SỞ Y TẾ HÀ TĨNH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT BỆNH TẬT BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ SỐ 3 TỔNG QUAN CÁC MÔ HÌNH PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Hà Tĩnh – 2020 SỞ Y TẾ HÀ TĨNH TRUNG TÂM KIỂM SOÁT[.]
PHƯƠNG PHÁP
Để thực hiện chuyên đề, chúng tôi tiến hành tìm kiếm y văn thông qua các công cụ:
PubMed là cơ sở dữ liệu y khoa uy tín, được quản lý bởi Trung tâm Quốc gia về Thông tin Công nghệ sinh học (NCBI) của thư viện Quốc gia Hoa Kỳ, với hơn 16 triệu bài báo khoa học và 4000 tạp chí y sinh học từ 70 quốc gia Từ năm 1950, PubMed đã trở thành nguồn tài liệu đáng tin cậy cho việc tìm kiếm y văn, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến bệnh sốt xuất huyết Dengue và các mô hình phòng chống bệnh này Chuyên đề này tập trung vào các y văn về mô hình phòng chống bệnh SXHD đã được áp dụng trên toàn cầu.
Để tìm kiếm y văn liên quan đến phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam, bạn nên tham khảo các bài báo từ các tạp chí uy tín như Tạp chí y học dự phòng, Tạp chí Y tế công cộng và Tạp chí Y học thực chứng Ngoài ra, hãy xem xét các mô hình phòng chống bệnh đã được áp dụng tại các tỉnh Sử dụng từ khóa "Mô hình phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam" để tìm kiếm thông tin chính xác và có giá trị.
Bài nghiên cứu sẽ tập trung vào 4 nguồn gốc rõ ràng và chính xác Thông tin về các mô hình phòng chống SXHD tại Hà Tĩnh sẽ được thu thập từ Khoa Phòng chống bệnh truyền nhiễm thuộc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
Tổng quan về bệnh Sốt xuất huyết Dengue
3.1.1 Đ ẶC ĐIỂM BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT D ENGUE
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây ra, với 4 typ huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 Bệnh lây truyền từ người bệnh sang người lành qua muỗi đốt, trong đó muỗi Ae aegypti là loài côn trùng trung gian chính.
Bệnh sốt xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt gia tăng vào mùa mưa, ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn Triệu chứng chính bao gồm sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu và suy tạng Nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời, bệnh có thể gây tử vong.
Thời gian ủ bệnh của virus Dengue dao động từ 3 đến 14 ngày, trung bình là 5 đến 7 ngày Bệnh nhân có khả năng lây nhiễm trong giai đoạn sốt, đặc biệt là 5 ngày đầu khi nồng độ virus trong máu cao Muỗi nhiễm virus có thể truyền bệnh từ 8 đến 12 ngày sau khi hút máu và có khả năng lây bệnh suốt đời Tất cả mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có nguy cơ mắc bệnh Sau khi hồi phục, bệnh nhân sẽ có miễn dịch suốt đời với tuýp virus Dengue đã gây bệnh, nhưng không có miễn dịch bảo vệ chéo với các tuýp khác Nếu mắc bệnh lần thứ hai với tuýp virus khác, bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng nặng hơn và dễ bị sốc Dengue.
Bệnh được xác định qua xét nghiệm máu bằng các phương pháp như nuôi cấy phân lập, xét nghiệm sinh học phân tử, xét nghiệm Mac-Elisa và test nhanh.
3.1.2 Đ ẶC ĐIỂM MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT D ENGUE
Muỗi là vật trung gian truyền bệnh SXHD Có 2 loại muỗi truyền bệnh: muỗi
Ae aegypti và muỗi Ae albopictus (gọi chung hai loại này là muỗi vằn), trong đó Ae Aegypti là véc tơ chủ yếu [2]
Muỗi Ae aegypti có màu đen với các vằn trắng trên thân và chân, đặc trưng bởi hai đường vẩy trắng trên lưng và ngực Chúng hút máu vào ban ngày, chủ yếu vào sáng sớm và chiều tối, thích trú ẩn ở những nơi ẩm ướt như quần áo và rèm cửa, đặc biệt là trên các loại vải tối màu Muỗi thường đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước sạch trong và xung quanh nhà Trong khi đó, muỗi Ae albopictus cũng có màu đen với vằn trắng, nhưng chỉ có một đường vẩy trắng ở giữa lưng Chúng hút máu cả người và động vật vào ban ngày, thường đẻ trứng ở các dụng cụ chứa nước bên ngoài và trú ẩn trong các lùm cây, bụi cỏ.
Muỗi vằn thường đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước sạch, không đẻ ở ao tù hay nước thải giàu chất hữu cơ Trứng muỗi bám vào thành chum vại và có thể tồn tại đến 6 tháng Khi có nước, trứng phát triển thành lăng quăng (bọ gậy) và sau đó hình thành muỗi.
Các ổ lăng quăng (bọ gậy) thường gặp ở trong nhà:
- Bát nước kế chân chạn, tủ đựng thức ăn
- Khay nước tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ
- Bể/ bồn chứa nước trong buồng tắm
- Bể/ bồn chứa nước không có nắp đậy
- Bể nước nhà vệ sinh không có nắp đậy
- Các vật chứa nước khác
- Các vật có thể chứa nước
Các ổ lăng quăng (bọ gậy) thường gặp ở ngoài nhà:
- Bể, chum/lu, vại/khạp chứa nước không có nắp đậy thật kín
- Bể cảnh, chậu cây bonsai
- Mảnh bát, ly, cốc, chum, vại vỡ
- Máng nước cho gia cầm và chim uống
- Máng dẫn nước bị tắc nghẽn hoặc hỏng
- Thuyền đánh cá, cano, xuồng, ghe
- Bát/chén hứng mũ cao su
- Hốc cây, hốc tre, nứa, các kẽ lá (dừa, chuối)
- Các đồ vật nhân tạo muỗi có thể đẻ
Trong điều kiện lý tưởng, muỗi trưởng thành phát triển từ trứng trong khoảng 10 đến 14 ngày, với thời gian tối thiểu là 1 tuần Tuổi thọ trung bình của muỗi là khoảng 1 tháng, và muỗi cái có khả năng đẻ trứng từ 4 đến 5 lần trong suốt vòng đời của chúng.
Giám sát véc tơ là cần thiết để xác định nguồn sinh sản chính của muỗi truyền bệnh, theo dõi sự biến động của véc tơ, đánh giá tính nhạy cảm của chúng với hóa chất diệt côn trùng, và kiểm tra hiệu quả các hoạt động phòng chống véc tơ trong cộng đồng Các điểm giám sát được chọn tại các xã, phường trọng điểm và hai điểm đối chứng không thuộc các xã, phường này.
Giám sát muỗi trưởng thành được thực hiện bằng cách soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Việc soi bắt muỗi cái trên quần áo, chăn màn và các đồ vật trong nhà diễn ra vào ban ngày, mỗi nhà được soi trong 15 phút Mỗi điểm điều tra bao gồm 50 nhà và được thực hiện 1 lần mỗi tháng.
Sử dụng 2 chỉ số dưới đây để giám sát muỗi Ae.aegypty, Ae.albopitus (tính theo từng loài)
- Chỉ số mật độ (CSMĐ) muỗi là số muỗi cái Aedes trung bình trong một gia đình điều tra
- Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) là tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Aedes trường thành
𝑆ố 𝑛ℎà đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 x 100 b) Giám sát lăng quăng/bọ gậy
Giám sát thường xuyên là cần thiết, với tần suất 1 tháng 1 lần, kết hợp với việc theo dõi muỗi trưởng thành Sau khi bắt được muỗi, cần tiến hành điều tra lăng quăng/bọ gậy thông qua việc quan sát, thu thập, ghi nhận và phân loại tại tất cả các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà.
Giám sát lăng quăng/bọ gậy Aedes là phương pháp quan trọng nhằm đếm số lượng lăng quăng/bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước khác nhau Phương pháp này giúp xác định nguồn phát sinh và độ tập trung của lăng quăng/bọ gậy theo mùa hoặc theo từng giai đoạn Từ đó, các biện pháp tuyên truyền và phòng chống véc tơ có thể được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với từng địa phương.
Việc xác định ổ lăng quăng/bọ gậy sẽ được thực hiện theo từng tỉnh, với kế hoạch điều tra tại các xã điểm 2 lần mỗi năm Mỗi lần điều tra sẽ khảo sát 100 hộ gia đình, phân bố tại các xã, phường trọng điểm, với lần đầu diễn ra vào quý I-II và lần thứ hai vào quý III-IV.
Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi lăng quăng/bọ gậy của muỗi Ae aegypti và Ae albopitus (tính theo từng loài): a) Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy (CSNBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy
𝑆ố 𝑛ℎà đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 𝑥 100 b) Chỉ số dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có lăng quăng/bọ gậy Aedes:
𝑆ố 𝐷𝐶𝐶𝑁 đ𝑖ề𝑢 𝑡𝑟𝑎 𝑥 100 c) Chỉ số Breteau (BI) là số DCCN có lăng quăng/bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra Tối thiểu điều tra 30 nhà, vì vậy BI được tính như sau:
Chỉ số mật độ lăng quăng/bọ gậy (CSMĐBG) được tính bằng số lượng lăng quăng/bọ gậy trung bình cho mỗi nhà điều tra CSMĐBG chỉ áp dụng trong quá trình điều tra ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn.
Trong quá trình giám sát véc tơ như muỗi và lăng quăng/bọ gậy, chỉ số mật độ muỗi cao (0,5 con/nhà) hoặc chỉ số Breteau (BI) đạt 30 được coi là yếu tố nguy cơ cao.
Riêng khu vực miền Bắc chỉ số mật độ muỗi cao (0,5 còn/nhà) hoặc chỉ số BI
20 là yếu tố nguy cơ cao [1]
Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Hàng năm, trên thế giới ước tính có ít nhất 100 triệu trường hợp mắc SXHD,
Mỗi năm, có khoảng 500.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết (SXHD) cần phải nhập viện, trong đó 90% là trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ tử vong trung bình do SXHD dao động từ 3-5%, tương đương với khoảng 25.000 người Thống kê này đã được ghi nhận từ năm 1975.
Năm 1995, SXHD đã bùng phát tại 102 quốc gia thuộc năm khu vực của Tổ chức Y tế Thế giới, bao gồm 20 quốc gia châu Phi, 42 quốc gia châu Mỹ, 7 quốc gia Đông Nam Á, 4 quốc gia phía Đông Địa Trung Hải và 29 quốc gia trong khu vực Tây Thái Bình Dương.
Brazil đứng đầu trong số 30 quốc gia có số ca mắc sốt xuất huyết (SXHD) cao nhất thế giới, với trung bình 447.466 ca trong giai đoạn 2004-2010 Indonesia theo sau với 129.435 ca, trong khi Việt Nam xếp thứ ba với 91.321 ca mắc Các quốc gia khác có số ca mắc cao chủ yếu nằm ở khu vực Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Thái Bình Dương.
Tại Đông Nam Á, trong số 2,5 tỷ người có nguy cơ nhiễm sốt xuất huyết (SXHD), có 1,3 tỷ người sống ở 10 quốc gia trong khu vực Kể từ năm 2000, dịch SXHD đã lan rộng nhanh chóng trên toàn khu vực.
Vào năm 2003, có 8 quốc gia ghi nhận dịch sốt xuất huyết (SXHD) bao gồm Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Timor - Leste Năm 2004, Bhutan báo cáo trường hợp SXHD đầu tiên, và Nepal cũng xuất hiện ca bệnh đầu tiên vào tháng 11/2006 Hàn Quốc là quốc gia duy nhất ở khu vực Đông Bắc Á không có dịch SXHD Các nước trong khu vực nhiệt đới gió mùa và xích đạo như Indonesia, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Timor - Leste coi dịch SXHD là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng.
Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
Từ năm 1913, bệnh Dengue cổ điển đã được Gaide ghi nhận tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam Đến năm 1929, Boyé đã viết về một vụ dịch Dengue cổ điển, cho thấy sự quan tâm và nghiên cứu về căn bệnh này trong lịch sử y tế của đất nước.
Vào năm 1958, Chu Văn Tường và cộng sự đã thông báo về một vụ dịch nhỏ sốt xuất huyết tại Hà Nội dựa trên dữ liệu từ bệnh nhi ở bệnh viện Bạch Mai Đến tháng 8 năm 1963, dịch sốt xuất huyết bùng phát ở đồng bằng sông Cửu Long với 331 ca bệnh, trong đó có 116 trẻ em tử vong Trong vụ dịch này, Halstead và cộng sự đã phân lập được virus D2 Sau đó, một vụ dịch sốt Dengue lớn đã xảy ra ở 19 tỉnh, thành phố miền Bắc.
1969 Từ năm 1970 đến năm 1974, dịch xảy ra lẻ tẻ ở một số địa điểm trong nội thành
Hà Nội ghi nhận hàng trăm bệnh nhân phải nhập viện điều trị, trong khi dịch bệnh đã lan ra nhiều thành phố, thị xã, thị trấn và cả vùng nông thôn Hiện nay, số ca mắc bệnh tăng dần và mở rộng ra toàn quốc, từ các thành phố đông dân đến các thị trấn nông thôn, với khoảng cách thời gian giữa các đợt dịch ngày càng rút ngắn.
Mặc dù chương trình kiểm soát sốt xuất huyết Dengue quốc gia đã có từ năm
Vào năm 1998, sốt Dengue vẫn là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng tại Việt Nam, với sốt xuất huyết và sốt xuất huyết Dengue là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhập viện, chiếm tỷ lệ cao.
Từ năm 1991 đến 2004, Việt Nam đã ghi nhận 1.000.866 trường hợp sốt Dengue, với tỷ lệ cao nhất ở Tây Thái Bình Dương Dịch bệnh này bùng nổ theo chu kỳ khoảng 4 - 5 năm, với đỉnh điểm vào năm 1998 khi có 234.920 ca mắc và 377 ca tử vong, và năm 2010 ghi nhận 128.710 ca mắc cùng 109 ca tử vong Từ 2011 đến 2013, số ca mắc và tử vong giảm do miễn dịch cộng đồng sau dịch năm 2010 Tuy nhiên, gần đây, số ca mắc tại các tỉnh Bắc bộ, đặc biệt là Hà Nội, đã gia tăng nhanh chóng, trở thành điểm nóng của dịch sốt xuất huyết miền Bắc Năm 2013, khu vực Miền Bắc chỉ ghi nhận một số ổ dịch nhỏ, phân bố rải rác tại Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Ninh.
Việc kiểm soát và ứng phó kịp thời với sốt xuất huyết là rất quan trọng do sự phức tạp và lan rộng của bệnh dịch trên toàn quốc Nghiên cứu quy luật và dự đoán mô hình bệnh tật sẽ giúp giảm gánh nặng về sức khỏe và kinh tế.
Tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Hà Tĩnh
Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng năm 2015 và các nghiên cứu về dịch tễ học bệnh SXHD tại Việt Nam, có nhiều thông tin quan trọng về tình hình bệnh truyền nhiễm này.
Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có nguy cơ cao mắc sốt xuất huyết (SXHD) Bệnh thường bùng phát từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, với đỉnh điểm phát triển mạnh mẽ vào tháng 6 và tháng 7.
10 và đỉnh cao vào tháng 7, 8 và 9 [4]
Theo báo cáo của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương (2011), năm 1998, Hà Tĩnh ghi nhận vụ dịch lớn nhất với 13.200 ca mắc và 13 ca tử vong, tỷ lệ mắc đạt 1.036/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,98% Đến năm 2010, dịch SXHD lại bùng phát.
Các phương pháp phòng chống bệnh SXHD tại Việt Nam và trên thế giới
Trong thời gian gần đây, dịch SXHD đã có diễn biến phức tạp với 933 ca mắc tại 11/12 huyện, thị xã, thành phố và 72/262 xã, phường, với tỷ lệ mắc lên tới 71,88/100.000 dân, gấp 7,46 lần so với giai đoạn 10 năm trước Dịch bệnh này phân bố không đều, chủ yếu xảy ra ở vùng đồng bằng ven biển, trong khi các huyện miền núi ít ghi nhận ổ dịch.
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh (2017), năm 2017, ghi nhận
Tính đến ngày 13/13, toàn tỉnh ghi nhận 194 ca sốt xuất huyết (SXHD) tại 13 huyện, thị xã, thành phố Trong đó, có 4 ổ dịch đáng chú ý tại xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà (48 ca); xã Kỳ Phong, huyện Kỳ Anh (13 ca); xã Thạch Long, huyện Thạch Hà (17 ca); và xã Kỳ Long, thị xã Kỳ Anh (13 ca) Hoạt động giám sát dịch tễ học cho thấy 95% hộ gia đình có bệnh nhân SXHD phát hiện sự hiện diện của muỗi Ae albopictus, trong khi chỉ 4% hộ phát hiện muỗi Ae aegypti.
Năm 2018, tỉnh ghi nhận 27 ca mắc sốt xuất huyết (SXHD) tại 10/13 huyện, thị, giảm 86% so với cùng kỳ năm 2017 Kết quả giám sát véc tơ truyền bệnh cho thấy chỉ số BI trung bình tại tỉnh là 10%, với chỉ số BI và DI cao nhất được ghi nhận vào các tháng 7, 8, 9 và 10 năm 2018.
3.5 Các phương pháp phòng chống bệnh Sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam và trên thế giới
Bệnh sốt xuất huyết dengue do 4 típ huyết thanh DENV1 - 4 gây ra, vì vậy việc phát triển một vắc xin an toàn, hiệu quả và chi phí hợp lý cho cả 4 típ DENV là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh Vắc xin này sẽ giúp đạt được mục tiêu của WHO là giảm ít nhất 25% ca bệnh và 50% tử vong do sốt xuất huyết vào năm 2020 Vắc xin SXH Dengvaxia® (CYD-TDV) do Hãng Sanofi Pasteur nghiên cứu và sản xuất đã được cấp phép, bên cạnh đó còn có khoảng 5 loại vắc xin khác đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, trong đó 2 loại từ Hãng Butantan và Takeda dự kiến sẽ bắt đầu thử nghiệm giai đoạn 3 vào đầu năm 2016.
Vắc xin Dengvaxia do Sanofi Pasteur sản xuất là vắc xin ngừa sốt xuất huyết Dengue đầu tiên trên thế giới, được đăng ký tại Mexico vào tháng 12 năm 2015 Đây là vắc xin tứ giá tái tổ hợp, được tiêm 3 mũi theo lịch 0/6/12 tháng trong các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III Vắc xin này được khuyến cáo sử dụng cho người từ 9 đến 45 tuổi sống ở các vùng có dịch lưu hành.
Nhóm chuyên gia cố vấn chiến lược về tiêm chủng của Tổ chức Y tế Thế giới (SAGE) đã tổ chức cuộc họp từ ngày 12 đến 14 tháng 4 năm 2016 tại Thụy Sỹ để xem xét các vấn đề liên quan đến tiêm chủng.
13 nhóm đã đưa ra khuyến cáo các nước cân nhắc đưa vắc xin này vào chương trình tiêm chủng ở những khu vực dịch lưu hành cao
Dengvaxia đã được thử nghiệm giai đoạn III tại 5 nước Châu Á và 5 nước Mỹ
Vắc xin được thử nghiệm tại Châu Á cho trẻ từ 2 đến 14 tuổi và tại Châu Mỹ La tinh cho trẻ từ 9 đến 16 tuổi, cho thấy hiệu lực bảo vệ đạt 65.6% trong 25 tháng đầu tiên sau khi tiêm mũi đầu tiên ở nhóm tuổi 9-16, với hiệu quả cao hơn đối với týp DENV3 và DENV4, đặc biệt ở trẻ lớn hơn Vắc xin cũng giúp giảm tỷ lệ nhập viện và các ca bệnh nặng, đồng thời mang lại hiệu lực bảo vệ cao hơn cho những trẻ đã từng mắc sốt xuất huyết Tuy nhiên, có sự gia tăng đáng kể số ca sốt xuất huyết nhập viện ở nhóm 2-5 tuổi trong năm thứ 3 sau tiêm, mặc dù sau đó giảm dần trong năm thứ 4 và thứ 5 Cơ chế sinh học của hiện tượng này vẫn chưa được làm rõ, nhưng không có dấu hiệu cảnh báo an toàn nào khác được ghi nhận.
Dựa trên phương pháp mô hình toán so sánh, SAGE đã đánh giá tác động của Dengvaxia đối với sức khỏe cộng đồng ở 7 nhóm tuổi khác nhau Các mô hình cho thấy việc đưa Dengvaxia vào tiêm chủng thường xuyên cho đối tượng vị thành niên tại các khu vực có nguy cơ lây lan bệnh cao có thể giảm số ca sốt xuất huyết nhập viện từ 10 đến 30% trong 30 năm, cho thấy lợi ích đáng kể của vắc xin Tuy nhiên, trong các bối cảnh ít nguy cơ, lợi ích này lại thấp hơn.
SAGE khuyến cáo rằng việc tiêm vắc xin Dengvaxia chỉ nên được thực hiện ở các khu vực có tỷ lệ nhiễm huyết thanh cao, khoảng 70% hoặc hơn ở nhóm tuổi mục tiêu Vắc xin không được khuyến nghị ở những nơi có tỷ lệ nhiễm thấp hơn 50% Việc sử dụng vắc xin cần nằm trong chiến lược phòng chống sốt xuất huyết tổng thể, bao gồm truyền thông, kiểm soát vector và giám sát Cần đánh giá kỹ lưỡng ở cấp quốc gia, xem xét các yếu tố như ưu tiên sức khỏe, tình hình dịch tễ và hiệu quả chi phí Tổ chức Y tế Thế giới và các đối tác cần cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia trước và sau khi đăng ký vắc xin Dengvaxia được tiêm dưới dạng 3 mũi.
Cần có thêm bằng chứng để xác định liệu lịch tiêm đơn giản hơn có thể mang lại hiệu quả bảo vệ tương đương hoặc tốt hơn so với lịch tiêm 14 tháng một lần Để giám sát vắc xin hiệu quả, các quốc gia cần thiết lập hệ thống theo dõi vắc xin Do sự gia tăng số ca sốt xuất huyết nhập viện và số ca nặng ở trẻ từ 2 đến 5 tuổi, vắc xin này không được khuyến cáo cho trẻ em dưới 9 tuổi, điều này đã được ghi rõ trên nhãn vắc xin.
Phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue chủ yếu là phòng chống véc tơ truyền b ệnh
Mô hình phòng chống dịch được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn phòng chống chủ động trước khi dịch xảy ra và giai đoạn xử lý ổ dịch khi dịch đã bùng phát Giai đoạn phòng chống chủ động là giai đoạn quan trọng nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của dịch bệnh.
Phòng chống dịch bệnh trước khi bùng phát là việc ngăn chặn muỗi véc tơ truyền bệnh như Ae aegypti và Ae albopictus Tại Việt Nam, nhiều biện pháp đang được triển khai nhằm giảm quần thể muỗi xuống mức tối thiểu, từ đó hạn chế khả năng lây lan của các tác nhân gây bệnh, bao gồm virus sốt xuất huyết (SXHD).
* Giảm quần thể mật độ muỗi truyền bệnh
➢ Hoạt động diệt lăng quăng/bọ gậy tại cộng đồng
- Điều tra xác định ổ lăng quăng/bọ gậy nguồn tại địa phương và biện pháp xử lý thích hợp cho từng chủng loại ổ bọ gậy
Tổ chức các hoạt động diệt lăng quăng/bọ gậy thường xuyên tại từng hộ gia đình thông qua cộng tác viên y tế, học sinh và các tổ chức quần chúng Các biện pháp bao gồm sử dụng hóa chất diệt ấu trùng muỗi, thả cá, Mesocyclops, đậy nắp và loại bỏ vật dụng phế thải Hoạt động này được thực hiện hàng tuần tại khu vực có ổ dịch và duy trì 2 tuần/lần trong các tháng cao điểm từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm.
Phun chủ động hóa chất diệt muỗi là biện pháp cần thiết tại những vùng có nguy cơ cao, nơi có nhiều ca bệnh trong nhiều năm liên tiếp và chỉ số mật độ muỗi đạt ≥ 0,5 con/nhà hoặc chỉ số BI ≥ 30 Đặc biệt, tại khu vực miền Bắc, chỉ số bọ gậy BI cần đạt ≥ 20 để đảm bảo hiệu quả phòng chống dịch bệnh.
- Tổng hợp kết quả và báo cáo cho tuyến trên theo quy định
Huy động sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động phòng chống véc tơ SXHD cần được điều chỉnh theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương Dưới đây là một số hướng dẫn và thực hành lựa chọn để thực hiện hiệu quả các hoạt động này tại địa phương.
* Giảm nguồn sinh sản của véc tơ
Một số mô hình phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã triển khai và nghiên cứu các mô hình phòng chống véc tơ Sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, các mô hình này đã gặp phải những thành công, thất bại và triển vọng khác nhau Để lựa chọn mô hình phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của từng quốc gia và địa phương, cần tiếp tục thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp.
Vào nửa đầu thế kỷ XX, chương trình phòng chống muỗi Ae aegypti ở Cuba đã thành công nhờ vào sự phối hợp liên ngành và các hoạt động truyền thông, giáo dục Biện pháp loại trừ bọ gậy DCPT xung quanh nhà và vệ sinh môi trường với sự tham gia của cộng đồng đã giúp nâng cao kiến thức của người dân về bệnh sốt xuất huyết Kết quả cho thấy, sau một năm can thiệp, tỷ lệ nhà có muỗi giảm từ 3,72% xuống 0,61%, trong khi điểm đối chứng không có sự thay đổi.
Vào năm 2011 tại Mexico, một chương trình kiểm soát muỗi Aedes aegypti đã được triển khai, kết hợp giữa truyền thông, giáo dục và phun malathion nhằm giảm sinh sản của muỗi Trong nghiên cứu, 187 hộ gia đình đã được chọn ngẫu nhiên để thực hiện điều tra KAP và chỉ số côn trùng trước và sau can thiệp, trong đó có 47 hộ gia đình chỉ áp dụng truyền thông và 46 hộ chỉ thực hiện phun Malathion.
Trong một nghiên cứu, 49 nhà đã áp dụng cả hai phương pháp can thiệp, trong khi 45 nhà không thực hiện can thiệp nào Sau 6 tháng can thiệp, kết quả cho thấy chiến dịch truyền thông giáo dục đã giúp giảm số lượng nơi sinh sản.
22 của muỗi Aedes aegypti hơn việc sử dụng hoá chất [28]
Nghiên cứu tại Thái Lan đã được thực hiện ở ba huyện miền Nam có tỷ lệ mắc sốt xuất huyết (SXHD) cao Mô hình phòng chống tại Ban Kang có sự tham gia của lãnh đạo chính quyền và tình nguyện viên cộng đồng, với hoạt động giám sát và tuyên truyền hàng tuần, tập trung vào các khu vực có nguy cơ cao như nơi muỗi Aedes aegypti đẻ trứng Kết quả cho thấy nhóm có lãnh đạo có chỉ số côn trùng thấp và không ghi nhận ca SXHD, trong khi nhóm không có lãnh đạo có chỉ số côn trùng cao và có ca mắc SXHD, nhưng không có ca tử vong.
Tại Puerto Rico, SXHD là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, với nhiều biện pháp truyền thông như thông báo trên truyền hình, áp phích và chương trình giáo dục tại các trường tiểu học và mầm non nhằm nâng cao nhận thức về SXHD Sau một thời gian, khảo sát cho thấy kiến thức về SXHD đã được cải thiện, hành vi của cộng đồng có sự thay đổi tích cực và chỉ số côn trùng giảm Tuy nhiên, cần chú trọng hơn vào việc phát triển kỹ năng cộng đồng để giảm nơi sinh sản của muỗi, từ đó nâng cao hiệu quả của chương trình.
Tại Malaysia, mô hình phòng chống muỗi Ae aegypti được triển khai dựa vào sự tham gia của cộng đồng và các ban ngành, bao gồm cả nhà nước và tư nhân Mô hình này không chỉ tập trung vào việc kiểm tra, phát hiện và xử lý các dụng cụ chứa nước sinh hoạt có bọ gậy, mà còn tổ chức các chiến dịch phá hủy ổ bọ gậy xung quanh nhà thông qua các đội tình nguyện viên giám sát và tiêu diệt ổ bọ gậy tại các khu vực công cộng Bên cạnh đó, các chương trình giáo dục cũng được thực hiện nhằm thay đổi hành vi của cộng đồng Kết quả của mô hình này đã dẫn đến sự giảm đáng kể các chỉ số véc tơ và nhận được sự hưởng ứng tích cực từ cộng đồng.
- Tại Taiwan: Nghiên cứu từ năm 1989-1996 tại làng Liu-Chiu, Ping- Tung
Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng cá thả tại các DCCN sinh hoạt và cải thiện hệ thống tưới rau đã giúp loại bỏ các DCCN không sử dụng và lốp xe cũ, đồng thời nâng cao chất lượng cung cấp nước tại hộ gia đình Đến năm 1996, chỉ số BI đã giảm xuống còn 1,2 so với 53,9 vào năm 1989 Sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng đã dẫn đến sự gần như tiệt chủng của muỗi Aedes aegypti tại 4 thôn ở phía Tây Nam và giữa các hòn đảo.
Tại Campuchia, các sáng kiến đã được triển khai để giảm sự sinh sản và phát triển của muỗi Ae aegypti, nhằm giảm tỷ lệ mắc sốt xuất huyết (SXHD) Ở tỉnh Kandai (1999), người dân ưa chuộng nắp lu vại bằng xi măng vì tính kinh tế, độ bền và khả năng ngăn bụi, ánh sáng, cũng như hạn chế rêu Ngược lại, tại Kirivong (2000), nắp đậy ít được sử dụng do người dân cho rằng nắp xi măng cồng kềnh và khó sử dụng cho trẻ em, trong khi nắp kim loại dễ bị mất cắp và trẻ em thường lấy làm đồ chơi Để cải thiện tình hình, 19 loại nắp đậy đã được thiết kế từ nhiều vật liệu khác nhau dựa trên ý kiến cộng đồng, cho thấy rằng việc can thiệp thành công cần phải mở rộng tiếp xúc với cộng đồng.
Việc áp dụng tác nhân sinh học, vệ sinh môi trường và sự tham gia của cộng đồng trong công tác phòng chống SXHD đã được nghiên cứu và thực hiện thành công tại Mexico, Malaysia, Cambodia và khu vực Tây Thái Bình Dương.
Các mô hình phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam
3.7.1 M Ô HÌNH SỬ DỤNG TÁC NHÂN SINH HỌC SỬ DỤNG VI KHUẨN TRONG PHÒNG CHỐNG SXHD a) Sử dụng Bacillus
Việc sử dụng vi khuẩn như Bacillus thuringiensis và Bacillus sphaericus trong phòng chống vectơ dựa trên độc tố và bào từ mà chúng sinh ra B thuringiensis, đặc biệt là các dạng B thuringiensis và B israelensis, cho thấy hiệu quả cao trong việc kiểm soát muỗi và Simulidae Độc tính của chúng đến từ các protein độc hình thành tinh thể sau khi bọ gậy nuốt phải bào từ Những tinh thể này tác động vào tế bào ruột bọ gậy, gây thoái hóa và phá hủy tế bào, dẫn đến cái chết của bọ gậy.
Việc sử dụng vi khuẩn trong môi trường lỏng hoặc rắn vô trùng có thể gặp khó khăn do hiện tượng lắng đọng vi khuẩn, làm giảm hiệu quả Để đảm bảo chất lượng, cần thực hiện kiểm tra nghiêm ngặt và hiệu chỉnh các tiêu chuẩn cho sản phẩm chứa tác nhân sinh học Tính thích hợp của tập tính và đặc điểm sinh học của vectơ và thiên địch là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả phòng chống lâu dài Việc đưa nhân tố mới vào hệ thống sinh học tự nhiên thường gặp khó khăn, vì tác nhân sinh học thường tìm kiếm sự cân bằng với đối tượng tiêu diệt Nghiên cứu gần đây về protein độc tố nhằm cải thiện hiệu lực diệt côn trùng và khả năng tồn tại trong môi trường đã cho thấy tiềm năng của B thuringiensis và B sphaericus trong phòng chống vectơ truyền bệnh, đặc biệt là muỗi.
Vi khuẩn Wolbachia đang được thử nghiệm như một giải pháp tiềm năng để phòng chống sốt xuất huyết (SXHD) trong tương lai gần Phương pháp này sử dụng Wolbachia, một loại vi khuẩn tự nhiên có mặt ở khoảng 60% các loài côn trùng, để ức chế sự nhân lên của vi-rút Dengue và Zika trong muỗi vằn Điều này giúp giảm khả năng truyền vi-rút từ muỗi sang người Quan trọng là phương pháp này không phải là biến đổi gen, vì muỗi vằn mang Wolbachia được sinh sản tự nhiên và không gây ảnh hưởng đến môi trường hay sức khỏe con người Hệ thống gen của muỗi vằn hoàn toàn không bị can thiệp trong quá trình này.
Chương trình Loại trừ sốt xuất huyết toàn cầu nhằm phát triển phương pháp ứng dụng muỗi mang Wolbachia để kiểm soát bệnh sốt xuất huyết và các bệnh do muỗi truyền, hướng đến giải pháp lâu dài và tiết kiệm chi phí cho nhà nước và người dân Đây là một chương trình hợp tác nghiên cứu sức khoẻ toàn cầu không vì lợi nhuận, do Đại học Monash (Australia) chủ trì, với sự tham gia của nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan chuyên môn trên toàn thế giới Phương pháp Wolbachia đã được nghiên cứu và triển khai tại Australia, Việt Nam, Indonesia, Brazil, Colombia và đang mở rộng sang các quốc gia khác Tại đảo Trí Nguyên, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam, muỗi vằn mang vi khuẩn Wolbachia đã tự duy trì và truyền vi khuẩn này cho các thế hệ muỗi sau qua con đường sinh sản tự nhiên, cho thấy tiềm năng phòng bệnh sốt xuất huyết.
Ngoài việc sử dụng vi khuẩn và cá ăn bọ gậy muỗi để phòng chống bệnh sốt xuất huyết, các nhà khoa học khuyến cáo nên thả loài giáp xác Mesocyclops vào nước để tiêu diệt bọ gậy muỗi.
Mesocyclops là một loài giáp xác nhỏ sống trong các thủy vực khác nhau và có sự phân bố rộng rãi trên toàn cầu Nhiều quốc gia như Úc, Honduras, Brazil, Mexico và Lào đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng loài giáp xác này.
Mesocyclops là một giải pháp hiệu quả trong việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết nhờ khả năng tiêu diệt bọ gậy muỗi Aedes aegypti tại các thủy vực Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy biện pháp bền vững nhất để ngăn ngừa bệnh sốt xuất huyết là giảm nguồn sinh sản của muỗi, trong đó việc sử dụng biện pháp sinh học để kiểm soát bọ gậy là rất quan trọng Loài giáp xác này, thường được gọi là tôm bậc thấp, đã chứng minh hiệu quả cao trong việc tiêu diệt bọ gậy muỗi, không chỉ bằng cách ăn mà còn bằng cách cắn, góp phần quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh.
Việc sử dụng giáp xác Mesocyclops để phòng chống sốt xuất huyết mang lại nhiều lợi ích Chúng có khả năng tiêu diệt bọ gậy muỗi hiệu quả, dễ dàng sinh sản và tồn tại trong tự nhiên Mesocyclops có thể được tìm thấy trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt, dễ thu thập và nhân nuôi Chúng không độc hại cho con người và động vật, không gây ô nhiễm môi trường, và chi phí sử dụng thấp Hơn nữa, cộng đồng dễ dàng chấp nhận phương pháp này vì không cần chi phí cho thức ăn, và thiết bị bảo quản cũng rất đơn giản.
Mesocyclops, hay còn gọi là giáp xác chân chèo, thuộc họ Cyclopidae, là nhóm động vật nổi chiếm ưu thế trong các thủy vực nội địa Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện 11 loài thuộc các giống như Eucyclops, Paracyclops, Ectocyclops, Mesocyclops, Thermocyclops và Microcyclops.
Việc ứng dụng loài giáp xác Mesocyclops để tiêu diệt bọ gậy muỗi gây bệnh sốt xuất huyết đã được nghiên cứu và triển khai tại Việt Nam từ năm 1993, bắt đầu từ các tỉnh miền Bắc và sau đó mở rộng ra miền Trung và miền Nam Các nhà khoa học đã tiến hành khảo sát ở 26 tỉnh thành và thu thập được loài giáp xác này.
Mesocyclops là một nhóm sinh vật sống trong các thủy vực, với 9 loài được xác định có khả năng tiêu diệt bọ gậy muỗi Aedes aegypti, loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết Trong số đó, Mesocyclops woutersi là một trong những loài quan trọng.
Mesocyclops aspericornis, Mesocyclops affinis, Mesocyclops ogunnus, Mesocyclops ruttneri, Mesocyclops yenae, Mesocyclops thermocyclopoides, Mesocyclops disimilis, and Mesocyclops pehpeiensis are notable species of copepods A study observed that under normal laboratory conditions, the Mesocyclops copepod can consume up to 9 mosquito larvae from a specific age group.
Loài giáp xác Mesocyclops có khả năng tiêu diệt bọ gậy muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết hiệu quả, với khả năng cắn chết thêm 23 con bọ gậy muỗi sau khi đã ăn no Chúng có tuổi thọ từ 3 tuần đến vài tháng, và con cái có thể đẻ khoảng 6 lần trong vòng đời, với mỗi lứa trung bình khoảng 41 ấu trùng Khi thiếu thức ăn, chúng có thể nhịn ăn nhiều ngày hoặc ăn lẫn nhau Tại một nghiên cứu thực địa, 58% dụng cụ chứa nước có sự hiện diện của Mesocyclops đã tiêu diệt đến 99% bọ gậy muỗi truyền bệnh Do đó, việc nhân nuôi và thả loài giáp xác này vào môi trường nước là một biện pháp hiệu quả trong việc kiểm soát bọ gậy muỗi.
Việc sử dụng 27 dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà là một biện pháp hiệu quả và tiết kiệm chi phí để phòng chống sốt xuất huyết Phương pháp này không gây ô nhiễm môi trường và dễ dàng được cộng đồng chấp nhận Thực tế cho thấy, loài giáp xác Mesocyclops khi được nuôi và thả vào các dụng cụ chứa nước có khả năng phát triển tốt và tiêu diệt bọ gậy muỗi Sau 17 tháng, mật độ muỗi Aedes aegypti, tác nhân gây sốt xuất huyết, đã giảm đáng kể và duy trì ở mức thấp.
Theo tác giả Trần Đắc Phu năm 2001, tại khu vực Nam Hà thu thập được 6 loài
Mesocyclops có khả năng tiêu diệt bọ gậy Aedes aegypti, bao gồm các loài như M.woutersi, M.aspercornis, M.thermocyclopoides, M.affinis, M.pehpeiensis và M.ogunnus Các loài này thường có mặt trong các thủy vực, đặc biệt là trong các DCCN sinh hoạt địa phương M.pehpeiensis có khả năng tiêu diệt bọ gậy tuổi 1 cao nhất với 41,6 bọ gậy/24 giờ, tiếp theo là M.aspercornis (37,2 bọ gậy/24 giờ) và M.woutersi (36,6 bọ gậy/24 giờ) Mesocyclops dễ nhân nuôi và phát triển tại phòng thí nghiệm cũng như thực địa, và việc phóng thả chúng với sự tham gia của cộng đồng đã giúp giảm 100% quần thể muỗi Aedes aegypti sau 20 tháng can thiệp Đây là biện pháp rẻ tiền, dễ thực hiện và được cộng đồng địa phương chấp nhận Từ năm 1989 đến 1993, tác giả Vũ Sinh Nam đã thu thập được 5 loài Mesocyclops tại 6 điểm khác nhau, trong đó có 3 loài có khả năng ăn bọ gậy Aedes aegypti.
Mô hình phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại Hà Tĩnh
Trong những năm qua, Hà Tĩnh chủ yếu triển khai các mô hình phòng chống dịch trong hai tình huống: hoạt động phòng dịch khi chưa có dịch và xử lý dịch khi đã xảy ra Công tác huy động và sự tham gia của cộng đồng trong việc chủ động phòng chống dịch đã đạt hiệu quả rõ nét.
Mô hình cộng tác viên (CTV) được triển khai từ năm 1999 trong chiến lược phòng chống SXHD của Dự án quốc gia, với 10% số xã có CTV tham gia CTV là những người nhiệt tình, không phân biệt độ tuổi hay giới tính, hoạt động chủ yếu trên cơ sở tự nguyện và được lựa chọn bởi chủ tịch UBND xã Họ có thời gian rảnh để tham gia các hoạt động như thăm hộ gia đình, tuyên truyền, hướng dẫn và kiểm tra lăng quăng, đồng thời nhắc nhở các hộ gia đình về việc diệt lăng quăng thường xuyên.
Mô hình này tập trung vào việc lựa chọn những xã có nguy cơ cao phát sinh dịch để triển khai, mang lại hiệu quả cao trong việc ngăn chặn dịch tại các khu vực này Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình là độ bao phủ thấp, chỉ có 10% số xã trong tỉnh được thực hiện.
Mô hình Chiến dịch diệt lăng quăng tại Hà Tĩnh, bắt đầu từ năm 2002, đã được triển khai nhằm phòng chống sốt xuất huyết (SXHD) vào những tháng cao điểm Chiến dịch này dựa vào sự tham gia của chính quyền, đoàn thể và học sinh, tập trung vào hoạt động tuyên truyền và thực hiện các biện pháp loại trừ lăng quăng tại hộ gia đình Qua nhiều năm, mô hình này đã đạt hiệu quả rõ rệt, giảm mật độ muỗi và lăng quăng, từ đó làm giảm sự lây lan của vi-rút trong cộng đồng, góp phần giảm số ca mắc và tử vong Tuy nhiên, việc triển khai Chiến dịch diệt lăng quăng cần huy động nguồn lực lớn từ cộng đồng, đây là một trong những thách thức lớn trong quá trình thực hiện.
Mô hình xử lý ổ dịch nhỏ được triển khai ngay khi có thông tin về ca bệnh, với sự phối hợp giữa cán bộ y tế huyện và chuyên trách phòng chống SXHD tại trạm y tế xã trong vòng 24 giờ.
Để kiểm soát dịch bệnh, cần tiến hành điều tra và xác định ổ dịch trong bán kính 200 m từ nhà bệnh nhân Việc xử lý ổ dịch bao gồm diệt lăng quăng và phun hóa chất diệt muỗi, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của ổ dịch Giám sát các chỉ số côn trùng trước và sau khi xử lý là cần thiết để đánh giá hiệu quả Mô hình này giúp hạn chế sự bùng phát và lan rộng của dịch bệnh, đồng thời duy trì các chỉ số côn trùng ở mức ổn định và an toàn trong thời gian ngắn Tuy nhiên, mô hình này chỉ hiệu quả ở quy mô nhỏ như thôn, xóm.
Mô hình sử dụng hóa chất diệt muỗi bao gồm sự tham gia của cán bộ kỹ thuật từ trung tâm y tế dự phòng tỉnh, CDC tỉnh, trung tâm y tế huyện và cán bộ chuyên trách phòng chống sốt xuất huyết tại trạm y tế xã Các máy phun vác vai cỡ nhỏ như Sthil, Fontan và Tifa được sử dụng để thực hiện việc phun hóa chất diệt muỗi hiệu quả.
Để phun hóa chất trong các hẻm nhỏ và nhà dân, xã lựa chọn máy phun phù hợp Thường thì lực lượng đoàn thanh niên, quân sự xã hoặc nhân công được thuê để vận hành máy phun cỡ nhỏ Hóa chất sử dụng thường là
Permethrin 50 EC, Delta Permethrin, K-Orthrin Khi phát hiện ổ dịch lẻ tẻ, cán bộ y tế xã phường lập kế hoạch và thực hiện phun hóa chất Khi xuất hiện nhiều ổ dịch, cần phun diện rộng, trung tâm y tế huyện lập kế hoạch và tổ chức phun, kết hợp cả máy phun lớn và nhỏ Tại mỗi ổ dịch hoặc trong phun diện rộng đều phải phun 2 lần, cách nhau 1 tuần Trước khi phun và sau khi phun đều phải giám sát các chỉ số côn trùng đ ể đánh giá hiệu quả đồng thời triển khai hoạt động diệt lăng quăng Khi phun xong 2 l ần nếu sau 2 tuần vẫn còn xuất hiện ca bệnh, chỉ số muỗi vẫn còn cao thì có thể phun tiếp lần 3 Một số khó khăn, hạn chế khi thực hiện mô hình này như chưa đạt tỷ lệ ít nhất 30% ổ dịch có điều tra đánh giá chỉ số côn trùng trước-sau phun; phun hoá chất đủ 2 lần cho 1 ổ dịch nhưng lần phun thứ 2 cách lần phun thứ nhất hơn 1 tuần; kết quả điều tra muỗi không phản ánh được hiệu quả thực của việc phun hoá chất; phun hóa chất khi BI trên 20
Sử dụng tác nhân sinh học là một phần quan trọng trong mô hình, bao gồm sự phối hợp giữa chính quyền, trường học và y tế Ban chỉ đạo sẽ tuyển chọn cộng tác viên và tổ chức huấn luyện các kỹ năng thực hành cần thiết, như nhận biết muỗi truyền bệnh và phát hiện, xử lý các ổ lăng quăng Đồng thời, cần tổ chức các chiến dịch truyền thông rộng rãi để nâng cao nhận thức về lợi ích của việc thả cá.
Chiến dịch diệt lăng quăng nhằm thay đổi hành vi cộng đồng, khuyến khích người dân nâng cao ý thức tự giác Để thực hiện, lực lượng học sinh, các ban ngành đoàn thể và cộng tác viên sẽ phối hợp phát hiện và xử lý các ổ lăng quăng, đồng thời thả cá vào các DCCN.
Cá 7 màu và cá rô đồng là hai loài cá nhỏ (khoảng 5cm) được sử dụng rộng rãi trong việc diệt lăng quăng, nhờ vào khả năng sinh sản nhanh và dễ nuôi Chúng có giá thành rẻ và ít ảnh hưởng đến môi trường nước, đồng thời có hiệu quả cao trong việc kiểm soát lăng quăng Tuy nhiên, để đạt được thành công, cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng và giám sát thường xuyên, cũng như bổ sung cá vào các vùng cộng đồng Thách thức lớn nhất vẫn là duy trì tính bền vững của mô hình này.
Mô hình phòng chống bệnh SXHD dựa vào cộng đồng là yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn lây truyền vi rút Dengue, với sự hợp tác của cộng đồng đóng vai trò sống còn Huy động xã hội nhằm nâng cao nhận thức và yêu cầu của người dân về phòng chống SXHD, bao gồm sự tham gia của hộ gia đình, chính quyền địa phương, và các tổ chức tôn giáo Các biện pháp giáo dục cộng đồng có thể được thực hiện qua truyền hình, đài, báo và các phương tiện thông tin đại chúng, cũng như thông qua các buổi nói chuyện của nhân viên y tế tại trường học và các cuộc họp địa phương Hướng dẫn các biện pháp vệ sinh môi trường, như quản lý các DCCN và xây dựng hệ thống cấp thoát nước, là cần thiết để giảm nơi sinh sản của muỗi Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp sinh học như thả cá để ăn bọ gậy và các biện pháp bảo vệ cá nhân như thuốc xua muỗi, bình phun muỗi, và lưới chắn muỗi cũng rất quan trọng trong công tác phòng chống bệnh SXHD.
35 côn trùng và ngủ mùng vào ban ngày để tránh muỗi
Mô hình phòng bệnh là rất quan trọng, nhưng trong trường hợp kho có dịch xảy ra, cần áp dụng mô hình xử lý ổ dịch nhỏ để bao vây và dập tắt dịch một cách kịp thời và triệt để.