1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn nái sinh sản bùi mạnh cường

69 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn nái sinh sản Bùi Mạnh Cường
Tác giả Phạm Hoành Sơn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Đào
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM HOÀNH SƠN Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI T

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM HOÀNH SƠN

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN NÁI SINH SẢN BÙI MẠNH CƯỜNG – NGHĨA ĐẠO

THUẬN THÀNH – BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM HOÀNH SƠN

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN NÁI SINH SẢN BÙI MẠNH CƯỜNG – NGHĨA ĐẠO –

THUẬN THÀNH – BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bích Đào

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành

cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ

nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú

y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa luận

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn

nhiệt tình của cô hướng dẫn TS.Nguyễn Thị Bích Đào người đã trực tiếp

hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, cán bộ, công

nhân tại trại lợn sinh sản Bùi Mạnh Cường, thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa

Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho em trong quá

trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn

ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành

khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn tất cả!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Phạm Hoành Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined MỤC LỤC ii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 4

2.1.2 Cơ sở vật chất trang trại 5

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 6

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 7

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực tập 8

2.2.1 Tổng quan tài liệu 8

2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 17

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 21

2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ 25

2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 28

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 29

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 29

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 35

Trang 5

3.1 Đối tượng thực hiện 35

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35

3.3 Nội dung thực hiện 35

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 35

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 35

3.4.2 Phương pháp thực hiện 36

3.4.2.1 Phương pháp thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 36

3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 39

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 39

4.2 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng 41

4.2.1 Kết quả chăm sóc đàn lợn 41

4.2.2 Công tác giống 46

4.2.3 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng đàn lợn con 46

4.3 Công tác vệ sinh, phòng bệnh cho đàn lợn 47

4.3.1 Công tác vệ sinh 47

4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc - xin 48

4.4 Công tác chẩn đoán bệnh cho đàn lợn 49

4.4.1 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai 12

Bảng 3.1 Chế độ ăn của lợn nái mang thai của tập đoàn Deheus 36

Bảng 3.2 Lịch sát trùng được áp dụng tại trại nái 37

Bảng 3.3 Lịch phòng bệnh bằng vắc - xin cho lợn nái và lợn đực 38

tại trại 38

Bảng 3.4 Lịch vaccine cho lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa 39

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn tại qua các năm 39

Bảng 4.2 Kết quả chăm sóc đàn lợn nái và lợn con tại trại (con) 41

Bảng 4.3 Dấu hiệu trước khi đẻ của lợn nái 44

Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống lợn con đến khi cai sữa 46

Bảng 4.5 Kết quả chăm sóc lợn con tại cơ sở 47

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện công việc sát trùng tại trại qua 6 tháng thực tập 48 Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con tại cơ sở 49

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản 49

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ 49

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 51

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con tại trại 52

Trang 8

vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại cũng như nền kinh tế cả nước Bên cạnh những phương thức chăn nuôi lợn kiểu truyền thống với quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình thì mô hình chăn nuôi trên quy mô lớn như trang trại ngày càng được mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật,

áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi, tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu và đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của nhân dân Thịt lợn là0 thịt được tiêu dùng phổ biến nhất trong thực đơn của người Việt, chiếm tới 70% tổng tiêu dùng thịt năm 2019 Theo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 25 triệu con giảm 11,5% so với năm 2018 Theo tổ chức phân tích và

dự báo thị trường AgroMonitor tổng đàn lợn Việt Nam đứng đầu Đông Nam

Á và đứng thứ 4 thế giới Mục tiêu của Cục Chăn nuôi năm nay tăng tổng đàn lợn đạt 35 triệu con

Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt

Trang 9

quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc

và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Để phát triển nâng cao giá trị kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, em đã tiến hành

thực hiện chuyên đề: "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng,

trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn nái sinh sản Bùi Mạnh Cường, thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn nái cao sản Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Nắm được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc trên đàn lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Đánh giá được tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại, thực hiện được các quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh tại trại

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi Bùi Mạnh Cường

Trang 10

- Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại đạt hiệu quả cao;

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh

- Thành thạo quy trình phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại

- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

- Vị trí địa lý: Nghĩa Đạo là một vùng đất cổ nằm trong vùng văn hóa ’’Luy Lâu”, là xã nông nghiệp nằm ở phía nam huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, xã có đường quốc lộ 38 chạy qua thuận tiện trong việc lưu thông hàng hóa

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 852 ha

Tổng dân số toàn xã năm 2011 là 8000 người

- Phía Đông giáp huyện Lương Tài - Bắc Ninh

- Phía Tây giáp huyện Văn Lâm - Hưng Yên

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng - Hải Dương

- Phía Bắc giáp với xã Ninh Xá - Thuận Thành - Bắc Ninh

Xã cách thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành 7 km, vị trí của xã rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài Cách thành phố Bắc Ninh

25 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 30km về phía Nam, đặc biệt chỉ cách thành phố Hà Nội 30 km theo quốc lộ 282, Nghĩa Đạo là xã nằm giáp ranh 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên, có diện tích đồng bằng lớn,

là điều kiện phát triển nông nghiệp toàn diện, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Khí hậu: thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, nhưng chủ yếu có 2 mùa chính là mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng 1 và tháng 2 thường có mưa phùn, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10

Trang 12

Lượng mưa mùa mưa tập trung 85% lượng mưa cả năm và kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Tổng lượng mưa trung bình là 1331 mm, số ngày mưa trung bình là 144,3 ngày Lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa và đạt cực đại vào tháng 7 Mùa khô mưa ít, lượng mưa không đáng kể chiếm 25% lượng mưa cả năm Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 12 - 18 mm, lượng mưa tháng cao nhất là 254 mm

2.1.2 Cơ sở vật chất trang trại

- Trang trại có tổng diện tích: 39.000 mét vuông, bao gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, hầm biogas, sân thể thao, kho cám, các công trình phụ trợ khác và khuôn viên cây xanh và vườn rau

- Trại lợn được chia làm hai khu chính là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán và nơi ăn ở, vui chơi giải trí của công nhân Khu sản xuất bao gồm, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng đực giống, 1 chuồng bầu, 2 nhà an thai (gruop 1 và gruop 2), 9 chuồng đẻ ( 6 chuồng đang hoạt động), 5 chuồng cai sữa, 5 chuồng lợn thịt Một số các công trình khác phục vụ cho chăn nuôi, kho cám, silo cám, kho chứa vật liệu, nhà sát trùng , kho vôi, phòng tinh giống, nhà máy phát điện

- Hệ thống chuồng trại được xây khép kín hoàn toàn, hiện đại với công nghệ Hà Lan, có hầm biogas tận dụng được chất thải chăn nuôi, đầu chuồng là

hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng là quạt thông gió và hệ thống máng ăn hoàn toàn tự động và hiện đại Đặc biệt chuồng bầu mỗi lợn nái đều được quản lý bằng hệ thống con chíp, theo dõi qua smart phone hoặc máy tính Chuồng được xây dựng tận dụng tối da diện tích đất có Mái chuồng đươc trần bằng tấm trần chống nóng

Chuồng bầu

- Chuồng bầu được chia ra làm 6 dãy, mỗi dãy có 45 ô, sức chứa của chuồng là 270 con, khung mỗi ô được làm bằng ống kẽm, hệ thống máng tự

Trang 13

động cho mỗi con, gầm chuồng được thiết kế dốc thuận tiện cho việc vệ sinh, nền chuồng là hệ thống sàn bê tông, Đầu dãy là hệ thống nước vệ sinh, xịt máng, xịt gầm

Chuồng đẻ

- Có 6 chuồng đang hoạt động, mỗi chuồng có sức chứa 32 con, chia làm 2 dãy mỗi dãy 16 con Đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là 3 quạt thông gió, khung lợn nái làm bằng kẽm, sàn cho lợn nái là sàn bê tông, cho lợn con là sàn nhựa, gầm chuồng cũng được thiết kế dốc

Chuồng cai sữa

- Có 4 chuồng xây dựng sát nhau, mỗi chuồng chó 6 ô, mỗi ô nuôi tối

da 30 con và 1 chuồng mới xây dựng có 24 ô, được nuôi trên sàn nhựa

- Các chuồng được kết nối với nhau, việc đi lại giữa các chuồng rất thuận tiện

- Phòng pha tinh của trang trại được trang bị các dụng cụ hiện đại, máy lọc nước, kính hiển vi, tủ lạnh, máy ép tinh, nồi nâng nhiệt, nhiệt kế điện tử,

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu trại được tổ chức như sau:

- 1 chủ trại

Trang 14

- 1 quản lý trại

- 2 kỹ thuật chuồng đẻ và chuồng thịt của cty cám

- 1 bảo vệ

- 1 kế toán

- 10 công nhân và 5 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại được phân ra các tổ, nhóm khác nhau, như tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng thịt Mỗi khâu trong quá trình chăn nuôi trong trại đều được quản lý phân tới các tổ, các tổ trưởng các tổ trưởng điều phối nhân viên, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong công việc, thúc dẩy sự phát triển của trai

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn

2.1.4.1 Thuận lợi

- Trại được xây dựng ở xa khu dân cư, đường xá thuận tiện,

- Có đội ngũ quản lý, kỹ thuật có trình độ chuyên môn và tay nghề cao,

có tinh thần trách nhiệm trong công việc

- Công nhân có tay nghề cao, năng động nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm với công việc

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, thích ứng với tình hình chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.1.4.2 Khó khăn

- Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết thay đổi thất thường, mùa ẩm ướt giúp các dịc bệnh bùng phát, khâu phòng trừ bệnh còn gặp nhiều khó khăn

- Năm 2009 trại bắt đầu vào hoạt động với quy mô lợn thịt và đnag hoàn thiện cơ sở vật chất nên còn gặp nhiều khó khăn

- Năm 2015 trại bắt đầu vào sản xuất nái cơ bản nên vẫn còn nhiều khó khăn

Trang 15

- Năm 2017 giá lợn giảm mạnh, có thời điểm xuống tới 15 000/kg lợn hơi Khiến giá lợn giống cũng giảm mạnh từ 1.200.000 đồng/con xuống 600.000/con cũng không có người mua, tình hình trại gặp vô vàn khó khăn

- Năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi bùng phát khiến người chăn nuôi lao đao, việc mở rộng sản xuất của trại cũng gặp nhiều khó khăn

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực tập

2.2.1 Tổng quan tài liệu

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

Sự thành thục về tính

Một cơ thể được coi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể căn bản đã phát triển toàn diện Dưới tác động của thần kinh nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục), cơ quan sinh dục lợn nái có các noãn bào trứng dụng

Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như: Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông

Mật độ nuôi nhốt: mật độ nuôi nhốt đông trên một dơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục, nhưng cần tránh nuôi lợn nái hậu bị trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes

và James (1996) [30], cho thấy việc nuôi nhốt lợn nái hậu bị riêng biệt từng cá thể sẽ làm chậm thành thục về tính so với lợn nái hậu bị được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn nái hậu bị Nếu lợn cái thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn so với lợn nái hậu bị không thường xuyên tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và James (1996) [30], lợn nái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn nái sẽ động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander T., 2010) [39]

Trang 16

+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn nái được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng dụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [7]

Trứng chín: dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triển rất nhanh, lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên bề mặt buồng trứng như bóng nước Tế bào trứng nằm trong nang trứng tiến hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bào trứng chín

Hiện tượng rụng trứng: noãn bào lớn dần lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp xuất Noãn bào vỡ giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào khỏi noãn bào trứng ra ở từng loài gia súc khác nhau

Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng, tạo nên những nếp nhăn trên vách ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấy đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy các tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố

đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi tạo ra progesterone Trong một thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng sẽ nhanh chóng đạt đến độ tối đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 – 15 ngày Nếu gia súc

có thai, nó sẽ tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến khi gia súc gần đẻ

Trang 17

Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là kết qủa của quá trình rụng trứng Sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra âm dịch Đồng thời

ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra

Tính dục: do kết quả của quá trình dụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loại biến đổi khác với bình thường, gia súc cái đứng nằm không yên, kém ăn, kêu rống, thích gần con đực

Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, khi có người hoặc lợn đực

đi qua lợn có biểu hiện tai dựng đứng, người ở tư thế chịu đực Cao điểm nhất

là lúc tế bào trứng rụng Khi tế bào trứng rụng đã rụng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt

Chu kỳ động dục: Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [26] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn dầu của chu kỳ động dục, lúc này buồng trứng to hơn bình thường Cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều, lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

- Giai đoạn động dục

Lúc này cơ thể gia súc cái có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh

lý Bên ngoài âm hộ xưng đỏ, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống phá chuồng hay nhảy lên lưng con khác

- Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần đi rồi mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh

Trang 18

- Giai đoạn nghỉ ngơi

Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn

2.2.1.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đang mang thai

Quá trình chăm sóc lợn nái mang thai là quá trình quan trọng, nhằm đạt mục tiêu: lợn nái đẻ sai con, lợn con sinh ra đồng đều và đạt khối lượng sơ sinh cao nhất có thể, lợn nái mang thai phải đủ thể trạng trước khi đưa lên đẻ tránh hao mòn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con Để đạt những mục tiêu trên, trong quá trình chăm sóc lợn nái mang thai cần chú trọng những vấn đề sau:

Sau khi phối giống qua 21 ngày cần kiểm tra lại nếu không thấy lợn nái

có biểu hiện động dục trở lại có nghĩa là lợn đã mang thai, nếu lợn có biểu hiện động dục trở lại cần đưa trở lại chuồng phối, công việc nên thực hiện kiểm tra vào ban đêm lúc yên tĩnh nhất Nhưng sau 3 tháng tiếp theo lợn nái không có biểu hiện của quá trình mang thai (bầu vú phát triển, hai hàng vú tạo thành hai bẹ sữa chạy dọc vùng bụng, có rành phân chia riêng biệt, thì lợn chắc chắn đã chửa giả không sinh sản được

Thời gian mang thai của lợn nái là 114 ± 3 ngày Sẽ có trường hợp lợn

đẻ quá số ngày và có trường hợp đẻ sớm Trường hợp lợn đẻ non quá sớm sẽ rất khó nuôi con con

Trong quá trình mang thai, thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và sinh trưởng của con con vì vậy thức ăn đủ chất cho lợn nái mang thai là rất cần thiết Để đạt được hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản cao nhất thì cần phải có một chương trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai sao cho đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng, duy trì và dinh dưỡng của lợn nái mang thai

* Dinh dưỡng cho lợn nái mang thai

Một quy trình chăm sóc lợn nuôi dưỡng lợn nái chửa đạt tiêu chuẩn cần phải đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng, duy trì và phát triển của thai Nếu thức

ăn kém dinh dưỡng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thai ở giai đoạn đầu và giai

Trang 19

đoạn cuối của thai: giai đoạn đầu thức ăn kém dinh dưỡng sẽ gây hiện tượng tiêu thai, khi đẻ còn ít thai sống và nhiều thai khô (gỗ), giai đoạn cuối giai đoạn thai phát triển mạnh nếu thức ăn kém dinh dưỡng, con non khi sinh ra nhỏ, yếu ớt, sức sống kém, thể trạng nái không đủ để tiết sữa nuôi con

Nhưng nếu khẩu phần ăn thừa dinh dưỡng cũng sẽ gây nên tình trạng bào thai phát triển quá to hoặc thức ăn sẽ được con nái hấp thu vào chính cơ thể nó dẫn đến con nái quá mập gây hiện tượng đẻ khó, phải can thiệp kéo thai, móc thai, gây tổn thương bộ phận sinh dục, sau khi đẻ rất dễ mắc các bệnh (viêm tử cung, mất sữa), hội chứng M.M.A Gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

Từ những nguyên nhân trên cho thấy, cân bằng dưỡng chất, tránh dư thừa năng lượng, dư thừa chất béo, thai sinh ra yếu, chết do thiếu dinh dưỡng, viêm vú viêm tử cung do sinh khó Vì vậy người chăn nuôi cần lưu ý khẩu phần cho lợn nái chửa

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai

(kg thức ăn tinh/nái/ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái

Nái gầy Nái bình

thường Nái béo

Từ 35 - 83 ngày sau phối giống 2.7 2.5 2.3

Từ 84 – 112 ngày sau phối giống 3.2 3 2.8

Thức ăn cần phải được kiểm tra độc tố nấm mốc và các chất dinh dưỡng sao cho phù hợp nhất với con nái qua từng giai đoạn sao cho, con nái

và thai đạt hiệu quả tốt nhất

Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ máng ăn, tránh nấm mốc phát triển

Trang 20

Công tác vệ thú y đối với lợn nái chửa

- Tiêm vắc - xin phòng bệnh

Cần tiêm đủ các loại vắc - xin Dịch tả, FMD, PRRS… cho lợn nái từ 80

- 100 ngày sau khi phối giống Định kỳ tẩy nội, ngoại ký sinh trùng cho lợn nái

2.2.1.3 Kỹ thuật chăm sóc lợn nái đẻ

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần

vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước muối lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng

ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với

chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và quan trọng

đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó

có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ổ úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con

Trang 21

lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống

từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó

là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,

cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn

bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo

đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ, trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

Trang 22

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Quy trình chăm sóc

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 20oC, độ ẩm 70 - 75%

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ

có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Do vậy việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rất

Trang 23

quan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiết sữa và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề ra biện pháp kỹ thuật có hiệu quả

- Sinh lý tiết sữa

Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có

bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ

Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc

vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ

đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích

tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau, những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau

Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con

có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu

vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ

so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần trên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/con

Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc

Trang 24

Cắt rốn: dùng dây chỉ đã ngâm với sát trùng, độ dài rốn để lại từ 4 – 5

cm thắt rốn lại rồi cắt, sau đó sát trùng vết cắt

Đẻ được 4 – 5 con thì cho lợn con bú sữa đầu

Mài nanh: Dùng máy mài nanh, số nanh phải mài là 8 cái, trong đó 4 răng nanh và 4 răng cửa sau Không mài quá nông vì mài nông răng vẫn sắc

và nhọn gây ảnh hưởng vú lợn mẹ, mài quá sâu gây ảnh hưởng đến lợi của lợn con

Cắt duôi: Để tránh hiện tượng cắn đuôi nên cắt đuôi cho lợn con mới sinh sau 24 giờ để giảm stress co lợn con Sử dụng kéo bấm đuôi hoặc kìm bấm đuôi để bấm

2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con:

- Khái niệm sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất đồng hóa và dị hóa: là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân chia các tế bào trong cơ thể

Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 – 12

Trang 25

lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh và cs, 2003) [14]

Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [13]

- Khái niệm phát dục

Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trinh thay đổi về chấ lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện chức năng của cơ thể sống (Pensaet M.B và Bouck P.A (1978) [34]

 Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp

* Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn

về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể

mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn

mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết

* Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn

mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi

Trang 26

đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập ăn sớm cho lợn con

* Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,

do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp

Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau: + Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

+ Bổ sung sắt cho lợn con

+ Tập cho lợn con ăn sớm

2.2.2.2 Cho bú sữa đầu

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng  globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai,

Trang 27

để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao

2.2.2.3 Tập cho lợn con ăn sớm

Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách

dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị

Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)

Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung

Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng

Trang 28

cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [24], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm

nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa

to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng

Trang 29

ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn

nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Trang 30

bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

- Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

Trang 31

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

Trang 32

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…

2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy ra

Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, Trần Ngọc Bích và cs, (2016) [2], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%

Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái, làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [8]

Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Hoài Nam, (2016) [25], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm

tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết

Prostagladin F 2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

Trang 33

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [13], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],

Lê Minh và cs, (2017) [16] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường

Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung

co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái

- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [17], yếu

tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm tử cung: Mùa Hạ có

tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa Đông 46,05%, mùa Thu 43,70%

Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái

Trang 34

Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc

tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [18]

Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [8], triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm: Viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc

2.2.4.2 Bệnh viêm vú

+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho

thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium

pyogenes (Christensen R V và cs, (2007) [28]

+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi

khuẩn, Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra

viêm vú

+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn

xâm nhập gây viêm như: E.coli, Streptococus, Staphylococus, Klebsiella… (Đỗ

Duy Hùng, (2011) [12]

+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú

mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú

+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

Ngày đăng: 24/04/2023, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(2014), “Một số đặc điểm dịch tễ và bệnh lý của bệnh hội chứng tiêu chảy thành dịch trên lợn ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XXI (số 2), tr. 43 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2014
10. Trần Đức Hạnh (2013), Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây hội chứng tiêu chảy ở lợn nái tại 3 tình phía Bắc và biện pháp phòng trị, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây hội chứng tiêu chảy ở lợn nái tại 3 tình phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Nhà XB: Luận án tiến sỹ Nông nghiệp
Năm: 2013
11. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
12. Đỗ Duy Hùng (2011), “Bệnh viêm vú ở lợn nái”, Báo nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm vú ở lợn nái
Tác giả: Đỗ Duy Hùng
Nhà XB: Báo nông nghiệp Việt Nam
Năm: 2011
13. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Trang 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đình Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
14. Nguyễn Quang Linh (2003), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
16. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2017
17. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng, trị hội chứng MMA ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp
Năm: 2014
18. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
19. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên (2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
20. Nguyễn Ngọc Phục (2005), Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn, Nxb Lao động xã hội Hà Nội, trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phục
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội Hà Nội
Năm: 2005
22. Pierre Brouillt và Bernarrd Farouilt (2003), Điều trị viêm vú lâm sàng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị viêm vú lâm sàng
Tác giả: Pierre Brouillt, Bernarrd Farouilt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
23. Trekaxova A. V., Daninko L. M. Ponomareva M. I., Gladon N. P. (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản
Tác giả: Trekaxova A. V., Daninko L. M., Ponomareva M. I., Gladon N. P
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
25. Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hoài Nam (2016), “Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn”, Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập XIV (số 5), tr. 720 – 726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hoài Nam
Năm: 2016
26. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nôi, tr. 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2006
27. Đặng Đình Tín (1986), Sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
30. Huges, James (1996), “ Maximising pigs produation and reproduction” Compus Hue University of Agriculture and Forestry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maximisng pigs produation and reproduction
Tác giả: Huges, James
Nhà XB: Compus Hue University of Agriculture and Forestry
Năm: 1996
31. Katri Levonen (2000), The detection of respiratory diseseases in swine herds by means by means of antibody assay on colotrum from sow, Department of Food and Environment Hygiene, Faculty of Veterinary Sách, tạp chí
Tiêu đề: The detection of respiratory diseseases in swine herds by means by means of antibody assay on colotrum from sow
Tác giả: Katri Levonen
Nhà XB: Department of Food and Environment Hygiene, Faculty of Veterinary
Năm: 2000
32. Kielstein P. (1966), “On the occurrencer of toxi producing Pasteurella multocida strains atrophic rhinitis and in pneumoniae of swine and cattle”, Vet. Med., p. 418 - 424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the occurrencer of toxi producing Pasteurella multocida strains atrophic rhinitis and in pneumoniae of swine and cattle
Tác giả: Kielstein P
Nhà XB: Vet. Med.
Năm: 1966

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm