nhưng do lực lượng còn hạn chế, miền Nam còn chưa bình định xong, hơn nữa miền Bắc còn có quân Tưởng chiếm đóng Đứng trước tình thế vừa kháng chiến miền Nam, vừa kiến quốc ở miền Bắc để cùng thực hiện mục tiêu là giành lại và bảo vệ nền hòa bình, độc lập thực sự và trọn vẹn của dân tộc Phân tích và xem xét từ các điều kiện, khả năng khách quan, trên cơ

sở thực lực cách mạng, xác định đúng kẻ thù chính và hiểu rõ âm mưu của quân xâm lược thì chủ trương về thực hiện các chính sách ngoại giao chính là biện pháp tốt nhất lúc bấy giờ Vậy nên, đến ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị

“Kháng chiến kiến quốc”, chỉ rõ : “ Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” Đồng thời cũng chỉ rõ đường lối đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ cụ thể của kháng chiến, kiến quốc Đây là tuyên bố quan trọng của Đảng trong việc giải quyết tình hình đất nước và đề ra những nhiệm vụ mới Với khẩu hiệu là “ Dân tộc trên hết- Tổ quốc trên hết”

Đến ngày 28/2/1946, sau nhiều lần nỗ lực đàm phán với quân Tưởng, Pháp đã

ký với Tưởng bản Hiệp ước Trùng Khánh cho phép Pháp tiến quân ra Bắc thế chân Tưởng, bắt nhân dân ta nhắm mắt nuốt chửng Hiệp ước Hoa- Pháp

Trước thời khắc gay go, đòi hỏi những quyết sách sáng suốt thì đến ngày 03/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đề ra chỉ thị “ Tình hình và chủ trương”, phân tích rõ những thuận lợi, khó khăn trong nước, ngoài nước và chỉ ra rằng : “Vấn

đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình biết người,

Trang 6

nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng”2 Chỉ thị nhận định về Hiệp ước Hoa- Pháp, chỉ ra những lí do khiến Pháp muốn dàn xếp với ta và đề ra chủ trương của ta lúc này là hòa hoãn với Pháp Bản chỉ thị đã nêu rõ hai điều kiện lớn khi hòa với Pháp, thứ nhất là ta phá được

âm mưu của địch muốn đẩy ta chống lại Hiệp ước Hoa- Pháp, khi đó ta phải đối phó cùng lúc nhiều kẻ thù; thứ hai là ta sẽ có thêm thời gian để chấn chỉnh lại đội ngũ, chuẩn bị tốt hơn cho cuộc kháng chiến lâu dài về sau Chỉ thị nhấn mạnh : “ Điều cốt

tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào và ở đâu, mà hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt chí tinh thần quyết chiến của dân tộc ta”.3

2.2 Giai đoạn 2( từ ngày 6/3/1946 đến 19/12/1946): Chủ trương “ Hòa để tiến” của Đảng.

a Hiệp định Sơ bộ.

Để nhanh chóng đẩy lùi quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, bài trừ nội phản và bọn tay sai; có thêm thời gian xây dựng, củng cố lực lượng mọi mặt cùng với hiện thực hóa chủ trương “ Hòa để tiến” của Đảng, ngày 06/3/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Jean Sainteny của Pháp bản Hiệp định Sơ bộ

Tuy chúng ta không thể đuổi hết được kẻ thù ra khỏi lãnh thổ đất nước, song ta vẫn đạt được một số mục tiêu quan trọng như : Một là, nước Pháp thừa nhận Việt Nam

là một quốc gia tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp; Hai là, biến thỏa thuận tay đôi Hoa- Pháp thành thỏa thuận tay ba với cả quân Tưởng hòng tránh phải đối phó với lại nhiều kẻ thù, kết thúc vai trò của lực lượng Tưởng Giới Thạch về mặt pháp lý trên đất nước ta, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng; Ba là, bảo toàn được lực lượng, “dành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới” Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng : “ Ký hiệp định ngừng bắn không có nghĩa là chấm dứt chiến tranh Chúng ta phải tỏ thái độ thiện chí và cộng tác với quân đội Pháp, nhưng

2 Đảng Cộng sản VN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Ctqg, Hà Nội,2000,t.8, tr.43

3 Đảng Cộng sản VN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Ctqg, Hà Nội,2000,t.8, tr.47

Trang 7

điều đó không có nghĩa là phải tỏ ra yếu ớt và cái gì cũng nhượng bộ chúng Trái lại, hơn bao giờ hết, phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để ứng phó với mọi tình huống đột ngột có thể xảy ra”.4

Bản Hiệp định đã phân hóa được đối phương, loại bớt được kẻ thù, tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống đối lại nhiều kẻ thù cùng một lúc Đồng thời có thêm thời gian hòa bình để củng cố chính quyền mới chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp

Ngày 9/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị “Hòa để tiến”, nhằm tránh tình thế bất lợi, đồng thời bảo toàn lực lượng dành lấy thời gian nghỉ ngơi

và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng và bồi dưỡng củng cố phong trào Chỉ thị được đưa ra đã chuyển hướng cho ta tới chiến thuật mới, tạo cơ hội tiến lên giai đoạn cách mạng mới

b Tạm ước Việt- Pháp.

Bản Hiệp dịnh Sơ bộ chỉ là thỏa thuận tạm thời giữa hai nước, quan hệ giữa hai nước cần phải có một hiệp định chính thức quy định Do đó, Hiệp định Sơ bộ có lưu ý hai nước cần tiếp tục đàm phán để ký hiệp định chính thức Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương tìm mọi cách hòa hoãn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh

Sau nhiều ngày đàm phán (từ 6/7 đến 10/9), Hội nghị Fontainebleau không đi đến kết quả do phía Pháp không thực tâm đàm phán Trong khi đó, tình hình tại Việt Nam ngày càng căng thẳng, nên để có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng kháng chiến thì nước ta buộc phải kí với Pháp bản “Tạm ước”(ngày 14/9/1946) về quan hệ Việt Nam- Pháp Bản “Tạm ước” có 11 điều khoản, thể hiện sự thỏa thuận tạm thời giữa ta và Pháp, và giữ quan điểm độc lập trong Liên hiệp Pháp, cam kết quyền tự do, dân chủ ở Nam Bộ, khẳng định đàm phán vẫn sẽ được tiếp tục và ngừng bắn ở phía Nam Việt Nam tiếp tục nhân nhượng, đảm bảo cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa ở Việt Nam Phía Pháp nhận thi hành một số nội dung như là: thả chính trị phạm và tù binh; nhân dân Nam Bộ được quyền tự do hội họp, tự do báo chí, tự do đi lại

4Ép-ghê-nhi Cô-rô-lép (1985), Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, t.2, tr 169.

Trang 8

Qua bản Tạm ước có thể thấy rõ thiện chí giải quyết căng thẳng của ta với thực dân Pháp bằng biện pháp hòa bình, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chỉ muốn thương lượng, không muốn chiến tranh Bản Tạm ước thực sự là một nỗ lực rất lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tránh sự

đổ vỡ hoàn toàn của Hội nghị Fontainbleau, với hi vọng có giải pháp hòa bình, dù rất mong manh.Việc ký “Tạm ước” có thể xem là bước nhân nhượng cần thiết nhưng mà cũng là nhân nhượng cuối cùng của Việt Nam để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, vãn hồi hòa bình

Dù ta đã hòa hoãn, nhượng bộ với Pháp, tuy nhiên, thực dân Pháp nhanh chóng bội ước Quân đội chúng tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Nội Vì thế, đến đêm ngày 19/12/1946, chiến tranh đã nổ ra trong cả nước Toàn thể nhân dân Việt Nam nhất tề đứng lên theo lời gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,nhất định không chịu làm nô lệ”.5

5 Hồ Chí Minh(1995), Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, t.4, tr.480.

Trang 9

CHƯƠNG II BÀI HỌC RÚT RA TỪ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM

HIỆN NAY.

Trong tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài luôn chống phá cách mạng Việt Nam, thì những chủ trương, chính sách về ngoại giao của Đảng chính

là một chủ trương to lớn, có ý nghĩa chiến lược, quyết định của cách mạng Việt Nam Đồng thời, nó mang lại những ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam hiện nay

Thứ nhất là, ta phải luôn xác định, quán triệt nguyên tắc vì lợi ích của quốc gia-dân tộc lên hàng đầu Bởi lẽ, từ trước đến nay ta luôn kháng chiến chỉ để giành được một quốc gia độc lập, một dân tộc dân chủ hòa bình Do đó,muốn xây dựng và bảo vệ đất nước thì trước hết phải nghĩ đến những lợi ích, tác hại của nó có thể mang đến cho dân tộc

Thứ hai là, chúng ta phải luôn đoàn kết, giữ vững tinh thần và vai trò lãnh đạo của Đảng Bởi lẽ, Đảng- đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh- chính là những người khởi xướng, những người tiên phong, quan sát và phân tích rõ ràng âm mưu của kẻ thù đề ra những chủ trương, sách lược đúng đắn và sáng tạo, góp phần bảo vệ và củng

cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài

Thứ ba là, tiếp tục vận dụng khéo léo phương châm “ dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì về nguyên tắc nhưng phải linh hoạt trong các bước đi Chúng ta có thể vận dụng nguyên tắc này với các nước đối tác để nâng cao hiệu quả hợp tác, đưa quan

hệ vào chiều sâu và tạo tình thế đan xen lợi ích Chúng ta kiên trì thực hiện định hướng phát triển trong quan hệ với từng nước, nhưng phải đổi mới không ngừng và linh hoạt trong cách triển khai

Thứ tư là, phát huy cao tính chủ động, tích cực của ngoại giao Hồ Chí Minh Chúng ta có thể thấy rằng nhờ sự chủ động trong việc hòa hoãn, nhân nhượng trong các bản kí kết đã giúp phần nào ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị cho chiến những cuộc chiến sau này Vì thế, chỉ có chủ động, tích cực mới giúp nâng cao

vị thế, vai trò của Việt Nam , có điều kiện thuận lợi để bảo vệ lợi ích của Việt Nam và đương đầu với mọi tình huống cạnh tranh hoặc hợp tác thỏa hiệp giữa các nước lớn Chẳng hạn

Trang 10

như việc ký kết các Hiệp định FTA, nó sẽ mở ra cho nước ta nhiều cơ hội để phát triển kinh tế- xã hội hơn, có thể khẳng định được vị thế và uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế,

Thứ năm là, phải biết vận dụng bài học về chú trọng công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo, đồng thời không ngừng bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ Trong những chủ trương, chính sách năm 1945-1946, thì công tác nghiên cứu, phân tích âm mưu của kẻ thù và điều kiện nước ta chính là cốt lõi để có thể đưa ra những chủ trương, chính sách đúng đắn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Còn trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải cần tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tập trung vào các nước lớn, các nước láng giềng, trong khu vực và vấn đề an ninh phát triển thân thiết đối với Việt Nam, hòng tránh có những nhân tố phản động chống phá

Ngày đăng: 13/11/2022, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w