1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập lớn học kỳ môn luật lao động (đề 5) 8điểm

15 233 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội đồng trọng tài lao động Điều 203 khoản 2: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm: a Hoà giải viên lao động; b Hội đồng trọn

Trang 1

Câu 1: những điểm mới về tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích trong BLLĐ 2012 so với Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2006

1 Bảng: so sánh Bộ luật lao đông năm 2012 so với luật sửa đổi, bổ sung

năm BLLĐ năm2006 về thẩm quyền giải quyết, thời hiệu yêu cầu giải quyết,

trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp lao động về lợi ích

Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ

năm 2006

Bộ luật lao động năm 2012

Thẩm

quyền

giải

quyết

Điều 169 Cơ quan, tổ chức có

thẩm quyền giải quyết tranh

chấp lao động tập thể về lợi ích

bao gồm:

1 Hội đồng hoà giải lao động

cơ sở hoặc hoà giải viên lao

động;

2 Hội đồng trọng tài lao động

Điều 203 khoản 2: Cơ quan, tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể

về lợi ích bao gồm:

a) Hoà giải viên lao động;

b) Hội đồng trọng tài lao động

Thời

hiệu

yêu

cầu

giải

quyế

Điều 171a Thời hiệu yêu cầu

giải quyết tranh chấp lao động

tập thể là một năm, kể từ ngày

xảy ra hành vi mà mỗi bên

tranh chấp cho rằng quyền và

lợi ích của mình bị vi phạm

Trình

tự thủ

tục

giải

Điều 165a

Hội đồng hoà giải lao động cơ

sở hoặc hoà giải viên lao động

Điều 204 Trình tự giải quyết

tranh chấp lao động tập thể tại cơ sở

1 Trình tự hoà giải tranh chấp lao

Trang 2

quyết tiến hành hoà giải tranh chấp

lao động cá nhân theo quy định

sau đây:

1 Thời hạn hoà giải là không

quá ba ngày làm việc, kể từ

ngày nhận được đơn yêu cầu

hoà giải;

2 Tại phiên họp hoà giải phải

có mặt hai bên tranh chấp Các

bên tranh chấp có thể cử đại

diện được uỷ quyền của họ

tham gia phiên họp hoà giải

Hội đồng hoà giải lao động cơ

sở hoặc hoà giải viên lao động

đưa ra phương án hoà giải để

hai bên xem xét

Trường hợp hai bên chấp nhận

phương án hoà giải thì Hội

đồng hoà giải lao động cơ sở

hoặc hoà giải viên lao động lập

biên bản hoà giải thành, có chữ

ký của hai bên tranh chấp, của

Chủ tịch và Thư ký Hội đồng

hoà giải lao động cơ sở hoặc

hoà giải viên lao động Hai bên

động tập thể được thực hiện theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật này Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể

2 Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì thực hiện theo quy định sau đây:

b) Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết

3 Trong trường hợp hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản

2 Điều 201 của Bộ luật này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì các bên có quyền

gửi đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp huyện giải quyết Trong thời hạn 02 ngày làm việc,

kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xác định

Trang 3

có nghĩa vụ chấp hành các thoả

thuận ghi trong biên bản hoà

giải thành

Trường hợp hai bên không chấp

nhận phương án hoà giải hoặc

một bên tranh chấp đã được

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai

mà vẫn vắng mặt không có lý

do chính đáng thì Hội đồng hoà

giải lao động cơ sở hoặc hoà

giải viên lao động lập biên bản

hoà giải không thành có chữ ký

của bên tranh chấp có mặt, của

Chủ tịch và Thư ký Hội đồng

hoà giải lao động cơ sở hoặc

hoà giải viên lao động

Bản sao biên bản hoà giải thành

hoặc hoà giải không thành phải

được gửi cho hai bên tranh chấp

trong thời hạn một ngày làm

việc, kể từ ngày lập biên bản;

3 Trường hợp hoà giải không

thành hoặc hết thời hạn giải

quyết theo quy định tại khoản 1

Điều này mà Hội đồng hoà giải

lao động cơ sở hoặc hoà giải

loại tranh chấp về quyền hoặc lợi ích

Trường hợp là tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thì hướng dẫn ngay các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm

b khoản 2 Điều này

Điều 206 Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động

1 Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết, Hội đồng trọng tài lao động phải kết thúc việc hòa giải

2 Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham

dự phiên họp

Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm hỗ trợ các bên tự thương lượng, trường hợp hai bên không thương lượng được thì Hội

Trang 4

viên lao động không tiến hành

hoà giải thì mỗi bên tranh chấp

có quyền yêu cầu Toà án nhân

dân giải quyết

Điều 170

1 Việc lựa chọn Hội đồng hoà

giải lao động cơ sở hoặc hoà

giải viên lao động giải quyết

tranh chấp lao động tập thể do

tập thể lao động và người sử

dụng lao động quyết định

Trình tự hoà giải tranh chấp lao

động tập thể được thực hiện

theo quy định tại khoản 1 và

khoản 2 Điều 165a của Bộ luật

này

Trường hợp hoà giải không

thành thì trong biên bản phải

nêu rõ loại tranh chấp lao động

tập thể

2 Trong trường hợp hoà giải

không thành hoặc hết thời hạn

giải quyết theo quy định tại

khoản 1 Điều 165a của Bộ luật

này mà Hội đồng hoà giải lao

đồng trọng tài lao động đưa ra phương án để hai bên xem xét Trong trường hợp hai bên tự thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương án hòa giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải thành đồng thời ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải không thành

Biên bản có chữ ký của các bên có mặt, của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng trọng tài lao động

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc,

kể từ ngày lập biên bản

3 Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động

Trang 5

động cơ sở hoặc hoà giải viên

lao động không tiến hành hoà

giải thì mỗi bên tranh chấp có

quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban

nhân dân cấp huyện giải quyết

đối với trường hợp tranh chấp

lao động tập thể về quyền hoặc

yêu cầu Hội đồng trọng tài lao

động giải quyết đối với tranh

chấp lao động tập thể về lợi ích

lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 03 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công

2 Những điểm mới về tranh chấp lao động tập thể về lợi ích trong BLLĐ 2012 so với Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2006

2.1 Điểm mới Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Nhìn chung, về cơ quan giải quyết tranh chấp tập thể về lợi ích, so với Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2006 thì Bộ luật lao động 2012 không có nhiều thay đổi ngoài việc bỏ hội đồng hòa giải cơ sở

Việc bỏ cơ chế giải quyết tranh chấp lao động bằng Hội đồng hòa giải

cơ sở có thể được xem là phù hợp với thực tế Điều này xuất phát từ thực tế vai trò của hội đồng hòa giải cơ sở trong việc giải quyết tranh chấp lao động

là không cao, hoạt động không hiệu quả Có thể thấy, hoạt động của Hội đồng hòa giải cơ sở không đạt được ý nghĩa và mục đích như mong đợi xuất

phát từ những hạn chế của bản thân thiết chế này Cụ thể: Tính trung lập của

Trang 6

Hội đồng hòa giải cơ sở khó đảm bảo; Tính chuyên nghiệp, uy tín chỉ ở mức

độ nhất định

2.2 Điểm mới Về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp

Ta thấy bộ luật lao đông năm 2012 không có quy định về giải quyết tranh chấp lao dộng tập thể về lợi ích Còn Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ năm

2006 có quy định rõ về thời hiệu này tại Điều 171a “Thời hiệu yêu cầu giải

quyết tranh chấp lao động tập thể là một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm”

2.3 Những điểm mới về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp

Đối chiếu các quy định của Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 so

với các quy định của BLLĐ 2012, chúng ta thấy nhìn chung trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được tiến hành theo trình tự, thủ tục chung đó là: hòa giải viên lao động -> hội đồng trọng tài lao động->

đình công Tuy nhiên, so với Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 thì

BLLĐ 2012 có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất: Về thời hạn hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao

động tiến hành giải quyết tranh chấp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 204 và khoản 2 Điều 201 BLLĐ 2012

thì: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa

giải, hòa giải viên lao đông phải kết thúc việc hòa giải” Như vậy, thời hạn

để hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải tranh chấp lao động theo quy định của BLLĐ 2012 được kéo dài hơn so với Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 Ngoài ra, luật lao động 2012 có quy định cụ thể hơn về thời hạn,

đó là trong thời hạn pháp luật quy định thì hòa giải viên lao động “phải kết

thúc hòa giải”

Trang 7

Điều này cũng được quy định đối với thời hạn giải quyết tranh chấp lao động của Hội đồng trọng tài lao động Việc BLLĐ 2012 quy định cụ thể như vậy giúp cho việc giải quyết của hòa giải viên lao động hay của Hội đồng trọng tài lao động được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, hạn chế thiệt hại cho các bên trong thời gian xảy ra tranh chấp Đây là quy định tiến bộ, rõ ràng hơn và cũng góp phần góp phần khắc phục một số nhược điểm của luật sủa đổi, bổ sung BLLĐ năm 2006

Thứ hai: Thành phần tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp lao

động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động

Theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Việc BLLĐ 2012 quy định như vậy là phù hợp với bản chất của hòa giải và trọng tài là các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, thể hiện ý chí tự nguyện của các bên :

“Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp”.

Theo quy định trên thì điểm mới của BLLĐ 2012 so với Luật sửa đổi

bổ sung BLLĐ năm 2006 đó là “đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

quan tham dự phiên họp” thay vì “đại diện công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở và đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tham dự phiên họp” như

quy định của Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006

Thứ ba: Vai trò, thẩm quyền của Hòa giải viên lao động; Hội đồng

trọng tài lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp

Theo Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 thì Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án để hai bên tranh chấp xem xét Tuy nhiên, theo BLLĐ 2012 thì Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng

Trang 8

tài lao động hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng Nếu các bên thương lượng được thì sẽ lập biên bản hòa giải thành; Hòa giải viên lao động chỉ đưa ra phương án hòa giải cho hai bên xem xét trong trường hợp hòa giải viên đã hướng dẫn các bên tự thương lượng, mà các bên không thỏa thuận được Với quy định của Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 thì thủ tục hòa giải và trọng tài lao động được sử dụng đều mang tính chất bắt buộc trong quy trình giải quyết tranh chấp lao động khi các bên tranh chấp không được đưa ra ý kiến, không được tự thương lượng, thỏa thuận với nhau mà chỉ có một phương án lựa chọn là chấp nhận phương án mà Hòa giải viên lao động hay Hội đồng trọng tài lao động đưa ra Việc BLLĐ 2012 quy định Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng tài trước hết là hướng dẫn, hỗ trợ cho các bên thương lượng và chỉ đưa ra phương án cho các bên xem xét nếu các bên không tự thương lượng, thỏa thuận được phản ánh đúng với bản chất của hòa giải và trọng tài là các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, thể hiện ý chí tự do thỏa thuận, tự nguyện của các bên

Thứ tư: BLLĐ 2012 quy định Hội đồng trọng tài lao động sau khi lập

biên bản hòa giải thành có quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong trường hợp hòa giải thành

Nếu Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 quy định Hội đồng trọng tài lao động chỉ có quyền lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành thì BLLĐ 2012 quy định thêm thẩm quyền của Hội đồng trọng tài lao động, cụ thể: Hội đồng trọng tài lao động sau khi lập biên bản hòa giải thành có quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong trường hợp hòa giải thành Đây là quy định mới, tiến bộ của BLLĐ 2012, phản ánh đúng bản chất của trọng tài được xem là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán, trọng tài được ra quyết định giải quyết tranh chấp

Trang 9

Thứ năm: BLLĐ2012 quy định rõ thời hạn tập thể lao động tiến hành

thủ tục đình công

Theo quy định tại khoản 3 Điều 206 BLLĐ 2012:

“Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận

đã đạt được thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 30 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công”

Theo Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ năm 2006 thì trường hợp Hội đồng lao động hòa giải không thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà Hội đồng trọng tài không tiến hành hòa giải thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục đình công Việc BLLĐ 2012 quy định

cụ thể thời hạn tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục đình công trong hai trường hợp hòa giải thành và hòa giải không thành đã khắc phục được hạn chế của pháp luật lao động hiện hành BLLĐ 2012 quy định một khoảng thời gian hợp lý để các bên thực hiện thỏa thuận trong trường hợp hòa giải thành; trong trường hợp hòa giải không thành thì người lao động có thời gian chuẩn bị cho việc tiến hành các thủ tục để đình công

Câu 2:

1 Hiện tượng trên không phải là đình công Tại vì:

Trang 10

Theo khoản 1 điều 209 “ Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự

nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động”.

Căn cứ vào điều này thì một hiện tượng được gọi là đình công phải có đầy đủ các dấu hiệu cơ bản sau:

- Thứ nhất: Đình công biểu hiện bằng sự ngừng việc tạm thời của nhiều

người lao động: Đây là dấu hiệu cơ bản nhất, giữ vị trí trung tâm, liên kết các dấu hiệu khác tạo nên hiện tượng đình công Sự ngừng việc của đình công được hiểu là phản ứng của những người lao dộng bằng cách không làm việc, không xin phép, trong khi biết trước là người lao dộng không đồng ý

Sự ngừng việc này chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, chỉ là hình thức thể hiện, là cách phản ứng, không phải là mục đích mà họ mong muốn đạt đươc Trong hiện tượng trên tập thể người lao động phân xưởng X của công ty giày da TH đã ngừng làm việc vào ngày 15/08/2013 do công ty giảm tiền ăn giữa ca Vì vậy đây được coi là sự ngừng việc tạm thời

- Thứ hai: Đình công phải có sự tự nguyện của người lao động: Đây là

dấu hiệu về mặt ý chí của người lao động, kể cả người lãnh đạo và tham gia điình công, thể hiện ở việc họ được quyền quyết định và tự ý quyết định ngừng việc tham gia đình công, việc này hoàn taon không bị người khác ép buộc và cưỡng bức trong hện tương trên của đề bài thì sự ngừng việc của tập thể lao động đều hoàn toàn do ý chí chủ quan của mỗi cá nhân lao động

được thể hiện qua việc không ai bảo ai, tất cả lao động trong phân xưởng

đều ngừng làm việc Do vậy hiện tượng này thỏa mãn dấu hiệu này.

- Thứ ba: Đình công luôn có tính tập thể: Đình công là quyền của người

lao động nhưng thực hiện đình công bao giờ cũng là hành vi mang tính tập thể Tính tập thể là dấu hiệu không thể thiếu, luôn gắn với hện tượng đình

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w