ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ MÔN CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH GIẢNG VIÊN ThS NGUYỄN THÀNH CÔNG TIỂU LUẬN CUỐI KỲ DEMOCRATIZATION THEORY A COMPREHENSIVE VIEW[.]
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH GIẢNG VIÊN: ThS NGUYỄN THÀNH CÔNG
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ DEMOCRATIZATION THEORY: A COMPREHENSIVE VIEW ON
A CLASSIC DEBATE
LỚP: CHÍNH TRỊ HỌC SO SÁNH (CT3)
TP HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 22057061035 dân chủ hóa (modernization approach, 1296 chữ
Thái Hà structural approach), kết luận của bài
Kiểm tra: Toàn bài
Phan Thế Viết phần: Dân chủ hóa, quá trình dân
1684 chữ
2057061030 chủ hóaBảo
Kiểm tra: Toàn bài Viết phần: Trường hợp cụ thể của Ba
1730 chữ
Võ Tú Anh 2057061028 Lan, Nhìn nhân trường hợp của Ba Lan
Kiểm tra: Toàn bài
Phạm Thanh Viết phần: Trường hợp cụ thể của Mỹ
1900 chữ
2057061085 và Thụy ĐiểnHuy
Kiểm tra: Toàn bài Viết phần: Khái niệm dân chủ của
Lê Thanh 2057061097 Schumpeter, lý thuyết cổ điển, 3 tiêu chí 1685 chữ
Kiểm tra: Toàn bài Viết phần: Các khái niệm dân chủ của
Nguyễn
2057061111 Robert Dahl, Philippe Schmitter và 1231 chữ
Hoàng Oanh Terry Karl, 3 tiêu chí dân chủ
Kiểm tra: Toàn bài Viết phần: Tiêu chí phát triển kinh tế,
Nhìn nhận trường hợp của Mỹ và Thụy
900 chữ
Lữ Hà My 2057061102 Điển
Format, hiệu đính
Trang 31
Trang 4MỤC LỤC
a Các khái niệm dân chủ của Robert Dahl, Philippe Schmitter và Terry Karl 6
Trang 5Ở một mức độ khái quát cao hơn, thuyết dân chủ hóa nổi bật bởi cách nhìn nhậnyếu tố, hay nguyên nhân, dẫn tới quá trình này Nhiều học giả đứng trên nhiều phươngdiện khác nhau đã cho ra một số giả thuyết nhất định cố gắng lý giải cho sự chuyển biến,
Trang 6nhưng về cơ bản chưa thực sự có một thuyết nào mang đủ tính đột phá để làm lắng đinhững cuộc tranh luận xoay quanh chủ đề này Sự tồn tại của cái mà Huntington gọi là
“làn sóng dân chủ” không phải là mối quan tâm của những nhà nghiên cứu dân chủ hiệnđại và dường như còn khiến cho việc nghiên cứu về sự chuyển đổi dân chủ trở nên phổbiến hơn vào thế kỷ 20 Nhưng không phải ai trong số những học giả này cũng đồng ývới giả thuyết của Huntington về nguyên nhân hình thành những làn sóng này Trongcuốn sách “Third wave of Democratization”, ông đưa ra ít nhất 27 nguyên nhân mà ôngcho là những yếu tố khả thi để dẫn tới dân chủ hóa Tuy không phải tất cả đều có tầmquan trọng như nhau và thậm chí một số còn thể hiện sự đối lập với nhau, nhưng danhsách này lại là một tiền đề có giá trị để tổng hợp những hướng nghiên cứu khả thi và đưa
ra kết luận mới Những nghiên cứu đáng chú ý gần đây hướng đến sự lý giải này có thểđược chia thành ba hướng tiếp cận chính: hiện đại hóa, cấu trúc giai cấp và chuyển đổi(lịch sử) (David et al, 1997)
Lipset, một trong những học giả tiên phong của thuyết hiện đại hóa, cho rằng phải
có phát triển kinh tế thì mới có dân chủ, mà theo đó trong tiến trình phát triển tự nhiêncủa một quốc gia, dân chủ là điểm đến cuối cùng và hoàn thiện quá trình này (Lipset,1959) Tuy nhiên, giả thuyết của Lipset gặp một vấn đề lớn, vì ông không thực sự chỉ rađược mối liên hệ rõ ràng giữa sự phát triển và nhu cầu chuyển hóa dân chủ, mà chỉ đơnthuần định vị sự tồn tại mang tính tương quan của hai thành tố này Theo đó, lý thuyếtcủa Lipset chỉ ra được sự phát triển của dân chủ tại các quốc gia có tiềm lực kinh tế lớnthường được giữ vững và lâu dài hơn, nhưng lại không làm rõ được việc một quốc giaphát triển sẽ dẫn tới một nhu cầu để từ đó chuyển hóa dân chủ, điều đã được chứng minhqua nghiên cứu của Adam Przeworski vào năm 2000 Kết luận quan trọng nhất từ nghiêncứu này đó là xu hướng dân chủ thường xuất hiện trong các quốc gia giàu có không phảinhờ vào sự phát triển kinh tế, mà là do chế độ dân chủ thường tồn tại được trong những
xã hội thịnh vượng thịnh vượng
Khác với các học giả theo thuyết hiện đại hóa, những người theo thuyết cấu trúc
sử dụng phương pháp nghiên cứu riêng Trong công trình nghiên cứu đầu tiên năm 1993
Trang 7năm 1993, Social Origins of Dictatorship and Democracy, Barrington Moore Jr đã phát
triển một lý thuyết cho rằng tiến trình lịch sử sản sinh ra nhiều tầng lớp tinh hoa trong cácbối cảnh đất nước khác nhau là lý do vì sao những quốc gia lớn lại thiết lập chế độ cộnghòa nghị viện trong khi các nước khác trở thành những nước cộng sản hoặc độc tài trongthế kỷ XX Cấu trúc tầng lớp xã hội còn chủ yếu quyết định vai trò của chính phủ trong
xã hội sức mạnh tương đối của các tầng lớp được quyết định thông qua việc thương mạihóa nông nghiệp trong thời kỳ cận hiện đại Ở một vài trường hợp thì quá trình này đượcMoore phân tích chi tiết hơn về quỹ đạo của từng nước, đã tạo ra một giai cấp tư sảnmạnh mẽ, độc lập, đủ khả năng để đối nghịch lại với những quyền lực truyền thống củacác tầng lớp cao hơn và cả sức mạnh của giai cấp nông dân, đồng thời hạn chế sự chuyênchế của nhà nước Tóm lại, theo Moore,: “Không tư sản, khỏi dân chủ!”
Trong những nghiên cứu cấu trúc sau này trong thuyết dân chủ hóa, Moore bị chỉtrích vì quá chú trọng vào tầng lớp tư sản và lờ đi sự quan trọng của giai cấp lao động trongtiến trình dân chủ hóa, và đề cập rất ít đến vai trò của các dạng quyền lực xuyên quốc gia
khác nhau, bao gồm chiến tranh và chủ nghĩa đế quốc Tiêu biểu nhất là tác phẩm Capitalist
Development and Democracy với kết luận tầng lớp lao động là tầng lớp chính tạo ra chủ
nghĩa tư bản toàn cầu và từ đó giúp hình thành quá trình dân chủ hóa Nghiên cứu này bị chỉtrích nặng nề vì việc diễn giải sai dữ liệu của chính tác giả Người tiên phong cho hướng
chuyển đổi của thuyết dân chủ hóa, Dankwart Rustow, trong bài báo “Transitions to
Democracy: Toward a Dynamic Model” từ 1970 Theo Rustow, có hai lý do dẫn đến dân chủ
hóa Một là, thuyết “chuyển đổi chính trị” được phát triển để đáp lại làn sóng dân chủ thứ ba;Rustow lập luận ngược lại bằng việc xây dựng một nghiên cứu so sánh với những quá trìnhdân chủ hóa sớm hơn ở Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ Hai là, trong khi các nghiên cứu kinhđiển đối với thuyết chuyển đổi không tập trung vào lịch sử, còn lập luận của Rustow chútrọng vào yếu tố lịch sử Nghiên cứu của Rustow bao gồm bốn giai đoạn phát triển Giaiđoạn đầu - “điều kiện nền” là giai đoạn nổi lên về biên giới quốc gia và thống nhất đất nước;
ít nhất phải có phần lớn dân số trong quốc gia đó có chung một bản sắc dân tộc rõ ràng đểquá trình dân chủ hóa diễn ra Giai
Trang 8đoạn thứ hai được Rustow gọi là “chuẩn bị”, được xác định khi có nhiều đụng độ chínhtrị xảy ra giữa tầng lớp tinh hoa cũ và mới, trong đó tầng lớp mới sẽ yêu cầu có tiếng nóilớn hơn về chính trị quốc gia Tiếp theo là giai đoạn “quyết định”, khi các chủ thể chính
có sự chấp thuận rõ ràng, đặc biệt là các đảng phái, về các luật lệ và thủ tục dân chủ đơngiản Cuối cùng, giai đoạn “thích ứng” khi thể chế dân chủ cơ bản đã được thiết lập vàluật chơi được các chủ thể quan trọng tham gia vào
Vậy cả ba hướng tiếp cận này của thuyết dân chủ hóa đang đối nghịch nhau hay bổsung cho nhau? Câu trả lời là cả hai Mỗi hướng tiếp cận đều mang những ý tưởng và lậpluận khác nhau Nhưng cả ba hướng tiếp cận đều có những điểm giao nhất định Dù vậy,việc gộp cả ba hướng tiếp cận vào một thuyết dân chủ hóa là điều không thể
Robert Dahl (2000) cho rằng "dân chủ" là một kiểu lý tưởng mà chưa một quốcgia nào đạt được Đối với Dahl, dân chủ là một hệ thống "hoàn toàn đáp ứng cho tất cảcông dân của mình", và điều gần nhất với lý tưởng dân chủ mà bất kỳ quốc gia nào có thểđạt được là chế độ dân chủ đa nguyên (polyarchy) Dahl đặt ra các tiêu chí rõ ràng về cácyếu tố cấu thành một chế độ đa nguyên, bao gồm các yếu tố cốt lõi: các quan chức đượcbầu theo hiến pháp trong chính phủ, các cuộc bầu cử thường xuyên và được tiến hành
Trang 9công bằng, quyền bầu cử cho hầu hết người trưởng thành và quyền ứng cử, quyền thểhiện bản thân mà không bị đe dọa bạo lực, quyền tìm kiếm các nguồn thông tin thay thế,
tự do thành lập hiệp hội và tổ chức, và quyền công dân toàn diện
Đối với định nghĩa về dân chủ của Schmitter và Karl, nhóm đánh giá cao bài viếtcủa hai tác giả; đây là một tiền đề phù hợp với người mới bắt đầu tìm hiểu những kháiniệm cơ bản nhất của dân chủ hiện đại Định nghĩa về dân chủ do Schmitter và Karl đềxuất như sau: “Dân chủ hiện đại là một hệ thống quản trị trong đó những người quản trịphải chịu trách nhiệm cho hành động của công dân, được thể hiện gián tiếp thông qua sựcạnh tranh và hợp tác của các đại diện dân biểu”
Tuy nhiên, định nghĩa của Karl và Schmitter không đủ bao quát về các nền dânchủ hiện đại Định nghĩa ngụ ý rằng việc mà các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm,thông qua quyền bỏ phiếu, là đủ để cấu thành nền dân chủ Nếu chỉ xem xét trách nhiệmgiải trình của các quan chức thì sẽ không đủ để khái quát hóa dân chủ Khái niệm “tráchnhiệm giải trình” nhấn mạnh một hành động theo chu kỳ của nền dân chủ, các cuộc bầu
cử định kỳ, được quy định để tưởng thưởng hoặc trừng phạt những người đương nhiệm vìhành động của họ bằng cách bầu chọn để họ tái đắc cử hoặc thay thế họ bằng cách bầuchọn cho một người mới vào hệ thống chính trị Tuy nhiên, bằng cách lạm dụng duy nhấtmột quy trình bỏ phiếu theo định kỳ này, Schmitter và Karl đang giảm nghĩa vụ của côngdân đối với hành động bỏ phiếu đơn giản, mà đối với nhóm, hành động này chỉ có thểđảm bảo một tiêu chuẩn tối thiểu của dân chủ Để vượt ra ngoài mức tối thiểu này, côngdân cần tham gia của vào các khía cạnh khác nhau của xã hội dân sự
Dựa trên định nghĩa tối giản về dân chủ là gì, nếu lật ngược lại vấn đề, ta sẽ cóđược định nghĩa về cái gì không phải là dân chủ? Tuy nhiên, Schmitter và Karl đưa ramột lời phê bình, đáng chú ý như sau: "Các nền dân chủ không nhất thiết phải hiệu quảhơn về mặt kinh tế so với các hình thức chính phủ khác Tốc độ tăng trưởng tổng hợp, tiếtkiệm và đầu tư của họ cũng có thể không tốt hơn tốc độ của các nền phi dân chủ" Điềunày đề cập đến bản chất của mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ, một mối
Trang 10quan hệ mà nhóm muốn quan sát kĩ càng hơn Mặc dù cả hai dường như đã có những sựliên kết nhất định trong dòng chảy của lịch sử, nhưng liệu chúng có xảy ra song song vớinhau không? Nhóm tin rằng có một hệ thống phụ thuộc một chiều; một quốc gia có thể là
tư bản chủ nghĩa nhưng không dân chủ, nhưng một quốc gia không thể dân chủ nếu nókhông đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Theo nhóm nhận định, dân chủ đòi hỏi mộtđiều kiện rằng quyền lực, vai trò của nhà nước phải bị hạn chế ở một mức nhất định ởnền kinh tế thị trường; nếu một nền kinh tế mà trong đó phần lớn quyền kiểm soát rơi vàotay chính phủ, và từ đó làm mất đi đáng kể những xu hướng tự do cơ bản phổ biến mà ta
có thể thấy đang hiện hữu ở hầu hết các nền dân chủ thành công ngày nay
b Khái niệm dân chủ của Schumpeter
Schumpeter chính là cha đẻ của “mô hình đa nguyên tinh hoa cân bằng" (pluralistelitist equilibrium model) đã xem xét nền dân chủ trong bối cảnh của chủ nghĩa xã hộitrong bối cảnh chủ nghĩa tư bản Ông đã rút ra nhận xét rằng dân chủ có mối quan hệ mậtthiết với chủ nghĩa tư bản (Schumpeter, 1942) Mối quan hệ này được thể hiện thông quaviệc dân chủ hiện đại chính là công cụ chính trị được giới tư sản tận dụng để có thể địnhhình và lý tính hoá quá trình thay đổi chính trị và thể chế, qua đó xây dựng lại cấu trúcchính trị và xã hội Chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản của đã thúc đẩy dân chủ, bởi vìdân chủ phù hợp với các giá trị và nhu cầu khách quan của chủ nghĩa tư bản và là mộtnhân tố hoạt động hiệu quả trong các cuộc đấu tranh giành quyền thống trị của giai cấplãnh đạo tư sản với giai cấp thống trị của phong kiến trước đó
Vai trò của công dân trong nền dân chủ theo Schumpeter là "tạo ra một chính phủhoặc một cơ quan trung gian (hoặc quốc hội), từ đó sẽ tạo ra một hệ thống điều hành quốcgia hoặc chính phủ." Dân chủ vì vậy là “sự sắp xếp thể chế để đi đến các quyết địnhchính trị, trong đó các cá nhân có được quyền quyết định qua một cuộc đấu tranh đểgiành lá phiếu của nhân dân” Nói cách khác, dân chủ được đặc trưng bởi sự tồn tại củabầu cử cạnh tranh để giành các chức vụ hành pháp và lập pháp thay vì được bổ nhiệmtheo kiểu kế vị cha truyền con nối, bằng biện pháp bạo lực cách mạng, v.v Theo
Trang 11Schumpeter, đây là một định nghĩa mang tính mô tả, tức nó mô tả một cách khách quancác nền dân chủ hiện đại, và như thế, tránh được những định nghĩa mang tính chủ quan,quy phạm quy định một nền dân chủ lý tưởng phải ra sao theo thế giới quan của từng tácgiả.
Schumpeter sau đó tiếp tục chỉ trích cách hiểu cổ điển về dân chủ: “Chế độ dânchủ không có nghĩa là và không thể có nghĩa là nhân dân thực sự cai trị theo bất kỳ nghĩa
rõ ràng nào của các thuật ngữ “nhân dân” và “cai trị” Nhưng vì họ cũng có thể quyếtđịnh điều này theo những cách hoàn toàn phi dân chủ, nên chúng tôi đã phải thu hẹp địnhnghĩa của mình bằng cách bổ sung thêm một tiêu chí xác định phương pháp dân chủ,nghĩa là, các nhà lãnh đạo tương lai được tự do cạnh tranh để giành được lá phiếu của cửtri Từ định nghĩa này về dân chủ, chúng ta thấy rõ ràng rằng trong suy nghĩ củaSchumpeter, không có cách nào để tổ chức nền dân chủ ngoài việc có một hệ thống đạidiện
Điểm đặc biệt trong lý thuyết về dân chủ của Schumpeter là tinh hoa “ở chỗ nó chỉđịnh quá trình tự lựa chọn các nhóm lãnh đạo đóng vai trò chính trong nền chính trị" Lýthuyết của Schumpeter còn đa nguyên “ở chỗ nó bắt đầu từ giả định rằng xã hội phù hợpvới hệ thống chính trị dân chủ hiện đại phải là một xã hội đa nguyên, nghĩa là một xã hộibao gồm các cá nhân bị lôi kéo theo nhiều hướng bởi nhiều lợi ích" Nó cũng mang tính
đa nguyên theo quan niệm về một cuộc cạnh tranh giữa các nhà lãnh đạo chính trị đểgiành lấy lá phiếu của nhân dân
c Lý thuyết cổ điển
Lý thuyết cổ điển về dân chủ đã trải qua nhiều biến đổi và có vô số phiên bản Bađặc điểm nổi bật của nền dân chủ cổ điển là tính tập trung vào “lợi ích chung” (commongoods) hay “ý chí chung” (general will), sự tham gia tối đa vào chính quyền của dânchúng, và thảo luận, tranh luận lý tính về chính trị
Định nghĩa chính xác về lợi ích chung và cách xác định nó là vấn đề được thảoluận về sự tham gia chính trị trong nhiều thế kỷ Nhiều tác giả quan tâm đến dư luận, tin
Trang 12rằng dư luận và lợi ích chung gần như có thể thay thế cho nhau - rằng dư luận đơn giảnnhất là một xã hội đồng thuận về các giá trị và mục tiêu (Herbst, 1991).
Trung tâm của lý thuyết dân chủ cổ điển là sự tham gia của nhân dân Cả Plato vàAristotle đều ưu tiên một chính thể có quy mô nhỏ để công dân có sự tiếp xúc lẫn nhau và
có nhiều cơ hội để tham gia vào các cuộc tranh luận chính trị và đưa ra quyết định
Davis (1964) ghi nhận rằng trong lý thuyết dân chủ cổ điển, con người chỉ có thểphát triển về mặt đạo đức thông qua hành động chính trị Sự tham gia tối đa của các cánhân trong quá trình chính trị tạo ra một diễn ngôn hợp lý, tự do về các vấn đề và lợi íchchung mà chính thể phải đối mặt
d Ba tiêu chí dân chủ
Dựa trên sự phân tích và tổng hợp các lý thuyết trên, nhóm đã xây dựng nên 3 tiêuchí tối thiểu mà nhóm cho rằng một nền dân chủ phải thoả mãn Lý giải cụ thể cho sự lựachọn của nhóm sẽ được nhắc đến trong phần II: Các trường hợp tiêu biểu
1 Bầu cử định kỳ, tự do, công bằng
2 Tự do cạnh tranh (thể chế đa nguyên)
3 Tồn tại quyền tự do dân sự và quyền bầu cử của người dân
Đầu tiên, nhóm tổng kết được một điểm chung từ những lý thuyết dân chủ cổ điển,cũng như nghiên cứu của tác giả Robert A Dahl và Schumpeter, nền dân chủ phải có cơchế bầu cử tự do và công bằng, nghĩa là việc bầu cử phải được diễn ra mà không có sựcan thiệp, cưỡng ép và trừng phạt Các công dân có thể tự do ứng cử vị trí trong chínhphủ và cạnh tranh công bằng Việc bầu cử cũng cần phải diễn ra định kỳ để có thể đảmbảo quyền lực được phân phối trong chính quyền, không có sự tập trung quyền lực vềmột cá nhân hay tổ chức nhất định Đây chính là trọng tâm của cả ba lý thuyết đã nêu,đều ưu tiên một mô hình nơi mà người dân có quyền tham gia và lựa chọn người lãnh đạocho mình một cách định kỳ
Trang 13Về yếu tố thứ hai, nền dân chủ cần có thể chế đa nguyên Theo nghiên cứu củaRobert Dahl, cũng như Schumpeter đã có nhắc đến, các cá nhân và đảng phái có thể tự docạnh tranh để nắm quyền lực Điều quan trọng là các cá nhân và đảng phái này phải cóquyền thực hiện quyền lực hợp pháp của mình Lý thuyết cổ điển về dân chủ đã thất bạitrong việc xem xét và đề cập đến vấn đề này do có trường hợp những nhà lãnh đạo chínhtrị chỉ tồn tại như bình phong hoặc con rối của một số nhóm xã hội khác mà không thểthực hiện quyền lực thật sự.
Yếu tố thứ ba, theo Robert Dahl và lý thuyết cổ điển có đề cập, nền dân chủ cũngphải tồn tại quyền tự do dân sự và quyền bầu cử cho người dân Người dân có thể tự dolựa chọn người đứng đầu thông qua bầu cử cũng như ứng cử mà không bị trừng phạt haycưỡng ép Người dân cũng có quyền lựa chọn và thể hiện thái độ và suy nghĩ của bảnthân đối với đảng phái và tổ chức, nhóm chính trị Ngoài ra, người dân cũng có nhữngquyền cơ bản khác như quyền tìm kiếm thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hộihọp,
e Quá trình dân chủ hóa
Mặc dù việc đi sâu vào và cố gắng giải mã quá trình dân chủ hóa của một quốc giagiữa các học giả có những điểm bất đồng nhất định, song vẫn có những điểm tương đồngtrong cấu trúc phân tích và vạch ra những cột mốc quan trọng của quá trình này Cụ thểhơn, quá trình dân chủ hóa có thể chia thành bốn giai đoạn: bối cảnh, chuyển đổi dân chủ,những điều kiện được tạo ra bởi dân chủ hóa, và phát triển Bối cảnh, hay điểm xuất phátcủa quá trình dân chủ hóa, là lúc mà dân chủ hóa được đặt ra như một nhu cầu của xã hội.Một số luồng quan điểm cho rằng do tính chất thay đổi về mặt thể chế của dân chủ hóa,điểm xuất phát của quá trình này sẽ rơi vào lúc mà thể chế chính trị đó gặp khủng hoảng.Điều này được minh họa rất rõ qua trường hợp của Ba Lan khi mà sự khủng hoảng trênnhiều phương diện của quốc gia này vào giai đoạn 1980 đã tạo ra một áp lực cải cách lênchính quyền, thúc đẩy nhu cầu chuyển đổi cấu trúc của thể chế chính trị tại quốc gia này.Tuy nhiên, một số trường hợp được coi là dân chủ hóa lại không diễn ra do khủng hoảng,
Trang 14mà đến từ sự thay đổi một số điểm nhỏ trong thể chế chính trị của quốc gia đó theohướng “nhiều” dân chủ hơn, như trường hợp của các nước Bắc Âu Nội dung của bài viếtnày tập trung xem xét các ví dụ dân chủ hóa để hướng tới một cách hiểu toàn diện hơn vềthuyết này, vì vậy việc khái quát hóa điểm bắt đầu của sự chuyển đổi này thành “bốicảnh” là một điều cần thiết để phù hợp với những trường hợp được chọn nhằm thể hiệnnhững hướng tiếp cận khác nhau của các học giả.
Tiếp theo đó là chuyển đổi dân chủ, bao gồm những biện pháp hoặc chính sáchđược đưa ra theo hướng dân chủ hóa thể chế chính trị Những chính sách này có thể mangtính đối phó, cũng có thể là những sự thay đổi nhằm tạo ra một môi trường chính trị cólợi hơn cho quốc gia đó vào giai đoạn kể trên Một điều cần lưu ý, dựa theo cách hiểu vềquá trình dân chủ hóa rằng một thể chế chính trị đang chuyển đổi hướng tới một hình tháikhác mang nhiều màu sắc dân chủ hơn, sự chuyển đổi dân chủ này có thể bao gồm cảcách mà quốc gia này sử dụng một phương tiện nào đó để đạt được mức độ dân chủ caohơn trước đó, chứ không chỉ riêng biệt là chuyển đổi từ phi dân chủ thành dân chủ
Việc chuyển đổi dân chủ này tất nhiên sẽ phải mang lại một số lợi ích nhất định,
và những lợi ích này là tiền đề để hình thành nên sự phát triển của những quốc gia thựchiện chuyển đổi Những tiền đề này được khái quát hóa thành “điều kiện cho sự phát triểnđược tạo ra bởi dân chủ hóa” trong bài viết này, như là một nỗ lực xâu chuỗi lại quá trìnhdân chủ hóa của một quốc gia Tất nhiên việc tách biệt tất cả các biến xảy ra sau quá trìnhdân chủ hóa để chỉ rõ rằng sự phát triển của một quốc gia được tạo ra từ đó là điều bấtkhả thi, khi mà sự đan xen của những yếu tố kinh tế chính trị xã hội trong một quốc giarất phức tạp Tuy nhiên, có thể khái quát hóa một số nhóm yếu tố tiềm năng nếu chúng cóthể liên kết với sự phát triển sau đó, từ đó hình thành một chuỗi sự kiện ít mang tính giảđịnh hơn và phần nào đó thể hiện tính khả thi trong việc chứng minh mối liên hệ giữa dânchủ và phát triển Và cuối cùng, sau tất cả, là sự phát triển của quốc gia sau quá trình dânchủ hóa Tuy sự phát triển của một quốc gia có thể được cân đo đong đếm dưới nhiềuhình thức khác nhau, nhưng trong nội hàm của bài viết này, sự phát triển sẽ chủ yếu tậptrung vào các yếu tố kinh tế nhiều hơn
Trang 15f Tiêu chí phát triển
Có rất nhiều yếu tố để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, được chia thànhyếu tố phi kinh tế và kinh tế Các yếu tố phi kinh tế là chính trị, xã hội hoặc tôn giáo.Trong đó, môi trường chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, theo đó, mộtnền chính trị ổn định sẽ tạo niềm tin của người dân vào các chính sách của chính phủ.Ngoài ra, một quốc gia dân chủ còn có vốn con người cao hơn, lạm phát thấp hơn, chínhtrị ổn định hơn và có mức độ tự do kinh tế cao hơn Thông qua quá trình dân chủ hóa,trình độ học vấn và tuổi thọ tăng lên khi cải thiện các cơ sở giáo dục cũng như chăm sócsức khỏe Những người lao động được trao quyền có khả năng đòi hỏi điều kiện sống tốthơn, góp phần tăng tuổi thọ và do đó, tăng năng suất lao động, từ đó dẫn đến sự phát triểncủa quốc gia
Mặc dù có nhiều tiêu chí phát triển sau khi dân chủ hóa như thu nhập bình quânđầu người, tỷ lệ biết chữ cũng như khả năng tiếp cận được với y tế, hầu hết các cuộctranh luận về sự phát triển của một quốc gia, tiêu chí phát triển về kinh tế tài chính luônchiếm ưu thế Đây là tiêu chí dễ dàng nhận thấy thông qua việc phân tích số liệu màkhông cần một thang đo cụ thể như các tiêu chí về phát triển con người hay giáo dục.Ngoài ra, một quốc gia có được tiềm lực kinh tế vững mạnh thì mọi hoạt động của quốcgia cũng trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn Thông thường, tiêu chí đánh giá mức độ pháttriển kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhậpbình quân đầu người Do đó, các quốc gia có GDP bình quân đầu người cao được coi lànước phát triển Một nền kinh tế có những giai đoạn tạm lắng và suy thoái tự nhiên,nhưng về lâu dài, GDP tăng lên có nghĩa là nhiều tiền hơn đang đổ vào nền kinh tế, nhiềuviệc làm hơn và tỷ lệ có việc làm ngày càng tăng Đây là tất cả các dấu hiệu quan trọngcủa một nền kinh tế phát triển Dẫu vậy, một nền kinh tế sau dân chủ có thể được xem làphát triển miễn là tỷ lệ tăng GDP dương, khoảng từ 2-3% là lý tưởng Khi đó, nền kinh tếđang trong tình trạng “khỏe mạnh”