1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá năng suất sinh sản và một số biện pháp phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn công ty phát đạt, xã cao minh, thành phố phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

73 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng con giống là yếu tố quan trọng, vì chất lượng của đàn lợn nái sinh sản ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, số lượng con giống và hiệu quả sản s

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THỊ HIỀN

Tên chuyên đề:

ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG

VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN CÔNG

TY PHÁT ĐẠT – XÃ CAO MINH – THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Khóa luận thực tập tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua Đồng thời, Nhà trường đã tạo cho em

có cơ hội được thực tập nghề nghiệp mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua thời gian thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong chuyên môn để giúp ích cho công việc sau này của bản thân

Đặc biệt, em xin gửi đến TS Nguyễn Đức Trường, người đã tận tình

hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác

và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện khóa luận

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Sinh viên

Vũ Thị Hiền

Trang 4

ii

MỤC LỤC

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 1

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Quá trình thành lập 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 5

2.1.4 Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của trại 5

2.1.5 Thuận lợi, khó khăn 7

2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn nái 8

2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 15

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 18

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái 26

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 37

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 37

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 38

Trang 5

iii

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 40

3.1 Đối tượng 40

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 40

3.3 Nội dung thực hiện 40

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 40

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 40

3.4.2 Phương pháp thực hiện 40

3.4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 41

3.4.4 Các công việc khác 41

3.4.5 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 41

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty Phát Đạt 43

Tình hình chăn nuôi của trại trong ba năm (2018 - 2021) của trại kết hợp với kết quả theo dõi thực tế ở trại Kết quả được trình bày ở bảng 4.1 43

4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng đàn lợn nái 44

4.2.1 Khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trang trại lợn Phát Đạt 44

4.2.1 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở 48

4.2.2 Quy trình phòng bệnh tại cơ sở 53

4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 57

4.3.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 57

4.3.2 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con và lợn con 59

4.4 Kết quả thực hiện các thao tác khác tại trại 60

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 6

iv

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 27

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn từ 2018 - 2020 43

Bảng 4.2.Năng suất sinh sản của lợn nái 44

Bảng 4.3 Số lợn nái can thiệp sản khoa 45

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 47

Bảng 4.5 Mức ăn cơ sở lợn nái mang thai 48

Bảng 4.6 Mức ăn cơ sở cho nái đẻ và nái chờ phối 49

Bảng 4.7 Mức tập ăn cơ sở lợn con theo mẹ 50

Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn/lợn con 50

Bảng 4.9 Lịch vệ sinh, sát trùng chuồng trại 53

Bảng 4.10 Kết quả vệ sinh, sát trùng 55

Bảng 4.11 Lịch tiêm vaccine cho lợn 56

Bảng 4.12 Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn nái 57

Bảng 4.13 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái 59

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 60

Trang 9

1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn là một phần không thể thiếu của nông nghiệp Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới Cùng với

sự phát triển của thế giới, nền kinh tế nước ta có những bước nhảy vọt và không ngừng đi lên, cùng với nó là đời sống của con người ngày càng được cải tiến, nhu cầu về chất lượng thực phẩm cũng được quan tâm hơn, đặc biệt là các loại thịt có chất lượng cao Chăn nuôi lợn ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cao cho người tiêu dùng, cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thì

nó còn góp phần phát triển nền nông nghiệp hữu cơ sinh thái, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ cho ngành trồng trọt, cải tạo đất (nhất là đất nông nghiệp), cải tạo môi trường cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người… Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển rất mạnh Đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn sinh sản đã chuyển từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi theo mô hình công nghiệp

Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh chăn nuôi lợn tập trung với nhiều trang trại lớn và nhỏ, phương thức chăn nuôi công nghiệp vừa giải quyết việc làm vừa góp phần tăng thu nhập cho người lao động Tính đến hết tháng 1/2020, toàn tỉnh đã có gần 1.000 hộ chăn nuôi, với tổng số lợn khoảng 23 nghìn con, bao gồm hơn 2.500 con lợn nái, lợn đực giống; hơn 20 nghìn con lợn thịt (Theo Báo Chăn nuôi Việt Nam)

Để nâng cao năng suất chăn nuôi, chất lượng con giống là yếu tố quan trọng, vì chất lượng của đàn lợn nái sinh sản ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,

số lượng con giống và hiệu quả sản suất Tuy nhiên, đối với lợn nái, nhất là lợn nái ngoại thì các bệnh về sinh sản xuất hiện khá phổ biến, do khả năng thích nghi của đàn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh

Trang 10

2

ở cơ quan sinh dục như đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú… Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Vì vậy, việc nắm chắc quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản là việc cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi đã

thực hiện chuyên đề “Đánh giá năng suất sinh sản và một số biện pháp phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn công ty Phát Đạt –

xã Cao Minh – thành phố Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi công ty Phát Đạt

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh

- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân

Trang 11

3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

+ Phía Đông tiếp giáp phường Xuân Hòa

+ Phía Tây giáp xã Bá Hiến và Sơn Lộ huyện Bình Xuyên

+ Phía Nam giáp xã Nam Viêm

+ Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh

Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện lân cận Trại lợn và lò mổ chỉ cách chợ Xuân Hòa thành phố Phúc Yên 5km, nên có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, giải quyết được một phần cho đầu ra

2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

Nhìn chung địa hình của xã thuộc vùng trung du miền núi, có đồi núi, đồng bằng và vùng trũng, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam Diện tích đất canh tác là 717,40 ha Xã có hai loại đất chính là đất feralit và phù xa

cổ bồi đắp

Trang 12

4

2.1.1.3 Khí hậu

Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi Là vùng trung du, Cao Minh cũng như thành phố Phúc Yên chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 24○C, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9), hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 3) Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16% Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa

hè là Đông – Nam Khí hậu tương đối cho phát triển nông nghiệp đa dạng Lượng mưa bình quân năm khoảng 1661mm nhưng phân bố không đều, thường tập trung vào các tháng 6,7,8 Từ tháng 5 đến tháng 8, có nhiều mưa bão gây ảnh hưởng tới nông nghiệp và đời sống nhân dân

Nhìn chung, điều kiện khí hậu của xã là thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, chế độ khí hậu của xã cũng có một số hạn chế như úng lụt, hạn hán nên ảnh hưởng đến sản xuất của người dân, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh Chính vì vậy, việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc là quan trọng

2.1.1.4 Giao thông, thủy lợi

Trại có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các khu vực trung tâm và các khu vực xung quanh; có đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được

bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào trại để vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư cũng như các sản phẩm chăn nuôi

2.1.2 Quá trình thành lập

Trại chăn nuôi lợn công ty Phát Đạt là trang trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Văn Tuấn lập nên, nằm tại thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trại bắt đầu hoạt động chăn nuôi từ năm 2009 với quy mô là 120 nái, đến năm 2013 công ty có mở thêm quy mô nái lên 300 nái

Trang 13

5

và 800 lợn thịt Khu chăn nuôi mở rộng với quy mô khép kín Trại công ty đứng đầu là giám đốc thuê kỹ thuật, quản lí trại và công nhân

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

+ 01 giám đốc Công ty

và sinh viên, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.4 Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của trại

Trại lợn được xây dựng trên gần 5 ha đất gồm khu chuồng lợn nái đẻ, khu chuồng lợn nái mang thai, khu chuồng thịt, khu chuồng lợn hậu bị, khu chuồng đực, hệ thống nước, phòng thay đồ, hệ thống điện, kho thức ăn, kho thuốc, phòng pha tinh… Ngoài ra còn có nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp

ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân, sinh viên thực tập và các hoạt động khác của trại

Hệ thống chuồng nuôi xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là

hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, chuồng lợn nái chửa, chuồng thịt, 2 quạt thông gió đối với chuồng cách ly và

2 quạt thông gió đối với chuồng lợn đực và chuồng lợn loại Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa

sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Trang 14

6

Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng chửa, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục

vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái bầu

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước tắm

và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Trại có hệ thống dẫn nước và ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy

và một số thiết bị khác

Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố tiêu hủy lợn xa khu vực chăn nuôi

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc

để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi

Khu chăn nuôi : Tổng trại có 10 chuồng nuôi, trong đó có: hai chuồng đẻ với 96 ô đẻ kích thước 1,8m x 2,2m/ô, hai chuồng lợn nái chửa với 246 ô lợn nái chửa, một chuồng đực với 9 ô đực, một chuồng hậu bị có 3 ô quy mô là 50 con/lứa, một chuồng cai sữa có 26 ô quy mô là 650 con/lứa và 3 chuồng thịt

có 16 ô quy mô là 700 lợn thịt/lứa

Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở, sinh hoạt của công nhân, sinh viên với khu chăn nuôi

Trang 15

Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc

Trang trại công ty xây dựng theo hình thức công nghiệp, mọi quy trình chăm sóc nuôi dưỡng theo hình thức khép kín Nguồn nước được xử lý sạch

sẽ đáp ứng đủ cho trang trại

Trang trại nhập các giống lợn ông bà, bố mẹ từ Công ty có uy tín như

CP, Green Feed,… nên việc phòng và trị bệnh cho lợn nái dễ dàng hơn

Trang trại liên kết với Công ty GreenFeed nên chủ động được nguồn thức ăn

2.1.5.2 Khó khăn

- Yêu cầu nghiêm ngặt của việc phòng bệnh cho đàn lợn vì vậy việc đi lại ra vào khu chăn nuôi hạn chế nhiều vấn đề, nên công nhân thường xuyên xin thôi việc dẫn đến thay đổi công nhân liên tục làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc đàn lợn

- Năm 2019 dịch tả lợn Châu Phi bùng phát trại gặp nhiều khó khăn lớn trong vấn đề phòng chống dịch bệnh

- Do ảnh hưởng của dịch bệnh, trên thị trường giá thịt lợn liên tục thay đổi gây không ít khó khăn đối với thịt lợn của các trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn, vì chất lượng thịt tốt hơn so với chất lượng thịt bán ngoài chợ nên

Trang 16

8

giá thành đắt hơn Tuy nhiên vì lợi nhuận nhiều trang trại thu gom lợn từ dân sau đó dán mác thịt lợn sạch và bán ra thị trường với giá rẻ hơn

2.2.Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

 Sự thành thục về tính

Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Khi đấy gọi là gia súc đã thành thục về tính (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2005) [16], trung bình thời gian thành thục về tính của lợn là 6 - 7 tháng

Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của

cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng

đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính Tương ứng là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ

tử cung mở dần kèm theo tiết dịch

Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính

- Giống

Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Hầu hết các giống lợn nội thành thục sớm hơn các giống lợn ngoại, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn Các giống lợn nội tuổi thành thục về tính là 4 - 5 tháng, các giống lợn Landrace, Yorksire tuổi thành thục về tính là 6 - 7 tháng

Trang 17

9

Phạm Hữu Doanh và và Lưu Kỷ (2003) [4], nghiên cứu tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg ở giai đoạn 4 - 5 tháng Ở lợn lai F1 (tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần), thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi; lợn ngoại từ 6 - 8 tháng; lợn Ỉ, Móng Cái 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace từ 7 - 8 tháng tuổi

- Dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng

Theo Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan (1998) [1]: để lợn nái duy trì năng suất sinh sản cao thì cần chú ý tới nhu cầu dinh dưỡng và cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng 80 - 90kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) Có thể điều chỉnh thức ăn để khối lượng cơ thể đạt 120 – 140kg ở chu kỳ động dục thứ 3

và cho phối giống

- Điều kiện ngoại cảnh

Nhiệt độ môi trường cao gây trở ngại cho sự biểu hiện chịu đực, do nhiệt độ cao làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, làm giảm sự trao đổi chất

từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng trứng và thải trứng của lợn nái hậu bị, mặt gây stress cho lợn nái nên làm giảm các phản xạ sinh dục, biểu hiện chịu đực Ở nhiệt độ quá thấp cũng làm ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính do vấn đề stress nhiệt Tóm lại, tất cả những yếu tố làm cho con vật stress đều có thể ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc

Mùa vụ và chu kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục của lợn Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu

- đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con lợn được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng

14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng

Trang 18

10

trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày

Sự kích thích con đực cũng làm ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính

của lợn cái hậu bị

Cách ly lợn nái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến chậm trễ sự thành thục về tính so với những lợn nái hậu bị cung độ tuổi được tiếp xúc với con đực

 Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc là tuổi mà gia súc có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt đến mức độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm

vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn sự thành thục về

tính Sự thành thục về tính được ghi nhận bởi sự động dục lần đầu tiên, tuy nhiên ta thường bỏ qua lần động dục này mà không cho giao phối Tuổi phối giống lần đầu đối với lợn nội là 7 - 8 tháng tuổi, khối lượng đạt 60 - 70 kg; lợn nái ngoại là 9 - 10 tháng tuổi khi đạt khối lượng 90 - 100 kg (Nguyễn Thị Liên Hương, 2015 [24])

2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp

 Chu kỳ động dục (Chu kỳ tính)

Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện

ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu

Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ (Trần Tiến

Trang 19

11

Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh 2002) [6]

Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi

đó rụng trứng, hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển

và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo

Chu kỳ động dục có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài chu

kỳ giữa các loài cũng có sự khác nhau Ở thời gian đầu, do mới có sự thành thục về tính nên chu kỳ chưa ổn định, phải sau 2 – 3 chu kỳ tiếp sau mới có được sự ổn định Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], lợn động dục không theo mùa, chu kỳ sinh dục thường 21 ngày, thời gian dao động từ 18 – 22 ngày

Chu kỳ động dục của lợn liên quan chặt chẽ với quá trình điều hòa kích

tố trong cơ thể, và chịu sự điều khiển của hệ thống thần kinh thể dịch

Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005) [16]: Chu kỳ động dục của gia súc cái được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Bao noãn phát triển, các tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh Hệ thống mạch quản trong dạ con phát triển Các tuyếntrong dạ con bắt đầu tiết dưới tác dụng của hormone Estrogen Thay đổi của đường sinh dục: tử cung, âm đạo, âm hộ bắt đầu xung huyết

+ Giai đoạn động dục: Bao noãn phát triển mạnh nổi lên bề mặt buồng trứng Bao noãn tiết nhiều Estrogen và đạt cực đại Các thay đổi ở đường sinh dục cái càng sâu sắc hơn, để chuẩn bị đón trứng Biểu hiện của con vật: Hưng

Trang 20

12

phấn về tính dục, đứng yên cho con khác nhảy, kêu rống, bồn chồn, thích nhảy lên lưng con khác, ít ăn hoặc bỏ ăn, tìm đực Âm hộ ướt, đỏ, tiết dịch nhày Càng tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ đỏ tím, dịch tiết keo lại, mắt đờ đẫn Cuối giai đoạn này thì trứng rụng

+ Giai đoạn sau động dục: Thể vàng bắt đầu phát triển và tiết ra Progesteron có tác dụng ức chế sự co bóp của đường sinh dục Niêm mạc tử cung vẫn còn phát triển Các tuyến dịch nhờn giảm bài tiết, mô màng nhầy tử cung bong ra cùng với lớp tế bào biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài Biểu hiện hành vi về sinh dục: Con vật không muốn gần con đực, không muốn cho con khác nhảy lên Con vật dần trở lại trạng thái bình thường

+ Giai đoạn yên tĩnh: Thể vàng teo dần đi con vật trở lại trạng thái bình thường Biểu hiện hành vi sinh dục không có Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để phục hồi lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng để chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo

 Thời điểm phối giống thích hợp

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [18], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 – 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 – 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sống hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ

3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực vào buổi chiều thì sáng sớm hôm sau phối Thường phối hai lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

Trang 21

- 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống

Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai

- Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn nái, vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu

kỳ thứ 2 hoặc thứ 3

Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu

- Tuổi đẻ lứa đầu

Sau khi thụ thai, lợn chửa trung bình là 114 ngày Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất tuổi đẻ lứa đầu thường 11 - 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003) [4]

2.2.1.3 Sinh lý chửa và đẻ

 Quá trình mang thai

Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành

Trang 22

14

bào thai Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterol trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì

ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterol giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì

ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [19] Trần Văn Phùng

và cs (2004) [13], thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 -

116 ngày), chia làm 2 thời kỳ:

- Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

- Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ

đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung mở, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời điểm đẻ: Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong; trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu; trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu và trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu

Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ

mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp xử lý

Trang 23

15

2.2.2 Sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

2.2.2.1 Sinh lý tiết sữa của lợn nái

Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản ứng tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con

thúc vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ

đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau cho sản lượng sữa khác nhau

Cần tách riêng lợn con để trước chờ đến khi cả đàn đẻ xong mới cho cả đàn vào bú, nhưng nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ

để lợn con có đủ kháng thể sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa  globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh

Khi bú, lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú mẹ của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó đột nhiên nằm im hoàn toàn và tiến hành

bú Sữa tiết ra thể hiện rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên mút theo đợt tiết sữa của lợn

mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần/ngày, mỗi lần bú 25 - 35 g/con Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc

21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

2.2.2.2 Sữa lợn mẹ

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống

Trang 24

16

của lợn con Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một lượng máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3%, cao hơn sữa thường (19,6%) Hàm lượng protein cũng cao hơn sữa thường (11,5% so với 6,8%), tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn sữa thường (Trần Văn Phùng và cs 2004 [13])

Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể  globulin và các chất khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các virus, vi khuẩn gây bệnh Lượng  globulin chiếm khoảng 50% tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ  globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng 24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2005 [16])

2.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

- Giống và cá thể

Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng suất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Móng Cái là 27,5 - 29,1 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg

Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa trong thời kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có

Trang 25

17

thể trạng trung bình Có thể tăng lượng thức ăn cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ để tăng khả năng tiết sữa, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được tăng thức ăn có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa

- Tuổi và lứa đẻ

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm đẻ thứ 5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con dễ bị còi cọc, chậm lớn; lợn nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con

Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, ổn định từ lứa 3 - 8, sau

đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào chưa phát dục hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú Còn ở lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng

Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8

- Số con đẻ ra/lứa

Nếu số lượng con đẻ ra/lứa cao thì sản lượng sữa/chu kỳ sẽ cao, song lượng sữa của một con bú được trong 8 tuần sẽ ít và ngược lại

- Nuôi dưỡng và chăm sóc

Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất lượng sữa vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kỳ tiết sữa đầu Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn

Trang 26

18

Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học của sữa Khi cho lợn nái ăn tăng khẩu phần ăn, sẽ làm tăng thành phần hóa học của sữa thông qua tăng quá trình trao đổi đến bầu

vú lợn mẹ Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp từ máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng các vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào

Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa của lợn nái Các động tác không thích hợp như đánh đuổi lợn, gây tiếng động mạnh trong khu vực chuồng nuôi lợn nái nuôi con đều gây ức chế quá trình tiết sữa của lợn nái Ngoài ra, nếu chăm sóc không chu đáo dễ gây cho lợn mẹ các bệnh như viêm vú từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sữa

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Trang 27

19

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,

Ca từ 0,9 - 1,0%, P từ 0,7% (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [19]

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con: ngày cắn ổ đẻ nên cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7, cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho heo ăn theo công thức tính: lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều), nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa

vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con

và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy

Trang 28

20

cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, cho lợn nái di chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con,

nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm có thể giúp khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa Đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 5 - 7 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa, bại liệt sau đẻ hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng

trao đổi 3100 kcal; protein 15%; canxi từ 0,9 - 1,0 %; photpho 0,7 %

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì

Trang 29

21

vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/ con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu

có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ ngày đêm: Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Trang 30

22

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có

ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích

hợp là 18 - 20°C, độ ẩm 70 - 75%

2.2.3.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh

được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vâṭ chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ giúp gia súc có cơ thể khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo

Trang 31

23

30 - 34oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không ẩm ướt Cần giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu mùa xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vaccine

Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Trang 32

24

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [7], vaccine là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay

mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch

2.2.3.3.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [7], nguyên tắc để điều trị bệnh là:

- Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,

dùng thuốc

- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế

lây lan

- Điều căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa cho những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Trang 33

- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc

tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây: + Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

Trang 34

26

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian

để phát huy tác dụng của kháng sinh

+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [14]

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [15], viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc từ đó gây ảnh hưởng sự tiết prostagladin F2 và làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

Theo kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động 36.57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc bệnh tập trung ở những lợn nái đẻ đầu đến lứa thứ 8, Nguyễn Văn Thanh (2007) [14]

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ 1 -

10 ngày

Trang 35

27

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [15], bệnh viêm tử cung có nhiều nguyên nhân gây ra như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng

Bệnh viêm tử cung trên lợn nái sinh sản nguyên nhân chủ yếu do vi

khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng toi (Trichomonas foetus) và do nấm Candida

albicans (Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài, 2002 [5])

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như

sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [14]: Khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt và tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật,

Trang 36

28

sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C; chiều 40 - 41°C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn.Tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo Lê Minh và cs (2017) [9], bệnh tiến triển tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, sự phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ nhờ + Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

20 ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002) [6]; Trần Thị Dân (2006) [3], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai: Khi tử cung bị viêm cấp

tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F 2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế

Ngày đăng: 12/04/2022, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Văn Thanh (2007), Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại với hội chứng tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị. Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại với hội chứng tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ (2016), Giáo trình bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Sử Thanh Long, Nguyễn Thị Mai Thơ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016
16. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
17. Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), “Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, XVII(7) tr. 72-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
18. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tuấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
20. Karst, Niklas Adrian (2019), “Infuence of mastitis metritis agalactia (MMA) on bone and fat metabolism”, Zurich Open Repository and Archive, University of Zurich Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infuence of mastitis metritis agalactia (MMA) on bone and fat metabolism
Tác giả: Karst, Niklas Adrian
Năm: 2019
22. Shrestha, A. (2012), Mastitis, Metritis and Agalactia in sows, <http://www.slideshare.net>, [Ngày truy cập 14/03/2021] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mastitis, Metritis and Agalactia in sows
Tác giả: Shrestha, A
Năm: 2012
23. Muirhead M. and Alexander T. (2010), Reproductive system, managing Pig health and the treatment of disease, http://www.thepigstie.com Link
24. Nguyễn Thị Liên Hương. (2015), Kỹ thuật phát hiện lợn nái động dục và phối giống, http://khuyennongvn.gov.vn Link
19. Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thuý Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường (2017), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu nước ngoài Khác
21. L. ŠČUKA et al (2006), “Therapeutic Effects of Enrofloxacin in Mastitis- metritis-agalactia Syndrome: A Review, ACTA VET.III. Tài liệu internet Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w