II – Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 1, Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu: Định nghĩa giao dịch dân sự được quy định khá cụ thể tại Đ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-o0o -
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Môn: Dân sự
Đề bài: Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu
do không tuân thủ quy định về hình thức Minh chứng bằng một tình huống cụ thể.
Họ và tên: Tạ Thị Thiên Trang Lớp: N07.TL2
MSSV: 441347
Hà Nội – năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I – Khái quát chung về giao dịch dân sự: 1
1, Khái niệm giao dịch dân sự: 1
2, Đặc điểm của giao dịch dân sự: 2
II – Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 2
1, Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu: 2
2, Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức 4
3, Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 5
III – Quy định pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 6
1, Điều kiện của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 6
2, Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 7
3, Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: 7
4, Trường hợp ngoại lệ của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức: 8
IV – Tình huống cụ thể: 8
1, Tóm tắt nội dung tình huống: 8
2, Nhận xét: 10
KẾT LUẬN 10
Trang 3MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội, được biểu hiện dưới những hình thức nhất định như: bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi Hình thức của giao dịch dân sự được xác định tùy thuộc vào từng thể loại giao dịch, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự, đồng thời là căn cứ cho việc kiểm soát, quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
Cũng như các loại giao dịch dân sự khác, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức cũng được hầu hết các luật gia, các nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu Ở Việt Nam, BLDS năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức cũng được quy định rõ ràng, cụ thể hơn trước
Nhận thức được điều này, dựa trên kiến thức về lí luận và thực tiễn, em đã mạnh dạn chọn đề: “Phân tích quy định của pháp luật về giao dịch dân sự
vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Minh chứng bằng một tình huống cụ thể” cho bài tập lớn môn Luật Dân sự Việt Nam
Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I – Khái quát chung về giao dịch dân sự:
1, Khái niệm giao dịch dân sự:
Giao dịch dân sự là hành vi pháp lí đơn phương hoặc hợp đồng của các chủ thể luật dân sự bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhân làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự.1
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia định, Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (1999),tr.60
Trang 42, Đặc điểm của giao dịch dân sự:
- Thứ nhất, phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia Khi tham gia giao dịch chủ thể đều muốn đạt được mục đích nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng Để đạt được mục đích đó, các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình
- Thứ hai, các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện Đây là sự phản ánh thống nhất ý chí của các bên, vì vậy nó là một nguyên tắc quan trọng để thiết lập nên giao dịch
- Thứ ba, chế tài trong giao dịch dân sự mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt Phần lớn, các nước trên thế giới hiện nay đều xây dựng các chế định của giao dịch dân sự dựa trên nguyên tắc tự do thoả thuận, tự do cam kết
và xây dựng chế tài Đây là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói chung, của giao dịch dân sự nói riêng
- Thứ tư, nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Bởi lẽ, pháp luật bên cạnh là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho giao kết trở thành hiện thực, còn phải đặt ra những quy phạm pháp luật khác bảo vệ lợi ích chung của xã hội, trong đó có lợi ích của người tham gia
II – Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
1, Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu:
Định nghĩa giao dịch dân sự được quy định khá cụ thể tại Điều 116 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Mặc dù giao dịch dân sự được hiểu một cách đơn giản là hành vi pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhưng chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới được pháp luật bảo vệ
BLDS 2015 quy định những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117:
Trang 5“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự trong trường hợp luật có quy định.”
Hậu quả của giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện trên thì
bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu
Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không được pháp luật thừa nhận do không thỏa mãn một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định Khi giao dịch bị tuyên bố là vô hiệu, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sẽ không được bảo đảm thực hiện, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Tài sản trong giao dịch dân sự vô hiệu có thể bị tịch thu sung công quỹ.2
Mặc dù thuật ngữ “ Giao dịch dân sự vô hiệu” được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có tài liệu chính thống nào định nghĩa thuật ngữ này một cách cụ thể Theo từ điển tiếng Việt, vô hiệu được hiểu là “không có hiệu lực, không có hiệu quả.”3 Điều 122 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS có quy định khác Từ đó có thể hiểu một cách chung nhất, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không có hiệu lực pháp luật
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia định, Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (1999), tr.62
3 Viện ngôn ngữ học(1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr.1083
Trang 62, Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Theo Từ điển Luật học, hình thức được hiểu là “cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung bên trong”4 Nói cách khác, hình thức là những gì làm thành bề mặt của sự vật, là cái chứa đựng biểu hiện nội dung Do đó, hình thức của giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch dân
sự ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định
Trong giao dịch dân sự, dựa trên cơ sở nguyên tắc “việc dân sự cốt ở đôi bên”, các chủ thể có thể tự do thể hiện ý chí của mình dưới các dạng hình thức khác nhau như: lời nói; hành vi; hành động quy ước; văn bản không có công chứng, chứng thực; văn bản có công chứng, chứng thực
Hình thức bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể thường áp dụng cho những giao dịch dân sự được thực hiện và chấm dứt ngay sau khi thực hiện ( như mua bán trao tay) hoặc áp dụng giữa những chủ thể có sự tin cậy hoặc mối quan hệ thân thiết
Giao dịch dân sự thể hiện
Trên nguyên tắc các chủ thể có quyền tự do xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự thì các chủ thể tham gia giao dịch dân sự được tự do lựa chọn hình thức giao kết Các bên có quyền xác lập giao dịch dưới bất kì hình thức nào mà họ muốn, chỉ cần đạt được thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên hoặc thỏa mãn việc biểu đạt ý chí của hành vi pháp lý đơn phương Khi các bên thống nhất phương thức biểu đạt ý chí thì coi như hình thức giao dịch dân sự đã được hình thành Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc giao kết giao dịch dân sự của các chủ thể có ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội, ảnh hưởng đến công tác quản lý của Nhà nước, đồng thời, pháp luật muốn lưu ý sự thận trọng của các bên khi tham gia giao lưu dân sự thì Nhà nước sẽ can thiệp vào hình thức của giao dịch dân sự Khi đó, pháp luật sẽ quy định về hình thức bắt
4 Từ điển Luật học(1999), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.809
Trang 7buộc của giao dịch dân sự Thông thường, các giao dịch dân sự có đối tượng cần sự quản lý của Nhà nước hoặc các giao dịch dân sự phức tạp, dễ phát sinh tranh chấp và khó giải quyết tranh chấp sẽ là những giao dịch phải tuân thủ quy định bắt buộc về hình thức
Theo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 thì hình thức của giao dịch là một điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định Như vậy, nếu giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức mà luật quy định thì giao dịch đó không phát sinh hiệu lực, hay nói cách khác giao dịch dân sự đó bị vô hiệu
3, Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức:
Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là một loại giao dịch dân sự vô hiệu, do đó, nó mang đầy đủ các đặc điểm của một giao dịch dân sự vô hiệu Ngoài ra, nó cũng có các đặc trưng sau:
Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức là giao dịch dân sự
vi phạm quy định về hình thức bắt buộc Khi pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, nghĩa là các chủ thể bị giới hạn quyền lựa chọn hình thức giao dịch dân sự Chủ thể bắt buộc phải tuân thủ quy định về hình thức để giao dịch đó phát sinh hiệu lực Nếu chủ thể lựa chọn một hình thức giao dịch khác với hình thức bắt buộc của giao dịch do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị thiếu đi một điều kiện
có hiệu lực Việc không tuân thủ quy định về hình thức trở thành căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố giao dịch đó vô hiệu
Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là một trường hợp ngoại lệ của giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối BLDS 2015 quy định thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức là 02 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập Quy định này xuất phát từ nguyên nhân, việc không hoàn thiện các thủ tục về hình thức
Trang 8giao dịch theo quy định của pháp luật là lỗi của chủ thể Do đó, pháp luật chỉ
để ra một khoảng thời gian nhất định để các bên ý thức được trách nhiệm phải tuân thủ quy định bắt buộc về hình thức hoặc yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Hết khoảng thời gian đó, các bên tự gánh chịu hậu quả do lỗi không tuân thủ quy định về hình thức
III – Quy định pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:
1, Điều kiện của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức:
Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là giao dịch dân sự không thỏa mãn yêu cầu về hình thức bắt buộc theo quy định của pháp luật Khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.” Có thể thấy rằng, BLDS 2015 không quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong mọi trường hợp
Khi một giao dịch dân sự được pháp luật điều chỉnh về hình thức bắt buộc thì các chủ thể tham gia giao dịch có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định về hình thức Nếu chủ thể không tuân thủ quy định về hình thức, nghĩa là giao dịch đó không đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực Từ đó, theo quy định tại Điều 122 BLDS 2015, giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác
Như vậy, điều kiện của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức là: Thứ nhất, pháp luật có quy định về hình thức bắt buộc của giao dịch dân sự Thứ hai, chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ quy định
về hình thức bắt buộc của giao dịch dân sự
Trang 92, Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:
Khi một giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức thì các bên trong giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi Hậu quả pháp
lý của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức cũng giống như hậu quả pháp lý của các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu khác
và được quy định tại Điều 131 BLDS 2015:
“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
3 Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó
4 Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường
5 Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”
3, Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:
Điều 132 BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Trong đó Đối với trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu
do không tuân thủ quy định về hình thức, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
Trang 104, Trường hợp ngoại lệ của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định
về hình thức:
Một giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức bắt buộc nhưng vẫn có hiệu lực pháp luật trong các trường hợp:
- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện
ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực
- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện công chứng, chứng thực
IV – Tình huống cụ thể:
1, Tóm tắt nội dung tình huống:
- Vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Nội dung vụ việc:
Ngày 15/08/1996, vợ chồng ông Dũng lập hợp đồng chuyển nhượng 50 m2 đất cho anh Thành với giá 1 tỷ đồng, nhận trước 500 triệu Hai bên cam kết đến ngày 30/04/1997 anh Thành giao đủ số vàng còn lại sẽ làm giấy tờ sang tên, chi phí giấy tờ mỗi bên chịu một nửa Theo anh Thành thì anh đã giao cho ông Dũng nhiều lần, tổng cộng là 960 triệu đồng là đủ, vì số đất thực tế anh nhận là 48 m2
Ngày 26/09/1996 ông Dũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 80 m2 đất Nhưng ông Dũng không chịu làm thủ tục tách hộ nên anh Thành khởi kiện đến tòa án, yêu cầu ông Dũng hoàn tất thủ tục sang nhượng theo cam kết