Sinh viên thưc hiện: Lựa chọn mô hình phân loại rác phù hợp với địa phương, để từng bước quản lý tốt chất thải rắn sinh hoạt trong xã Tân Mỹ nói riêng và huyện Bắc Tân Uyên nói chung, đồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÁO CÁO TỔNG KẾT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI RÁC QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ TÂN MỸ,
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học kỹ thuật và công nghệ
Bình Dương, tháng 4 năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BÁO CÁO TỔNG KẾT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHÂN LOẠI RÁC QUY MÔ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ TÂN MỸ,
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
STT Họvàtên
SV
Giới tính
4/4 Khoa
học môi trường
SV thực hiện chính
Ngườihướngdẫn:Ths Trương Quốc Minh
Trang 3UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
Tên đề tài:Xây dựng mô hình phân loại rác quy mô hộ gia đình tại xã Tân
Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên
Sinh viên thưc hiện:
Lựa chọn mô hình phân loại rác phù hợp với địa phương, để từng bước quản
lý tốt chất thải rắn sinh hoạt trong xã Tân Mỹ nói riêng và huyện Bắc Tân Uyên nói chung, đồng thời nâng cao nhận thức và ý thức cộng đồng về phân loại rác tại nguồn
Trang 4Ngày tháng năm 2018
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
Thực hiện đề tài
Nguyễn Quỳnh Như
Xây dựng được 3 thùng rác: thùng chứa rác hữu cơ, thùng chứa rác tái chế
và thùng chứa rác còn lại
Triển khai mô hình phân loại rác ra toàn xã và tiếp tục nhân rộng ra các xã lân cận trong địa bàn huyện
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng
và khả năng áp dụng của đề tài:
Chọn được mô hình phù hợp với thực tế của địa phương giúp làm giảm lượng rác thải sinh hoạt ra môi trường, ngoài ra có thể tái chế, sử dụng lại rác trước khi thải ra môi trường
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ họ
tên tác giả, nhan đề và các yếu tố về xuất bản nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của
cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài:
Trang 6
UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Quỳnh Như
Sinh ngày: 05/4/1996
Nơi sinh: Bình Dương
Lớp: D14MTQT Khóa: 2014 - 2018
Khoa: Khoa học Tự nhiên
Địa chỉ liên hệ: trường Đại học Thủ Dầu Một
Điện thoại: 0982 538 939
Email: quynhnhu541996@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
* Năm thứ 1:
Ngành học: Khoa Học Môi Trường Khoa: Tài Nguyên Môi Trường
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - Khá
Trang 7Ngành học: Khoa Học Môi Trường Khoa: Tài Nguyên Môi Trường Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC HÌNH i
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài: 2
3 Nội dung nghiên cứu: 2
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa của đề tài: 3
5.1 Ý nghĩa khoa học 3
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội xã Tân Mỹ 4
1.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại địa phương 5
1.2.1 Tình hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở huyện Bắc Tân Uyên 5
1.2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại xã Tân Mỹ 6
1.3 Các nghiên cứu về mô hình phân loại rác 11
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Nội dung nghiên cứu 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1 Hiện trạng quản lý và thu gom rác ở địa phương 17
3.2 Kết quả điều tra kiến thức, nhận thức của người dân về phân loại rác tại nguồn 17
3.2.1 Nhận thức, kiến thức về rác thải 17
3.2.2 Nhận thức về phân loại rác tại nguồn 18
3.3 Đánh giá tương quan giữ trình độ học vấn, độ tuổi với sự tham gia phân loại rác tại nguồn 18
3.3.1 Trình độ học vấn với sự tham gia phân loại rác 18
Trang 93.3.2 Độ tuổi với sự tham gia phân loại rác 19
3.4 Tiến hành xác định thành phần của rác thải sinh hoạt 20
3.5 Dự báo khối lượng chất thải rắn của xã Tân Mỹ đến năm 2025 22
3.6 Xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn tại xã Tân Mỹ 24
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 28
4.1 Kết luận 28
4.2 Kiến nghị 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 32
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1: Kết quả thu thập dữ liệu điều tra sự tham gia phân loại rác của các hộ gia đình 19 Bảng 3 2: Kết quả thu thập, điều tra các hộ gia đình 20 Bảng 3 3: Thống kê thành phần chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các hộ gia đình trong 1 ngày trên địa bàn xã Tân Mỹ (%) 21 Bảng 3 4: Dự báo chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Tân Mỹ đến năm 2025 23
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1: Sơ đồ vận chuyển rác thải ở xã Tân Mỹ 7
Hình 1 2: Sơ đồ dòng đời vật chất của chất thải rắn sinh hoạt 8
Hình 1 3: Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khỏe con người 10
Hình 3 1: Hiểu biết của người dân về tác hại của rác thải sinh hoạt 17
Hình 3 2: Phân loại rác 18
Hình 3 3: Trình độ học vấn với sự tham gia phân loại rác 19
Hình 3 4: Độ tuổi với sự tham gia phân loại rác 20
Hình 3 5: Tỷ lệ phần trăm rác thải ở xã Tân Mỹ 22
Hình 3 6: Tỷ lệ phần trăm rác thải ở phường Hiệp An, Thủ Dầu Một 22
Hình 3 7: Dự báo dân số và lượng rác phát sinh đến năm 2025 24
Hình 3 8: Sơ đồ cấu trúc phân loại chất thải rắn tại nguồn 25
Hình 3 9: Rác sau khi phân loại 26
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rác - chất thải rắn, xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người trên Trái Đất Con người lấy từ tài nguyên thiên nhiên trên Trái Đất những nguyên vật liệu, những thức ăn để phục vụ cho đời sống chính mình để rồi thải các chất thải rắn (rác) ra môi trường Ở giai đoạn tiền sử, khi mà số lượng con người quá ít, sống riêng lẻ ở những vùng xa xôi, thì việc thải ra chất thải rắn chưa ảnh hưởng tới môi trường Vì lượng chất thải thải ra còn rất thấp, dưới khả năng tự làm sạch của thiên nhiên nên môi trường vẫn được an toàn Dần dần, con người và xã hội phát triển, gia tăng dân số, đô thị hóa, thì rác thải trở thành vấn đề cấp bách, khi
mà lượng rác thải trở nên lớn, quá khả năng tự làm sạch của môi trường[1]
Rác thải hiện nay được xem là một vấn đề nan giải, khó khăn và nhức nhối đối với toàn xã hội, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Rác thải sẽ gây ra ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, nước, làm mất mỹ quan đô thị, gây nhiều bệnh tật, tác động xấu đến sức khỏe con người, môi trường kinh tế và du lịch Vậy nên, việc xử lý chất thải là một tất yếu khách quan về mặt hoạt động kinh tế - xã hội, làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm và hạn chế tối đa các nguy cơ gây bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như đời sống của con người
Hiện nay, trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên nói chung và xã Tân Mỹ nói riêng, nhìn chung công tác thu gom chất thải đã và đang diễn ra theo cách làm truyền thống: toàn bộ rác thải được thu gom rồi đưa về nơi chôn lấp hoặc xử lý theo từng thành phần của rác thải Việc quản lý rác thải chỉ đơn thuần theo hình thức: thu gom – vận chuyển – xử lý chôn lấp tại các bãi chôn lấp rác
Trong khi vài năm gần đây, một số địa phương đã bước đầu thực hiện thí điểm việc phân loại rác tại nguồn nhằm mục đích hạn chế tới mức tối thiểu lượng rác thải đem chôn lấp và tăng tới mức tối đa lượng rác thải đem tái chế, tái sử dụng Điển hình như: Mô hình phân loại, xử lý rác thải tại hộ gia đình ở tỉnh Hưng Yên, có hơn 21 000 hộ thực hiện mô hình (2016), bằng phương thức xây thùng ngầm dưới đất hoặc sử dụng thùng nhựa chuyên dụng và phun chế phẩm vi sinh[2] Hay mô hình phân loại rác tại nguồn ở xã Phú An, thị xã Bến Cát với 26 điểm tập kết rác, mỗi điểm hai bô rác (bô màu xanh chứa rác hữu cơ dễ phân hủy, màu cam chứa rác không tái chế được và rác có khả năng tái chế được địa phương khuyến khích bán ve chai[3]
Trang 13Nhìn chung, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Tân Mỹ đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng dân cư, cơ quan, doanh nghiệp Tuy nhiên, công tác thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn xã vẫn còn những tồn tại những hạn chế nhất định, rác thải chưa được phân loại, chủ yếu là thu gom rồi đưa về nơi chôn lắp Nếu địa phương này, thực hiện tốt việc phân loại rác tại nguồn sẽ mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế lẫn môi trường Điều đó sẽ góp phần làm giảm chi phí trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác, giảm diện tích đất chôn lấp; giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm cho ngân sách của xã và của huyện Chính vì thực tế trên chúng tôi đề xuất đề tài: “Xây dựng
mô hình phân loại rác quy mô hộ gia đình tại xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên”
2 Mục tiêu đề tài:
- Đánh giá nhận thức và ý thức cộng đồng về phân loại rác tại nguồn
- Xây dựng mô hình phân loại rác phù hợp với địa phương, để từng bước quản lý tốt chất thải rắn sinh hoạt trong xã Tân Mỹ nói riêng và huyện Bắc Tân Uyên nói chung
3 Nội dung nghiên cứu:
- Tổng quan về chất thải rắn, tình hình thu gom, phân loại rác tại nguồn ở địa bàn nghiên cứu Sau đó, đánh giá thực trạng thu gom rác tại địa phương
- Phỏng vấn, đánh giá nhận thức, khả năng phân loại của cộng đồng tại khu vực
- Đánh giá tương quan giữ trình độ học vấn, độ tuổi với sự tham gia phân loại rác tại nguồn
- Khảo sát thành phần rác thải sinh hoạt
- Dự báo khối lượng chất thải rắn của xã Tân Mỹ đến năm 2025
- Xây dựng mô hình phân loại rác về quy mô, thời gian, cách thức thực hiện và đề ra tiêu chuẩn để phân loại rác đạt chất lượng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng phỏng vấn: hộ gia đình
- Chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương
- Các thùng rác dùng để phân loại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Các ấp: ấp1, ấp 2, ấp 3 và ấp Vườn Vũ thuộc xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
5 Ý nghĩa của đề tài:
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở khảo sát, đánh giá hiện trạng trong phân loại, thu gom và quản
lý rác thải hiện tại, đề xuất mô hình thu gom, phân loại và quản lý rác phù hợp với điều kiện địa phương và xây dựng kế hoạch hành động cho mô hình
Các đề xuất mang tính khả thi và có thể thực hiện tốt các biện pháp nêu trên không những mang lại lợi ích giảm thiểu chi phí vận chuyển, xử lý mà còn mang ý nghĩa xã hội rất cao góp phần giữ gìn môi trường trong sạch và phát triển bền vững
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Khi thực hiện chương trình phân loại rác tại nguồn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các giai đoạn tiếp theo của việc xử lí rác Giúp người dân hiểu được ý nghĩa của việc phân loại rác tại nguồn Nhằm cải thiện môi trường, giúp người dân tận dụng rác thải mang lại lợi ích về kinh tế Xây dựng được mô hình phân loại rác tại địa phương và áp dụng vào trong thực tế của địa phương
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội xã Tân Mỹ
Xã Tân Mỹ với tổng diện tích 40,79 km2 với 1 264 hộ và 7 389 nhân khẩu.Theo Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm
2017 thì xã Tân Mỹ tiếp tục giữ vững 17/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Thu nhập bình quân đạt trên 39,9 triệu đồng/người/năm (số liệu thống kê năm 2016) Tổng diện tích gieo trồng đến nay được 191/180 ha, đạt 106,1% chỉ tiêu
kế hoạch sản xuất và đạt 63,66% so với Nghị quyết hội đồng nhân dân xã đề ra
cả năm là 300 ha Tình hình chăn nuôi trên địa bàn ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm là 116 142 con (gia súc là 3 248 con và gia cầm các loại là 112 894 con) Xã
đã thực hiện tốt công tác kiểm soát, phòng chống dịch bệnh cho gia súc gia cầm
và trong 6 tháng đầu năm không xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm Về công nghiệp thì đất sử dụng cho công nghiệp là 537,1 ha gồm: cụm công nghiệp Tân Mỹ là 88ha, đất sử dụng nguyên liệu khoáng sản là 449,1 ha Trên địa bàn hiện có 23 doanh nghiệp đang hoạt động với diện tích 72,74 ha Tình hình kinh doanh dịch
vụ tiếp tục ổn định và phát triển Xã Tân Mỹ có 271 cơ sở kinh doanh dịch vụ với các loại hình như: kinh doanh dịch vụ vận tải, dịch vụ ăn uống – giải khát, kinh doanh nhà trọ,… ngoài ra còn có 55 cơ sở kinh doanh thiết bị điện – điện
tử, mũ bảo hiểm, đồ chơi trẻ em, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn xã Về môi trường thì xã đã tiến hành xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2017 [4]
Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2017, việc triển khai thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế xã hội – quốc phòng an ninh đã đạt được một số các chỉ tiêu theo Nghị quyết của Đảng ủy, Nghị quyết Hội đồng nhân dân Tình hình an ninh trật tự - an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững; triển khai, thực hiện tốt kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (tổ chức làm đường giao thông nông thôn; phối hợp triển khai, mở rộng các dự án điện, nước sinh hoạt…); tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm được đảm bảo, không xảy ra ngộ độc thực phẩm; thực hiện tốt công tác chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách, gia đình chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội; phối hợp giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến ý kiến, kiến nghị của cử tri trong các cuộc họp tiếp xúc cử tri trước kì họp; tỉ lệ học sinh tốt nghiệp năm học 2016 – 2017 đạt vượt chỉ tiêu so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân đề ra; thực hiện vượt chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ
Trang 16năm 2017
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại hạn chế như: việc điều hành, công tác vận động và do nhận thức của một số hộ dân còn hạn chế nên tình trạng sử dụng còn lãng phí nước tưới cho sản xuất trồng trọt từ các công trình thủy lợi; công tác quản lý các cơ sở doanh nghiệp phế liệu trên địa bàn xã còn thiếu cương quyết trong việc xử lý các cơ sở vi phạm theo chủ trương đã được thống nhất; ngành chuyên môn còn chậm trễ trong công tác tham mưu lập phương án cho thuê quỹ đất công, đất công ích,…
1.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại địa phương
1.2.1 Tình hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở huyện Bắc Tân Uyên
Theo Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017 thì đối với việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong 6 tháng đầu năm như sau: Xí nghiệp Công trình công cộng huyện đã tổ chức thu gom chất thải sinh hoạt của 10/10 xã trên địa bàn huyện theo phương thức thu gom một phần
và xã hội hóa cho 3 đơn vị thu gom dân lập gồm: Công ty TNHH MTV Khánh Minh Khoa, Công ty TNHH Môi trường Chính Thành, Công ty TNHH Thương mại – dịch vụ Môi trường Tân Uyên (các đơn vị này ký Hợp đồng làm đại lý cho
Xí nghiệp Công trình công cộng huyện) Toàn bộ rác sau khi được các đơn vị dân lập thu gom từ nguồn thải được di dời đến điểm tập kết và chuyển trực tiếp qua xe chuyên dụng của xí nghiệp Công trình công cộng để vận chuyển đi xử lý tập trung tại khu liên hợp xử lí chất thải rắn Nam Bình Dương
Kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm như sau: từ đầu năm đến nay, Xí nghiệp công trình công cộng huyện đã thu gom được khoảng 2 400 tấn rác thải sinh hoạt, tỉ lệ thu gom, xử lí chất thải rắn sinh hoạt đạt 93% (khoảng 71% được thu gom và vận chuyển đi xử lý tập trung tại xí nghiệp xử lý chất thải Nam Bình Dương; 22% còn lại do các hộ dân ở khu vực vùng sâu vùng xa tự xử lí tại chỗ bằng biện pháp đốt hoặc chôn lấp), tần suất thu gom mỗi xã đạt 3 lần/tuần.[5]
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đó là:
do việc phân bố dân cư trên địa bàn các xã không tập trung dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện quản lí và tuyên truyền nâng cao nhận thức vấn đề môi trường cho người dân địa phương, từ đó, vẫn còn tình trạng một số hộ dân bỏ rác không đúng nơi quy định
Trang 171.2.2 Hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý rác tại xã Tân Mỹ
* Hiện trạng phát sinh:
Nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu tại xã Tân Mỹ phần lớn là do hoạt động sinh hoạt, kinh doanh ăn uống, dịch vụ của người dân, tạo ra một lượng rác thải sinh hoạt lớn với khối lượng rác thu gom được ước tính khoảng 1 tấn/ngày
* Thành phần rác thải:
Rác thải trên địa bàn xã Tân Mỹ có thành phần khá phức tạp như:
- Giấy: từ các hoạt động học tập, công việc văn phòng, hoạt động lưu, truyền và xuất thông tin, in ấn, bao bì đóng gói, giấy vệ sinh…
- Hàng dệt: quần áo, khăn, giẻ lau,…
- Gỗ: bàn ghế không còn khả năng sử dụng, cắt tỉa cây xanh,…
- Chất dẻo: bao bì, túi nilon, chai lọ, vật dụng gia đình, đồ chơi trẻ em, dây điện,…
- Da, cao su: băng keo, dây nịt, giày dép,…
- Kim loại sắt và phi sắt: lon,hộp, dây điện, hàng rào,…
- Thủy tinh: chai lọ, mảnh vỡ kính, bóng đèn,…
- Chất thải hữu cơ: rác nhà bếp, xác chết động vật, rác vườn,…
- Các loại khác: tóc, xương, than đá, tả lót, linh kiện điện tử, mảnh vỡ men, sứ…
* Hiện trạng thu gom:
- Nhân công thu gom: ba người trong đó có 1 tài xế và 2 nhân công thu
gom
- Phương tiện - thiết bị thu gom: xe ép rác với tải trọng 5 tấn, thùng chứa:
gồm 137 thùng
* Tuyến thu gom, phí thu gom:
- Tuyến thu gom: rác chủ yếu được gom lại và để dọc hai bên các con đường lớn ở xã Tân Mỹ bằng những thùng lưu chứa rác Xe thu gom rác đô thị là phương tiện chủ yếu để thu gom rác ở đây Xe bắt đầu di chuyển vào khu vực này
từ đường ĐT 746 (đoạn giáp với phường Uyên Hưng, thị xã Tân Uyên) và sau đó
rẽ vào đường ĐH 414 (Mỹ Lộc) khoảng 1,5 km thì chạy về theo đường cũ để thu gom rác bên đường còn lại
- Phí thu gom: 20 000 đồng/hộ/tháng
* Hiện trạng vận chuyển:
Trang 18Hiện trạng vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do công ty công trình đô thị huyện Bắc Tân Uyên chịu trách nhiệm Công ty thành lập đội môi trường công tác thu gom vận chuyển rác thải sinh hoạt tại địa bàn bằng 1xe ép lớn rác loại 5 tấn Công ty thực hiện thu gom rác thải bằng hình thức: thu gom bằng xe cuốn ép lớn 5 tấn tại tuyến đường lớn 3 lần/tuần Sau đó, rác được vận chuyển về Khu liên hợp xử lí rác thải Nam Bình Dương để xử lí
Sơ đồ chu trình thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt ở xã Tân Mỹ được trình bày theo sơ đồ sau:
1.3 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
* Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt[6]
- Lý tính:
Những tính chất quan trọng của chất thải rắn sinh hoạt bao gồm khối lượng riêng, độ ẩm, kích cỡ và sự phân bố kích cỡ, thể tích chiếm dụng trên hiện trường, độ xốp
O, N, S và tro), nhiệt trị
- Tính chất sinh học:
Chất thải rắn sinh hoạt chứa phần lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy Do vậy, các bãi chứa chất thải rắn sinh hoạt thường có mùi hôi thối Tốc độ phân hủy của chất hữu cơ phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường
* Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần chất thải[7]
Thành phần và khối lượng chất thải rắn thay đổi theo các yếu tố sau đây: dân số, thời điểm trong năm (mùa mưa hay mùa khô), điều kiện kinh tế - xã hội,
Rác thải từ
các hộ gia
đình, cơ quan
Thùng đựng rác Xe ép rác
Nam Bình Dương
Hình 1 1: Sơ đồ vận chuyển rác thải ở xã Tân Mỹ
Trang 19sử dụng đất và loại nhà ở, thói quen và thái độ xã hội, quản lý chế biến tại nơi sản xuất, chính sách của Nhà nước về chất thải, khí hậu
Các thông số liên quan đến sự thay đổi thành phần chất thải rắn có ý nghĩa quan trọng trong quyết định các quá trình quản lý rác
Tài nguyên thiên nhiên (nguyên liệu)
Sản xuất và tái chế
Phát sinh chất thải (dân cư, thương nghiệp,
công nghiệp, bệnh viện…)
Giảm thiểu và tái sử dụng
Tái chế
Hình 1 2: Sơ đồ dòng đời vật chất của chất thải rắn sinh hoạt
Trang 20* Tác hại của chất thải rắn[1]
- Chất thải rắn gây hại cho sức khỏe cộng đồng
Người ta đã tổng kết rác thải gây ra 22 loại bệnh cho con người Điển hình là rác plastic (nylon), sau hơn 40 năm ra đời với nhiều ứng dụng trong công nghiệp, trong cuộc sống, ít bị oxy hóa, nhẹ, không thấm nước, dẻo,… đến nay lại
là nguyên nhân gây ung thư cho xúc vật ăn cỏ Hơn thế nữa khi đốt plastic ở
1200oC nó sẽ biến đổi thành dioxide gây quái thai ở người
- Chất thải rắn làm giảm mỹ quan ở các khu công cộng và đô thị
Chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rảnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa
- Chất thải rắn cản dòng chảy, làm ứ đọng nước hoặc ngập lụt vùng dân
cư
Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rảnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, muối vô cơ hòa tan vượt quá quy chuẩn môi trường nhiều lần
- Rác làm ô nhiễm môi trường nước
Các chất thải rắn, nếu là chất hữu cơ, trong môi trường nước sẽ bị phân hủy một cách nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước Phần chìm trong nước sẽ xảy ra quá trình phân giải yếm khí tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như: CH4, H2S, H2O, CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và đều là độc chất Bên cạnh đó, còn chứa nhiều vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước
Nếu chất thải là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn trong môi trường nước Sau đó quá trình oxy hóa có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trường nước Những chất độc như Hg, Pb hoặc các chất thải phóng xạ còn nguy hiểm hơn
- Rác làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất hữu cơ còn được phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí, hiếu khí khi có độ ẩm thích hợp để ra sản phẩm cuối cùng là H2O,
CO2 Nếu là yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4, H2O, CO2 gây độc cho môi trường Với một lượng vừa phải thì khả năng làm sạch của môi trường
Trang 21đất khiến rác không trở thành ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và bị ô nhiễm Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm làm ô nhiễm nước ngầm
- Rác làm ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp Cũng có loại rác, trong điều kiện nhiệt độ và độ
ẩm thích hợp (tốt nhất là 35oC và độ ẩm là 70 – 80%), sẽ có quá trình biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật Kết quả của quá trình là gây ô nhiễm không khí Các đống rác, nhất là các đống rác thực phẩm, nông thôn phẩm không được xử
lý kịp thời và đúng kĩ thuật, sẽ bốc mùi hôi thối
Môi trường không khí
Trang 22* Lợi ích của chất thải rắn
Ngoài các tác hại trên, đối với các loại chất thải rắn không độc hại, chúng
ta có nhiều cách để mang lại lợi ích cho con người, giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường, hạn chế ô nhiễm môi trường
1.3 Các nghiên cứu về mô hình phân loại rác
Các mô hình phân loại rác tại nguồn được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu và triển khai thực hiện như:
* Ngoài nước
Mô hình phân loại rác ở Nhật Bản được xếp vào loại chặt chẽ nhất thế giới Ở nhiều quốc gia trên thế giới, rác được phân ra làm hai loại: tái chế và không thể tái chế Còn tại Nhật Bản thì rác được phân chia tới 5 loại rác: rác đốt được (các món nấu vụn, cơm thừa, vỏ trái cây, bã trà,vỏ trứng, rau thừa, tàn thuốc lá, giấy vụn, đũa dùng một lần, tăm tre để xiên nướng, hộp giấy, cây cỏ, lá khô, bụi của máy hút bụi, hàng đồ da, gỗ vụn trong công việc làm tại nhà, tã giấy…), rác không đốt được (những vật dụng bằng nhựa dài: như ống nhựa, dây nhựa, băng cát-set hoặc băng video, hay các chai lọ bằng nhựa, vật dụng bằng
sứ, kim loại, thủy tinh vỡ, nhựa PVC ), rác tái chế (Giấy các loại, quần áo, vải vụn cũ, lon rỗng, kính bể, chai, đồ điện gia dụng, mền nệm,…),rác có hại (pin, bóng đèn huỳnh quang, nhiệt kế,…), rác cồng kềnh (bàn gỗ, ghế gỗ, tủ đựng quần áo, bàn kính trang điểm, giường, thảm cao cấp các loại, thảm thường các
Trang 23loại, tấm đệm, cửa ra vào, cửa giấy kiểu Nhật, rác lớn cồng kềnh là những đồ vật như nêu trên mà có kích cỡ khoảng trên 1m2,…).[11]
* Trong nước
Theo Phùng Khánh Nguyên và Ngô Văn Thụy Cẩm năm 2010 thì mô hình phân loại rác tại nguồn trong trường học tại thành phố Đà Nẵng như sau: rác thải trường học được chia thành 2 nhóm lớn: rác dễ phân hủy sinh học (chế biến thành phân compost và bón cho cây trồng trong trường); rác khó phân hủy sinh học (chia làm 2 nhóm nhỏ: rác có thể tái chế, tái sử dụng: sơ chế tái sử dụng hay bán cho cơ sở tái chế; các thành phần còn lại tập trung tại điểm trung chuyển và đưa về bãi chôn lắp[7]
Nguyễn Thu Huyền và Nguyễn Thị Đông (2011), đã xây dựng mô hình phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đình, ở tổ 7, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên Rác thải hộ gia đình chia làm 3 nhóm: chất thải rắn tái chế (dựng trong túi gia đình và bán cho cơ sở tái chế), chất thải rắn vô cơ (chứa trong xô màu cam và tập trung trong thùng màu cam đưa về bãi chôn lấp), chất thải rắn hữu cơ (một phần cho vào thùng ủ phân hộ gia đình, một phần cho vào xô màu xanh và tập trung trong thùng màu xanh và đưa về nhà máy chế biến phân vi sinh) [8]
Theo Võ Thị Hiếu năm 2014, đề xuất mô hình phân loại rác tại nguồn ở
xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre như sau: đối với hộ dân: dùng 2 thùng rác, thùng màu xanh chứa rác dễ phân hủy (rau quả, thức ăn dư thừa ) và thùng màu đỏ chứa các chất khó phân huỷ như (cao su, nhựa, da, kim loại…); đối với rác công sở và trường học chia thành 3 loại thùng chứa : Thùng chứa chất hữu cơ, thùng chứa giấy và túi nilon và thùng chứa các loại khác; rác thải chợ: các chợ sẽ đặt 2 thùng rác lớn cố định có màu sắc khác nhau và dán nhãn quy định, thùng sử dụng để chứa rác dễ phân huỷ (thùng màu xanh) và thùng để chứa các loại rác trơ khó phân huỷ (thùng màu xám) Và đề ra các biện pháp xử
lí là ủ phân, ủ biogas.[9]
Theo Bùi Phạm Phương Thanh, Nguyễn Thị Ánh Linh năm 2016, đã xây dựng mô hình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cho các hộ gia đình ở phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một Chất thải rắn sinh hoạt hữu cơ dễ phân hủy do 2 đơn vị đảm nhận thu gom và vậnchuyển là đội rác dân lập phường Hiệp An và Công ty công trình đô thị Bình Dương, đem tới khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương bằng xe ép rác Chất thải rắn còn lại được thu
Trang 24gom bởi đội hợp tác xã là tập hợp những người thu mua ve chai và nhặt ve chai Rác không có khả năng tái chế sẽ được cân và người dân sẽ trả tiền theo số kg quy định sau đó mang tới điểm hẹn bằng xe đẩy tay 660L Rác có khả năng tái chế được đội hợp tác xã thu mua theo giá trị từng loại rác sau đó được mang đến công ty tái chế bằng xe tải Rác nguy hại sẽ được thu gom bằng biện pháp đổi rác nhận quà.Mô hình sẽ biến đổi theo từng ngành nghề trong hộ gia đình cụ thể như sau: − Hộ kinh doanh: thực phẩm thừa, rau, củ, quả sẽ được bán cho hộ chăn nuôi Than tổ ong của hộ kinh doanh cửa hàng ăn uống sẽ được đưa về lò gạch để làm nguyên liệu phối trộn với gạch.− Hộ nông nghiệp: thực phẩm thừa, rau, củ, quả sẽ được ủ thành phân Phân của vật nuôi sẽ được ủ biogas Rơm, rạ, cành cây từ mùa vụ sẽ được bán cho cơ sở trồng nấm hoặc bán cho lò gạch Rác thải nguy hại từ đồng ruộng sẽ được khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương thu gom[10]
Trang 25CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan về chất thải rắn, tình hình thu gom, phân loại rác tại nguồn ở địa bàn nghiên cứu Sau đó, đánh giá thực trạng thu gom rác tại địa phương
- Phỏng vấn, đánh giá nhận thức, khả năng phân loại của cộng đồng tại khu vực
Phát 294 phiếu khảo sát về tình hình thu gom, xử lí rác thải của các hộ và nhận thức của họ về việc phân loại rác tại nguồn Qua đó đánh giá nhận thức và khả năng thực hiện phân loại rác của họ
- Đánh giá tương quan giữ trình độ học vấn, độ tuổi với sự tham gia phân loại rác tại nguồn
- Khảo sát thành phần rác thải sinh hoạt
Thực hiện lấy 120 mẫu rác thải sinh hoạt tại các hộ gia đình liên tục 7 ngày (thời gian thực hiện tử ngày 11/12/2017 đến ngày 17/12/2017) để xác định thành phần, khối lượng của nó, nhằm phục vụ cho công tác dự báo lượng rác thải trong tương lai và xây dựng mô hình
- Dự báo khối lượng chất thải rắn của xã Tân Mỹ đến năm 2025
- Xây dựng mô hình phân loại rác về quy mô, thời gian, cách thức thực hiện và đề ra tiêu chuẩn để phân loại rác đạt chất lượng
Tiêu chuẩn phân loại rác là: mỗi hộ sẽ đặt 3 thùng rác khác nhau về màu sắc (trường hợp giống nhau thì ghi giấy dán lên để phân biệt), có nắp đậy và dùng túi rác phân hủy bọc ở trong; một thùng dùng để chứa rác hữu cơ như: thức
ăn thừa, vỏ củ quả,…), một thùng chứa rác vô cơ (thủy tinh vỡ, đồ cao su, đồ da,…), một thùng chứa rác có thể tái chế (vỏ chai nhựa, vỏ lon nhôm, giấy,…)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp khảo sát
Để xác định cỡ mẫu cho khảo sát áp dụng công thức của Czaja và Blair (1996), Creative Research Systems (2003)
2 2
/ ) 1 (
Trang 26c: sai số cho phép (+-3%, +-4%, +-5% )
Với hầu hết các nghiên cứu khác, khoảng tin cậy 95% được giả định Với
độ tin cậy 95% mức ý nghĩa =0.05, z=1.96
Theo Czaja và Blair (1996), khi xác định cỡ mẫu cho một mức độ chính xác nhất định, ước tính tỷ lệ % của tổng thể là 20% hay 0.2 Sai số cho phép nằm trong khoảng +-5% Dựa vào giả định này, cỡ mẫu được tính như sau:
86.24505
.0
)2.01(2.096.1
SS SSmoi
1
1 −+
= , trong đó, N là tổng số hộ dân của xã
2061264
186.2451
86
245 =
−+
=
SSmoi
Thông thường mức độ trả lời câu hỏi khảo sát tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 70-80%, do đó cỡ mẫu sẽ được điều chỉnh cho tỷ lệ trả lời câu hỏi của hộ dân như sau:
SS khảo sát = SSmoi/ tỷ lệ trả lời = 206/0.7 = 294 phiếu
Cách chọn ngẫu nhiên
* Phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin
Phương pháp dùng phiếu hỏi (theo mẫu phụ lục 1) để thu thập thông tin
từ các hộ gia đình để xem xét thái độ, niềm tin của họ vào mô hình phân loại rác tại nguồn
* Phương pháp thực địa, tuyên truyền, lấy ý kiến cộng đồng
Phỏng vấn là một phương pháp quan trọng để thu thập dữ liệu về các yêu cầu của thông tin Việc phỏng vấn nhằm phát hiện thông tin về: các ý kiến và cảm giác của người được phỏng vấn về mô hình phân loại rác tại nhà
* Phương pháp phân tích, đánh giá
- Phân tích thành phần rác thải sau khi áp dụng mô hình và xác định khối lượng từng thành phần
- Đánh giá nhận thức, khả năng phân loại rác của người dân trên địa bàn nghiên cứu
* Phương pháp dự báo lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
Trang 27Dựa vào dân số và tỉ lệ gia tăng dân số hằng năm của địa phương tính
lượng rác thải sinh hoạt hiện tại và ước tính khối lượng rác thải phát sinh đến
năm 2025
- Dự báo dân số theo mô hình Euler cải tiến:
Trong đó:
N *
i+1 : dân số sau một năm (người)
N i: dân số hiện tại (người)
r: tốc độ tăng dân số (%)
t: thời gian (năm)
* Phương pháp phân tích thống kê
Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, kiểm định sự tin cậy của số liệu,
kiểm định sự khác biệt bằng phương pháp phân tích ANOVA
t N r N