ÔN TẬP NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn 11 – Tập I Năm học 2013 2014 ĐỀ CƯƠNG DÀN Ý ÔN TẬP CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC HKI LỚP 11 Bài 1 TỰ TÌNH Hồ Xuân Hương A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN I Giới thi[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG DÀN Ý ÔN TẬP CÁC TÁC PHẨM VĂN
HỌC HKI LỚP 11 -
Bài 1: TỰ TÌNH
- Hồ Xuân Hương -
A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN
I Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền văn học trung đại ViệtNam, được mệnh danh là “bà chúa thơ nôm” Bà là một “thiên tài kì nữ” nhưng cuộc đời đầy éo
le, bất hạnh Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà vẫn rất trữtình Một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tâm trạng, nỗi niềm của người phụ nữ trướcduyên phận, cuộc đời mình là “Tự tình” (II)
II Khái quát về bài thơ
“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài của bà Đây là chùm thơ nữ
sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thểthơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết Bài thơ thể hiện thái
độ, tâm trạng vừa đau đớn, vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượngvươn lên, nhưng rồi vẫn rơi vào bi kịch Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thể đoán bài thơ đượcsáng tác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tình duyên
III Nội dung, nghệ thuật bài thơ:
b Nội dung: Bối cảnh không gian, thời gian và tâm trạng cô đơn, buồn tủi, bẽ bàng
về duyên phận của nhân vật trữ tình
2 Hai câu thực:
a Nghệ thuật: Phép đối (câu 3 với câu 4); cụm từ “say lại tỉnh”; nghệ thuật tả cảnhngụ tình (sự tương quan giữa hình ảnh vầng trăng và thân phận nữ sĩ)
b Nội dung: Gợi lên hình ảnh người phụ nữ trong đêm khuya vắng lặng với bao xót
xa, cay đắng, với nỗi chán chường, đau đớn, ê chề
3 Hai câu luận:
a Nghệ thuật: Phép đối (câu 5 với câu 6); phép đảo; động từ mạnh (“xiên ngang”,
“đâm toạc”); nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
b Nội dung: cảnh thiên nhiên trong cảm nhận của người mang sẵn nỗi niềm phẫn uất
và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu, như muốn thách thức số phận của
Hồ Xuân Hương
4 Hai câu kết:
a Nghệ thuật: Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên; lặp từ; nghệ thuật tăng tiến
Trang 2b Nội dung: Tâm trạng chán chường, buồn tủi mà cháy bỏng khát vọng hạnh phúc –cũng là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
5 Nghệ thuật cả bài thơ : Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn; tả cảnh ngụ tình; phép đối,
đảo; đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ
IV Ý nghĩa văn bản:
Bản lĩnh Hồ Xuân Hương được thể hiện qua tâm trạng đầy bi kịch : vừa buồn tủi, phẫn uấttrước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được sống hạnh phúc
B LUYỆN TẬP
Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với đề sau:
Đề 1 Phân tích bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Đề 2 Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ HồXuân Hương
Hướng dẫn luyện tập đề 1 :
Tìm hiểu đề
1 Dạng đề : Phân tích một bài thơ.
2 Yêu cầu của đề:
- Yêu cầu về nội dung : Làm rõ nội dung, nghệ thuật của bài thơ
- Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như:chứng minh, bình luận, so sánh…
- Yêu cầu về tư liệu : Tư liệu chính là những câu thơ trong bài thơ đã cho, tư liệu có liênquan để bổ sung cho ý phân tích
-Lập dàn ý
I Mở bài : Giới thiệu tác giả Hồ Xuân Hương, dẫn vào bài thơ “Tự tình” (II) Nêu vấn đề:
Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, trích bài thơ
II Thân bài :
1 Khái quát : Nêu xuất xứ, thể loại, hoàn cảnh sáng tác, bố cục bài thơ, nội dung chính của
c Hai câu luận:
* Phân tích : Phép đối (câu 5 với câu 6); phép đảo; động từ mạnh (“xiên ngang”, “đâmtoạc”); nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
* Làm rõ : cảnh thiên nhiên trong cảm nhận của người mang sẵn nỗi niềm phẫn uất và
sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu, như muốn thách thức số phận của HồXuân Hương
Trang 3d Hai câu kết:
* Phân tích : Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên; lặp từ; nghệ thuật tăng tiến
* Làm rõ : Tâm trạng chán chường, buồn tủi mà cháy bỏng khát vọng hạnh phúc –cũng là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa
e Nghệ thuật cả bài thơ : Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn; tả cảnh ngụ tình; phép đối, đảo;
đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ
(Ghi nguyên văn bài thơ)
“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài của bà Đây là chùm thơ nữ
sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thểthơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết Bài thơ thể hiện thái
độ, tâm trạng vừa đau đớn, vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượngvươn lên, nhưng rồi vẫn rơi vào bi kịch Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thể đoán bài thơ đượcsáng tác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tình duyên
Mở đầu bài thơ là hình ảnh người phụ nữ không ngủ, một mình ngồi giữa đêm khuya:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồnTrơ cái hồng nhan với nước non.”
Giữa đêm khuya, người phụ nữ thao thức không ngủ được và nàng nghe âm thanh tiếngtrống canh dồn dập “Đêm khuya” là thời gian của hạnh phúc lứa đôi, của sum họp gia đình, vậy
mà ở đây, trớ trêu thay, người phụ nữ lại đơn độc một mình Nàng cô đơn quá nên thao thứckhông ngủ, nàng nghe âm thanh tiếng trống canh “văng vẳng” Từ láy này miêu tả âm thanh từ
xa vọng lại Với nghệ thuật lấy động tả tĩnh, người đọc cảm nhận được không gian đêm khuyatĩnh lặng, im lìm và người phụ nữ thật cô đơn, tội nghiệp Trong xã hội xưa, tiếng trống canh là
âm thanh dùng báo hiệu thời gian một canh giờ trôi qua Nữ sĩ nghe âm thnah tiếng trống canh
“dồn” – tiếng trống dồn dập, khẩn trương – có lẽ là vì nàng đang ngồi đếm thời gian và lo lắngthấy nó trôi qua một cách dồn dập, tàn nhẫn Nó chẳng cần biết tuổi xuân của nàng sắp vuột mất
mà nàng thì vẫn đang phải “trơ cái hồng nhan” ra giữa “nước non” Dường như, nỗi cô đơn, xót
xa ấy luôn dày vò nữ sĩ nên thời gian trở thành nỗi ám ảnh không nguôi trong tâm hồn bà Trongchùm “Tự tình”, nỗi ám ảnh về thời gian còn hiện hữu trong âm thanh “tiếng gà” Người phụ nữ
ấy cũng trằn trọc cho đến sáng để rồi nghe âm thanh “tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” mà đauđớn, mà oán hận Ở đây, “hồng nhan” là nhan sắc của người phụ nữ vẫn còn ở độ mặn mà, cái
mà bất cứ ai cũng trân trọng Thế mà, nó lại kết hợp với từ “cái”- một danh từ chỉ loại thườnggắn với những thứ vật chất nhỏ bé, tầm thường Nàng tự thấy nhan sắc của mình quá nhỏ bé, rẻrúng bởi nó chẳng khác gì một thứ đồ ít giá trị, lại chẳng được ai đoái hoài đến Nó phải “trơ” ra,phô ra, bày ra một cách vô duyên, vô nghĩa lí giữa đất trời Từ “trơ” đứng đầu câu cho ta cảmnhận được nỗi xót xa, đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng của người phụ nữ một mình giữa đêm khuya,không ai quan tâm, đoái hoài Tuy có bẽ bàng, tủi hổ nhưng ta vẫn thấy ẩn khuất trong câu thơmột nữ sĩ mạnh mẽ, cá tính dám đem cái tôi cá nhân để đối lập với cả “nước non” rộng lớn HồXuân Hương là thế, không bao giờ chịu bé nhỏ, yếu mềm Hai câu đầu bằng cách khắc họa thời
Trang 4gian, không gian nghệ thuật và cách kết hợp từ độc đáo đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, đau đớn, tủi
hổ bẽ bàng trước tình duyên hẩm hiu của chính mình
Hai câu thực khắc họa sâu sắc sự phẫn uất trước tình cảnh éo le:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn”
Giữa đêm khuya, cô đơn và buồn tủi, nàng tìm đến rượu để quên đi tất cả nhưng nào quênđược “say lại tỉnh” Say, có thể quên đi được một chốc, nhưng đâu có thể say mãi, rồi sẽ lại
“tỉnh” ra Tỉnh ra lại càng ý thức sâu sắc hơn nỗi cô đơn, xót xa, lại càng buồn hơn Ẩn sau cáihành động tìm đến rượu để giải tỏa nỗi sầu là cả niềm phẫn uất sâu sắc trước số phận bất hạnh.Cụm từ “say lại tỉnh” cho thấy cái bế tắc, quẩn quanh trong nỗi buồn, cô đơn của người phụ nữ.nàng cô đơn nên tìm đến vầng trăng bên ngoài kia mong sự đồng cảm nàng thấy vầng trăng đã
“xế” bóng “khuyết chưa tròn” Nàng nhìn thấy số phận bất hạnh của mình trong hình ảnh vầngtrăng : nàng cũng đã ở tuổi “xế” chiều mà tình duyên vẫn hẩm hiu, lận đận, “chưa tròn” Ở haicâu này, bằng phép đối, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, nữ sĩ đã khắc họa nên tâm trạng bế tắc vànỗi phẫn uất sâu sắc trước duyên phận hẩm hiu, lỡ làng
Sang hai câu luận, dường như sự phẫn uất ấy biến thành sự chống trả kịch liệt:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”
Hai câu thơ được cấu tạo đặc biệt: đảo vị ngữ là những động từ mạnh lên đầu câu “Xiênngang” và “đâm toạc” là hành động của những vật vô tri vô giác Trong tự nhiên, rêu là sự vật
bé nhỏ, yếu mềm, thế mà ở đây dường như nó mạnh mẽ hơn, cứng cỏi thêm để “xiên ngang mặtđất” “Đá” là vật bất động, thế mà ở đây cũng đang to hơn, nhọn hơn, đang cựa quậy, “nổi loạn”phá tan không gian tù túng bị giới hạn bởi “chân mây” Hình ảnh thiên nhiên động, thiên nhiên
“nổi loạn” này không chỉ xuất hiện một lần mà còn có trong nhiều những tác phẩm khác của bà
Lí giải cho sự xuất hiện những hình ảnh thiên nhiên như thế là ở cá tính mạnh mẽ của nữ sĩ.Thiên nhiên được miêu tả thể hiện rõ tâm trạng con người, như đại thi hào Nguyễn Du từng đúckết về mối quan hệ giữa cảnh và tình : “Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ” Cảnh được miêu
tả là “nổi loạn”, là “phá bĩnh” thể hiện tâm trạng người phụ nữ lúc này cũng muốn “nổi loạn”,quẫy đạp để phá tan số phận bất hạnh, tình duyên hẩm hiu của mình Dường như, người phụ nữđang gồng mình lên để chống trả kịch liệt số phận Đó chính là thái độ phản kháng mạnh mẽ của
nữ sĩ trước thực tại đau buồn Đằng sau sự phản kháng mạnh mẽ ấy là khao khát sống, khao kháthạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của nữ sĩ Hai câu thơ, với phép đối, phép đảo nhấn mạnh hai động
từ mạnh đầu câu và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã cho thấy sự cố gắng vươn lên đấu tranh với
số phận, đồng thời cho thấy khát khao sống, khát khao hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt ở nữ sĩ xinhđẹp, tài năng mà cuộc đời không ưu ái Người đọc thật sự khâm phục trước bản lĩnh cứng cỏi,không chịu đầu hàng số phận của người phụ nữ cá tính ấy
Đến hai câu cuối bài thơ, tuy nàng đã cố gắng vươn lên nhưng không thoát khỏi cái thở dài ngán ngẩm trước bi kịch :
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,Mảnh tình san sẻ tí con con”
Nàng thở dài “ngán nỗi” Nàng chán ngán bởi “xuân đi xuân lại lại” Mùa xuân và vẻ đẹpcủa nó phai đi nhưng rồi sẽ quay trở lại theo quy luật của tạo hóa Nhưng “xuân” của người phụ
nữ, tuổi trẻ và sắc đẹp của nàng thì không thể nào trở lại được, mà cứ mỗi một mùa xuân trôi đi
là lại thêm một lần nữa tuổi xuân của đời người ra đi, thế nên nàng “ngán” Cụm từ “lại lại” nhưmột sự thở dài ngao ngán trước sự trôi chảy tàn nhẫn của thời gian Nó cứ trôi đi, không thèm để
ý đến cái bi kịch đang cướp đi tuổi trẻ của nàng : “mảnh tình san sẻ” Tình yêu của nàng vốn dĩmỏng manh, bé nhỏ, chỉ là một “mảnh”, thế mà còn phải san sẻ”, chia năm sẻ bảy ra thật tộinghiệp bởi vậy mà nó chỉ còn là một “tí” ‘con con” Nghệ thuật tăng tiến theo chiều giảm dầnkhiến người đọc thấy rõ cái bi kịch xót xa của nữ sĩ và cảm thương cho con người tài hoa mà
Trang 5bạc mệnh Bi kịch ấy đeo đẳng lấy người phụ nữ khiến nàng không chỉ thốt lên ngao ngán mộtlần Trong “Tự tình” (III) nàng cũng từng thở dài :
“Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh”
Đây cũng là một cách nói khác của bi kịch tình yêu bị chia năm sẻ bảy Nàng có chồng – “ômđàn” – nhưng lấy chồng mà vẫn “tấp tênh” như chẳng có, “một tháng đôi lần có cũng không”.Hai câu kết bài thơ với những từ ngữ giản dị, tự nhiên và nghệ thuật tăng tiến, người đọc cảmnhận được cái chán ngán khi rơi vào bi kịch của nữ sĩ Tuy thế, dư âm của cái khát khao sống,khát khao hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt ở hai câu trước vẫn khiến người đọc cảm phục bản lĩnhcứng cỏi của “bà chúa thơ Nôm”
Với ngôn ngữ thơ nôm giản dị, tự nhiên nhưng cũng sắc nhọn, với các biện pháp nghệthuật đảo, đối, dùng động từ mạnh, tả cảnh ngụ tình…bài thơ thể hiện tâm trạng vừa đau đớn,vừa phẫn uất trước duyên phận, nhưng vẫn cố gắng vươn lên với khát khao sống, khát khaohạnh phúc mãnh liệt, tuy vẫn rơi vào bi kịch
Tóm lại, “Tự tình” (II) thể hiện bản lĩnh Hồ Xuân Hương qua tâm trạng đầy bi kịch : vừa buồn tủi, phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được sống hạnh phúc Đọc bài thơ, ta vừa thương xót cho số phận bất hạnh, vừa khâm phục bản lĩnh cứng cỏi
của nữ sĩ Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho tài năng ngôn ngữ của “bà chúa thơ Nôm”
CÂU CÁ MÙA THU
Nguyễn Khuyến
-A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN:
I Giới thiệu tác giả và tác phẩm:
Nguyễn Khuyến là bậc túc nho tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nướcthương dân nhưng lại bất lực trước thời cuộc Ông được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình
làng cảnh Việt Nam” Nhắc đến ông, không ai lại không nhớ đến chùm thơ thu nức tiếng gồm ba bài, trong đó có “Câu cá mùa thu” (“Thu điếu”) (Nêu vấn đề theo đề bài).
II Khái quát về bài thơ:
Bài thơ nằm trong chùm thơ có đề tài về mùa thu gồm ba bài nức tiếng : “Thu vịnh”(“Vịnh mùa thu”), “Thu điếu” (“Câu cá mùa thu”) và “Thu ẩm” (“Mùa thu uống rượu”) Tácphẩm được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, có bố cục bốn phần :
Đề, thực, luận, kết
III Nội dung, nghệ thuật bài thơ:
1 Hai câu đề
- Nghệ thuật : phép đối, từ láy, vần “eo”
- Nội dung : giới thiệu mùa thu với hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối, hài hòa; bộc lộrung cảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp
2 Hai câu thực
- Nghệ thuật : lấy động tả tĩnh, phép đối, từ ngữ chọn lọc
- Nội dung : Tiếp tục nét vẽ về mùa thu với hình ảnh sóng biếc gợn thành hình, lá vàng rơithành tiếng, gợi vẻ tĩnh lặng của mùa thu
3 Hai câu luận
- Nghệ thuật : phép đối, từ ngữ chọn lọc
- Nội dung : Bức tranh thu được mở rộng ra cả về chiều cao và chiều sâu với nét đặc trưngcủa cảnh thu đồng bằng Bắc bộ thanh, cao, trong, nhẹ …
4 Hai câu kết
Trang 6- Nghệ thuật : từ ngữ chọn lọc, lấy động tả tĩnh.
- Nội dung : Hình ảnh của ông câu cá trong không gian thu tĩnh lặng và tâm trạng u buồntrước thời thế
5 Nghệ thuật cả bài thơ
- Bút pháp thủy mặc Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnh.
- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối
IV Ý nghĩa văn bản
Vẻ đẹp của bức tranh mùa thu, tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng thời thế củatác giả
B LUYỆN TẬP:
Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:
Đề 1 Phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) của nhà thơ Nguyễn Khuyến
Đề 2 Vẻ đẹp của bức tranh thu trong bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) của nhà thơ NguyễnKhuyến
Hướng dẫn luyện tập đề 1:
Tìm hiểu đề
1 Dạng đề : Phân tích một bài thơ.
2 Yêu cầu của đề :
- Yêu cầu về nội dung : Làm rõ nội dung, nghệ thuật của bài thơ
- Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như:chứng minh, bình luận, so sánh…
- Yêu cầu về tư liệu : Tư liệu chính là những câu thơ trong bài thơ đã cho, tư liệu có liênquan để bổ sung cho ý phân tích
-Lập dàn ý
I Mở bài : Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến, dẫn vào bài thơ Câu cá mùa thu” (Thu
điếu) Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật :
“Ghi nguyên văn bài thơ”
II Thân bài :
1 Khái quát : Nêu xuất xứ, thể loại, bố cục bài thơ.
2 Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ : Các ý chính cần phân tích
a Hai câu đề
- Phân tích : phép đối, từ láy, vần “eo”
- Làm rõ : giới thiệu mùa thu với hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối, hài hòa; bộc lộ rungcảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp
b Hai câu thực
- Phân tích : lấy động tả tĩnh, phép đối, từ ngữ chọn lọc
- Làm rõ : Tiếp tục nét vẽ về mùa thu với hình ảnh sóng biếc gợn thành hình, lá vàng rơithành tiếng, gợi vẻ tĩnh lặng của mùa thu
c Hai câu luận
Trang 7- Làm rõ : Hình ảnh của ông câu cá trong không gian thu tĩnh lặng và tâm trạng u buồntrước thời thế.
e Nghệ thuật cả bài thơ
- Bút pháp thủy mặc Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnh.
- Vận dụng tài tình nghệ thuật đối
bài, trong đó có “Câu cá mùa thu” (“Thu điếu”) Bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp hồn thơ Nguyễn Khuyến :
“Ghi nguyên văn bài thơ”
Bài thơ nằm trong chùm thơ có đề tài về mùa thu gồm ba bài nức tiếng : “Thu vịnh”(“Vịnh mùa thu”), “Thu điếu” (“Câu cá mùa thu”) và “Thu ẩm” (“Mùa thu uống rượu”), sángtác khi Nguyễn Khuyến đã từ quan về ở ẩn tại quê nhà Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, theothể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, có bố cục bốn phần : Đề, thực, luận, kết
Ngay từ đầu bài thơ, người đọc đã thấy không gian quen thuộc của một buổi câu cá:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Không gian ấy được mở ra bởi hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối, hài hòa : “ao thu” và
“thuyền câu” Đó là những hình ảnh quá đỗi thân thuộc với người dân vùng đồng bằng chiêmtrũng Bắc bộ Là “ao” chứ không phải là “hồ”, ao nhỏ hơn so với hồ Bởi vậy mà chiếc thuyềncâu “bé tẻo teo” xuất hiện giữa cái “ao”, tuy đối lập mà không trở nên lạc lõng, bất xứng; chúnglàm nên một bức tranh thu hài hòa, cân đối Ở câu đầu, thi nhân diễn tả cụ thể đặc điểm của “aothu” Có lẽ là đã vào cuối thu nên không khí ao thu đã nhuốm hơi thở của tiết trời mùa đông, trởnên “lạnh lẽo” Từ láy “lạnh lẽo” vừa gợi ra thời tiết se lạnh vừa diễn tả cái tĩnh lặng của khônggian Cả mặt nước tĩnh lặng khiến cho làn nước mùa thu vốn đã trong lại càng trong hơn Thinhân dùng từ “trong veo” để nói cái trong ấy Nước đã trong lại tĩnh lặng không gợn sóng nêndường như ngồi trên chiếc thuyền câu, ông có thể ngắm được rong rêu và cả bầu trời trong xanhphía dưới mặt ao Cảnh thu thật đẹp, thật trong trẻo, thanh sơ Hai câu thơ mà có đến bốn tiếng
có vần “eo”, không chỉ có tác dụng miêu tả không khí lạnh lẽo, không gian eo hẹp rất đặc trưngcủa ao hồ vùng chiêm trũng Bắc bộ, mà còn gợi ra cảm giác buồn bã, cô đơn trong lòng người.Như vậy, ngay từ những nét vẽ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được những rung cảm của tâmhồn thi sĩ trước cảnh đẹp mùa thu
Hai câu thực tiếp tục những nét vẽ về mùa thu :
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Tác giả vận dụng tài tình nghệ thuật lấy động tả tĩnh Tả cái động “hơi gợn tí” của sóng
và “khẽ đưa vèo” của lá rơi càng khắc họa nên cái tĩnh lặng của mùa thu làng quê Việt Nam xưa.Không gian có tĩnh lặng thì người ta mới nghe thấy những âm thanh rất nhỏ, rất khẽ ấy Khôngchỉ miêu tả cái tĩnh lặng, hai câu thơ còn tiếp tục làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo, nên thơ của mùathu Sóng ở đây là “sóng biếc”, sóng của làn nước trong ánh lên màu xanh ngọc bích Điểmxuyết giữa bức tranh thu ấy là màu vàng của chiếc lá thu rơi Cũng như các nhà thơ khác, mùathu gắn liền với lá vàng Thế nhưng, Nguyễn Khuyễn khác hẳn họ ở chỗ, màu vàng lá thu trongcâu thơ của ông chỉ điểm xuyết ít ỏi, chỉ len lỏi giữa màu xanh của làn nước, bầu trời, ngõtrúc…Ông không lấy màu vàng làm sắc màu chủ đạo, và màu vàng trong câu thơ cũng khôngphải là màu gợi ra sự héo úa, chết chóc Nó đơn thuần là màu vàng đặc trưng của mùa thu Việt
Trang 8Nam, không hề mang hơi hướng của màu vàng trong thơ ca về mùa thu của thi nhân Trung Hoaxưa Xuân Diệu cũng đã từng phát hiện ra điều này : “Cái thú vị của bài “Thu điếu” là ở các điệuxanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngangcủa chiếc lá thu rơi…” Đọc hai câu thực này, người đọc cũng không thể không chú ý vào chữ
“vèo” Thu đến, những chiếc lá đã bắt đầu rời khỏi cành mà không còn lưu luyến Chỉ cần mộtlàn gió nhẹ, chiếc lá vàng đã nhanh chóng đánh “vèo” xuống mặt ao Không biết, sau này, Tản
Đà có ảnh hưởng của Nguyễn Khuyến hay không mà cũng viết : “Vèo trông lá rụng đầy sân”(“Cảm thu, tiễn thu”) và từng tâm sự rằng cả một đời thơ, ông chỉ vừa ý với câu thơ ấy Tóm lại,hai câu thực vẫn tiếp tục là bức tranh thu trong trẻo, tĩnh lặng, nên thơ; qua đó người đọc cảmnhận được tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ
Đến hai câu luận, không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu :
“Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắtNgõ trúc quanh co, khách vắng teo”
Trên cao là bầu trời cao, rộng, thoáng đãng, “xanh ngắt” với những áng mây “lơ lửng”giữa không trung Cái màu “xanh ngắt” là nét đặc trưng đặc biệt của bầu trời thu quê hương cụTam Nguyên Yên Đổ, bởi vậy mà bài thơ nào trong chùm thơ thu cũng có màu xanh ấy :
“Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”
(Thu vịnh)
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”
(Thu ẩm)Trên nền trời xanh là những áng mây “lơ lửng” Từ láy này diễn tả những áng mây dườngnhư không trôi theo làn gió mà ngưng đọng lại lưng chừng trời; đồng thời gợi ra trạng thái mơmàng của con người Dưới mặt đất là “ngõ trúc” “quanh co”, ngoằn ngoèo, sâu hun hút, không
hề có bóng người lại qua Từ “quanh co” không chỉ tả con ngõ nhỏ sâu hun hút mà còn gợi chongười đọc liên tưởng đến những suy nghĩ không thông thoát của con người, khiến con ngườibuồn, bởi vậy cảnh tuy đẹp mà tĩnh lặng, đượm buồn Đằng sau bức tranh phong cảnh, ta vẫncảm nhận được tâm hồn tha thiết với thiên nhiên
Tới hai câu kết, người đọc mới thấy bóng dáng của người đi câu cá :
“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”
Con người hiện ra trong tư thế nhàn “tựa gối buông cần” “Buông” cần chứ không phải là
“ôm” cần, bởi từ này diễn tả con người đang thả lỏng cần câu, ngồi câu mà không chú ý đếnviệc câu Đó chính là hình ảnh của nhà thơ trong những ngày từ quan lui về ở ẩn Chốn quantrường khiến ông “chướng tai gai mắt”, ông tìm về quê nhà với thú vui điền viên Ông đi câuchẳng qua là để tìm một chốn thanh tĩnh mong thoát khỏi những ý nghĩ về thời cuộc Thế nhưng,
có lẽ, Nguyễn Khuyến không thể làm được Đi câu mà chẳng hề chú ý đến việc câu, tâm trí ôngphải chăng cứ miên man trong những suy nghĩ không nguôi về non sông, đất nước, bởi thế màhình như ông giật mình khi nghe tiếng cá “đâu” đó đớp động dưới chân bèo Tiếng cá đớp mồidưới chân bèo đã rất khẽ, rất nhẹ, lại còn là tiếng ở đâu đó vọng lại, thế mà vẫn đủ sức làm ônggiật mình Phải thật sự tập trung suy nghĩ thì mới như thế Ở đây, hình ảnh người đi câu cá mangđậm dáng dấp của những “ngư, tiều, canh, mục” đời xưa, họ đều là những con người muốn lánhđục tìm trong, chờ thời đợi thế, những nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc
Với bút pháp thủy mặc Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnhđồng thời với việc vận dụng tài tình nghệ thuật đối, Nguyễn Khuyễn đã vẽ nên bức tranh thutrong trẻo, thanh sơ, tĩnh lặng và đượm nỗi buồn man mác từ cõi lòng thi nhân
Tóm lại, “Thu điếu” thực sự là bài thơ “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh ViệtNam” (Xuân Diệu) Qua bài thơ, ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạngthời thế của tác giả Bài thơ nói riệng, chùm thơ thu nói chung sẽ còn mãi trong lòng người yêuthơ bao thế hệ
Trang 9
THƯƠNG VỢ
Trần Tế Xương
-A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN:
I Giới thiệu tác giả và tác phẩm:
Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX Tuy cuộc đờingắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử Sáng tác của ông
có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳnmột đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó cóbài thơ “Thương vợ” Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú
II Khái quát về bài thơ:
Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ Bài thơ đượcviết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần : đề, thực,luận, kết Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thươngchồng thương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ vànhân cách cao cả của ông Tú
III Nội dung, nghệ thuật bài thơ:
3 Hai câu luận :
- Nghệ thuật : phép đối, vận dụng thi liệu dân gian (thành ngữ); giọng thơ mang âm hưởngdằn vặt, vật vã
- Nội dung : Bình luận về cảnh đời oái oăm mà bà Tú phải gánh chịu, cho thấy ông Tú thấuhiểu tâm tư của vợ, thương vợ sâu sắc
4 Hai câu kết :
- Nghệ thuật : sử dụng khẩu ngữ; lời thơ giản dị, tự nhiên
- Nội dung : tiếng chửi – tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc; bộc lộ nhân cách đángtrọng của ông Tú
5 Nghệ thuật cả bài thơ :
- Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng
IV Ý nghĩa văn bản:
Chân dung người vợ trong cảm xúc yêu thương cùng tiếng cười tự trào và một cách nhìn
về thân phận người phụ nữ của Tú Xương
B LUYỆN TẬP:
Trang 10Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:
Đề 1 Phân tích bài thơ “Thương vợ” của nhà thơ Trần Tế Xương
Đề 2 Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam qua hình tượng người vợ trong bài thơ “Thươngvợ” của nhà thơ Trần Tế Xương
Hướng dẫn luyện tập đề 1:
Tìm hiểu đề
1 Dạng đề : Phân tích một bài thơ.
2 Yêu cầu của đề :
- Yêu cầu về nội dung : Làm rõ nội dung, nghệ thuật của bài thơ
- Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như:chứng minh, bình luận, so sánh…
- Yêu cầu về tư liệu : Tư liệu chính là những câu thơ trong bài thơ đã cho, tư liệu có liênquan để bổ sung cho ý phân tích
-Lập dàn ý
I Mở bài : Giới thiệu tác giả Trần Tế Xương, dẫn vào bài thơ “Thương vợ” Nêu vấn đề: Bài
thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật :
“Ghi nguyên văn bài thơ”
II Thân bài :
1 Khái quát : Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, bố cục bài thơ, nội dung chính của bài thơ.
2 Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ : Các ý chính cần phân tích
c Hai câu luận :
- Phân tích : Phép đối, vận dụng thi liệu dân gian (thành ngữ); giọng thơ mang âm hưởngdằn vặt, vật vã
- Làm rõ : Bình luận về cảnh đời oái oăm mà bà Tú phải gánh chịu, cho thấy ông Tú thấuhiểu tâm tư của vợ, thương vợ sâu sắc
d Hai câu kết :
- Phân tích : Sử dụng khẩu ngữ; lời thơ giản dị, tự nhiên
- Làm rõ : Tiếng chửi – tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc; bộc lộ nhân cách đáng trọngcủa ông Tú
e Nghệ thuật cả bài thơ :
- Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng
III Kết bài:
Kết luận về nội dung, nghệ thuật và nêu ý nghĩa bài thơ
Bài viết
Trang 11Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX Tuy cuộc đờingắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử Sáng tác của ông
có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳnmột đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó có
bài thơ “Thương vợ” Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú:
“Ghi nguyên văn bài thơ”
Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ Bài thơ được viếtbằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận,kết Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thương chồngthương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ và nhâncách cao cả của ông Tú
Ngay đầu bài thơ, hình ảnh bà Tú đã hiện ra :
“Quanh năm buôn bán ở mom sôngNuôi đủ năm con với một chồng”
Câu đầu nói về thời gian và không gian làm việc của bà Tú Bà phải làm việc vất vả “quanhnăm”, suốt bốn mùa không ngơi nghỉ, cứ hết ngày này sang ngày khác, hết năm này qua nămkhác, không kể nắng mưa Bà làm việc vất vả quanh năm suốt tháng như thế ở “mom sông”, nơi
có mỏm đất nhô ra ven bờ sông chênh vênh, nguy hiểm Bà phải cật lực buôn bán ở một nơinguy hiểm như thế để đảm bảo kinh tế gia đình, “nuôi đủ” chồng và con Câu hai cho thấy gánhnặng gia đình trên vai bà Tú Đặc biệt, cách nói về gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảmnhiệm thật độc đáo : “năm con với một chồng” Dường như, ông Tú đang tự đặt mình lên bàncân và thấy một mình ông “nặng” bằng năm đứa con Bà Tú phải nuôi ông bằng nuôi thêm nămđứa con nữa Cách nói ấy gợi ra nụ cười mỉa mai chính mình của ông Tú: hóa ra, mình cũng chỉ
là một thứ con cần phải nuôi Nhận ra mình là một gánh nặng trên đôi vai gầy của vợ cho thấyông Tú hết sức biết ơn người vợ tần tảo của mình Hai câu thơ đầu, bằng việc khắc họa thờigian, không gian làm việc của bà Tú và cách đếm con đếm chồng tếu táo của ông Tú, tác giả đã
vẽ ra bức chân dung bà Tú tần tảo, đảm đang, chịu thương chịu khó và cho thấy tấm lòng tri ân
vợ của nhà thơ
Hai câu tiếp theo tiếp tục khắc họa hình ảnh bà Tú :
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Hai câu thơ có cấu tạo đặc biệt: đảo vị ngữ lên đầu câu, nhấn mạnh hai từ láy gợi hình Bà
Tú phải “lặn lội” sớm hôm, chạy vạy ngược xuôi “khi quãng vắng” Công việc khiến bà Tú phảithức dậy đi làm từ khi mọi người vẫn đang còn ngủ và trở về nhà khi mọi người đều đã sum họpbên gia đình, khi bên ngoài đường đều là những “quãng vắng” có phần nguy hiểm với mộtngười phụ nữ Câu thơ đầu sử dụng hình ảnh ẩn dụ quen thuộc của ca dao Việt Nam là “con cò”.Trong ca dao, hình ảnh con cò thường tượng trưng cho người lao động, đặc biệt là người phụ nữlam lũ, nghèo khổ, bất hạnh Cách sáng tạo hình ảnh “con cò” thành “thân cò” để chỉ bà Tú vừacho thấy sự lam lũ, vất vả, cực nhọc đến tội nghiệp, đáng thương của bà Tú, vừa cho thấy tìnhthương mà ông Tú dành cho bà Chẳng những phải vất vả thức khuya dậy sớm mà bà Tú cònphải chịu những khó khăn chồng chất trong công việc buôn bán Khi chợ đã đông, đã lắm kẻ bánngười mua, bà không tránh khỏi phải chịu những điều tiếng kêu ca, phàn nàn “eo sèo” của kháchhàng Cả hai câu thơ, với việc sử dụng phép đối, phép đảo và những từ láy gợi hình cùng vớihình ảnh ẩn dụ quen thuộc, nhà thơ đã khắc họa những vất vả, khổ cực của bà Tú, từ đó gợi rahình ảnh một người vợ lam lũ, chịu thương chịu khó vì chồng con Qua đó cũng cho thấy sựthấu hiểu, tình yêu thương của ông Tú với người vợ tảo tần
Hai câu luận vẫn là hình ảnh bà Tú :
“Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công”
Trang 12Hai câu thơ mà có đến hai thành ngữ để nói về bà Tú “Một duyên hai nợ” là thành ngữcho thấy nỗi vất vả của bà: chỉ có một cái “duyên” may mắn với ông Tú mà bà lại chịu đến “hainợ”, hai gánh nặng là chồng và con Nhưng bà không hề kêu ca, phàn nàn, không than trời kêuđất mà vui vẻ chấp nhận như đó là số phận của mình, “âu đành phận” Nỗi vất vả và đức hi sinhcủa bà Tú không chỉ có thế Dù phải “năm nắng mười mưa”, đi trưa về tối thì bà vẫn “dám quảncông”, bà không kể công lao, không quản ngại gian khó Bà chịu đựng hi sinh tất cả để lo chogia đình, bà không nghĩ gì cho riêng bản thân mình Hai câu luận này, bằng phép đối và vậndụng sáng tạo thành ngữ, nhà thơ đã hoàn thành nốt bức chân dung về phẩm cách cao quý của
bà Tú : lòng yêu thương chồng con và đức hi sinh cao cả Ở hai câu thơ này, giọng thơ chùngxuống mang âm hưởng dằn vặt, vật vã, gợi ra một tiếng thở dài nặng nề, chua chát của một ôngchồng cảm thấy mình vô dụng, phải để vợ một mình gồng gánh việc gia đình Điều đó chứng tỏtấm lòng yêu thương vợ rất mực của Tú Xương
Nếu như sáu câu đầu là bức chân dung bà Tú: tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha được vẽ bằng tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ hết mực của ông Tú thì đến hai câu cuối, ông đã mượn lời bà Tú để cất lên tiếng chửi :
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”
Câu trên, ông sử dụng khẩu ngữ “cha mẹ” để chửi “thói đời” làm bà Tú khổ “Thói đời”
ấy là cái “thói” phổ biến trong xã hội phong kiến cũ: chồng là nhà nho thì chỉ biết ăn, học, lềuchõng thi cử, còn vợ lại một mình lo kinh tế gia đình, chèo chống giang sơn nhà chồng Chửithói đời đen bạc chưa hả, ông quay sang chửi chính mình là “chồng hờ hững”, là ông chồng vôtích sự, không làm gì được cho vợ đỡ khổ, lại còn “ăn bám” vợ có lẽ tự giận mình quá nên ông
Tú đã quá lời chửi mình là đồ “chồng hờ hững” chứ thực ra, một người phát hiện ra, biết trântrọng và hết lời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của vợ, còn tự nhận ra thiếu sót của mình mà
tự lên án mình gay gắt như thế thì cũng không phải đến nỗi là “hờ hững” Là một nhà Nho vớitính tự trọng cao và đặc biệt là sống trong xã hội mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, vậy
mà ông vẫn tỏ ra rất kính trọng người vợ của mình, chẳng những thế còn tự nhận khuyết điểmcủa mình một cách chân thành, tự chửi mình chứng tỏ ông Tú là con người có nhân cách đángtrọng hai câu thơ cuối bài với ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên, vận dụng khẩu ngữ đời thường,tác giả bộc lộ sự xót xa vì cảnh làm chồng mà để vợ phải nuôi, trở thành gánh nặng cho vợ;đồng thời cũng thể hiện nhân cách cao đẹp của ông Tú
Trong văn học trung đại Việt Nam, không thiếu những bài thơ viết về vợ nhưng chỉ mỗi
Tú Xương nhận ra được vẻ đẹp tâm hồn của người vợ ngay trong cuộc sống đời thường và viết
về bà ngay khi bà còn sống có thể nói rằng, tuy có vất vả, cực khổ nhưng được chồng trântrọng, yêu thương, ngợi ca như thế thì bà Tú cũng mát lòng mát dạ mà hãnh diện với cuộc đời
Cả bài thơ, với việc vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian cùng với sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình, Tú Xương đã gửi đến người đọc một cách nhìntiến bộ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ
“Thương vợ” là bài thơ viết về vợ hay và cảm động nhất của Tú Xương Bài thơ đã
vẽ nên bức chân dung bà Tú mang những phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam : tầntảo, đảm đang, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vịtha Qua đó cũng cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ rất mực và nhân cách cao cả của
Tú Xương Đọc xong bài thơ, không ai lại không cảm mến bà Tú và cảm động trước tình cảmchân thành mà ông Tú dành cho vợ Và chắc rằng, bà vợ nào cũng sẵn sàng chịu đựng vất vảkhó nhọc mà vẫn luôn vui vẻ nếu có được ông chồng biết yêu thương, trân trọng vợ như ông Tú.Cách nhìn về thân phận người phụ nữ khiến người đọc nhìn lại, ngẫm về người vợ, người mẹcủa mình và thấy yêu thương, trân trọng, biết ơn họ
Trang 13HAI ĐỨA TRẺ
- Thạch Lam –
A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN:
I Giới thiệu tác giả và tác phẩm:
Trang 14Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc
của nền văn học hiện đại Việt Nam giai
đoạn 1930 -1945 Ông là nhà văn đôn hậu
và rất đỗi tinh tế Ông thường viết những
“truyện không có chuyện”, mỗi truyện như
một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạmnhưng chứa đựng biết bao tình cảm yêu mếnchân thành và sự nhạy cảm của nhà văn trướcnhững biến thái của cảnh vật và lòng người.Một trong những truyện ngắn tiêu biểu chophong cách ấy của ông là “Hai đứa trẻ”
II Khái quát về tác phẩm:
“Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) Không có cốt truyện đặc biệt,
“Hai đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình miêu tả cảnh vật và con người ở một phố huyện nghèo lúcchiều tàn cho đến đêm khuya khi có con tàu chạy qua Chỉ có vậy nhưng “Hai đứa trẻ” vẫn có sứchấp dẫn người đọc trong hơn nửa thế kỉ qua
III Nội dung văn bản
Theo chuẩn kiến thức – kĩ năng : Phố huyện lúc chiều tàn; phố huyện lúc đêm khuya; phố
huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua
1 Phố huyện lúc chiều tàn :
- Đó là cảnh chiều tàn với âm thanh báo hiệu “tiếng trống thu không trên cái chòi củahuyện nhỏ từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”; với nền trời phương tây “đỏ rực như lửacháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại…”;văng vẳng âm thanh của “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” Đó là
“một chiều êm ả như ru”, không gian ấy khiến cho “Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòngbuồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”
- Đó còn là cảnh chợ tàn : buổi chợ ở một vùng quê nghèo “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏbưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía” “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cátbụi quen thuộc” khiến chị em Liên “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” Trên nền đấtchỉ còn lại rác rưởi ấy còn mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ đang “nhặt nhạnh thanh nứa,thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại” Nhìn chúng, Liênthấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó
2 Phố huyện lúc đêm khuya :
- Khung cảnh thiên nhiên và con người : “ngập chìm trong đêm tối mênh mông” Đường phố
và các con ngõ chứa đầy bóng tối (ánh sáng chỉ hé ở “khe”cửa của một vài cửa hàng, ở “quầngsáng” quanh ngọn đèn chị Tí, nơi “chấm lửa” nhỏ ở bếp lửa của bác Siêu và từng “hột” sáng lọtqua phên nứa từ hàng của Liên.)
- Nhịp sống của những người dân lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ với những độngtác quen thuộc, những suy nghĩ, mong đợi như mọi ngày Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho
sự sống nghèo khổ hằng ngày”
- Tâm trạng của Liên : nhớ lại những ngày tháng tươi đẹp ở Hà Nội ; buồn bã, yên lặng dõitheo những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ; cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọngtrong bóng tối của họ
3 Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua :
Phố huyện sáng bừng lên và huyên náo trong chốc lát rồi lại chìm vào bóng tối Chị emLiên hân hoan hạnh phúc khi tàu đến, nuối tiếc, bâng khuâng lúc tàu qua Con tàu mang theo mơước về một thế giới khác sáng sủa hơn và đánh thức trong Liên những hồi ức lung linh về Hà Nội
xa xăm
Ý nghĩa của chuyến tàu đêm : là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàusang và rực rỡ ánh sáng Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanhcủa người dân phố huyện
Trang 15Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồnchán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn Đó là giá trị nhân bảnsâu sắc của truyện ngắn này.
IV Nghệ thuật truyện
- Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật
- Bút pháp tương phản, đối lập
- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người
- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng
- Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng
V Ý nghĩa văn bản:
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối vớinhững kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trướccách mạng và sự trân trọng với những mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ
B LUYỆN TẬP:
Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về tác phẩm truyện, học sinh luyện tập với các đề sau:
Đề 1 Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam
Đề 2 Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyệnngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam
Hướng dẫn luyện tập đề 1:
Tìm hiểu đề
1 Dạng đề: Phân tích một vấn đề (tâm trạng nhân vật) trong tác phẩm truyện.
2 Yêu cầu của đề:
- Yêu cầu về nội dung: Làm nổi bật tâm trạng của nhân vật Liên
- Yêu cầu về thao tác: Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứngminh, bình luận, so sánh…
- Yêu cầu về tư liệu: Dẫn chứng là những từ ngữ, câu văn, chi tiết tiêu biểu ở văn bản trongsách giáo khoa Ngữ văn 11
Lập dàn ý
I Mở bài: Giới thiệu tác giả Thạch Lam, dẫn vào truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Nêu
vấn đề: Truyện miêu tả sâu sắc tâm trạng nhân vật Liên – cô gái mới lớn có tâmhồn nhạy cảm và trái tim tràn đầy yêu thương
II Thân bài:
1 Khái quát: Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, tóm tắt truyện.
2 Phân tích :
a Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc chiều tàn
- Trước cảnh chiều tàn với âm thanh báo hiệu “tiếng trống thu không trên cái chòi củahuyện nhỏ từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”; với nền trời phương tây “đỏ rực như lửacháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại…”;văng vẳng âm thanh của “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” Đó là
“một chiều êm ả như ru”, không gian ấy khiến cho “Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòngbuồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”
- Trước cảnh chợ tàn : buổi chợ ở một vùng quê nghèo “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏbưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía” “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát
Trang 16bụi quen thuộc” khiến chị em Liên “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này” Trên nền đấtchỉ còn lại rác rưởi ấy còn mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ đang “nhặt nhạnh thanh nứa,thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại” Nhìn chúng, Liênthấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó.
b Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc đêm khuya
- Khung cảnh thiên nhiên và con người : “ngập chìm trong đêm tối mênh mông” Đườngphố và các con ngõ chứa đầy bóng tối (ánh sáng chỉ hé ở “khe”cửa của một vài cửa hàng, ở
“quầng sáng” quanh ngọn đèn chị Tí, nơi “chấm lửa” nhỏ ở bếp lửa của bác Siêu và từng “hột”sáng lọt qua phên nứa từ hàng của Liên.)
- Nhịp sống của những người dân lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ với những độngtác quen thuộc, những suy nghĩ, mong đợi như mọi ngày Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho
sự sống nghèo khổ hằng ngày”
- Tâm trạng của Liên : nhớ lại những ngày tháng tươi đẹp ở Hà Nội ; buồn bã, yên lặng dõitheo những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ; cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọngtrong bóng tối của họ
c Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua
Phố huyện sáng bừng lên và huyên náo trong chốc lát rồi lại chìm vào bóng tối Chị emLiên hân hoan hạnh phúc khi tàu đến, nuối tiếc, bâng khuâng lúc tàu qua Con tàu mang theo mơước về một thế giới khác sáng sủa hơn và đánh thức trong Liên những hồi ức lung linh về Hà Nội
xa xăm
Ý nghĩa của chuyến tàu đêm : là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàusang và rực rỡ ánh sáng Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanhcủa người dân phố huyện Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những conngười đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn
3 Nghệ thuật miêu tả tâm trạng:
- Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật
- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người
- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng
- Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng
Truyện đã miêu tả sâu sắc tâm trạng nhân vật Liên – một cô gái mới lớn với tâm hồn nhạy cảm và trái tim tràn đầy yêu thương
“Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) Không có cốt truyện đặc biệt,
“Hai đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình miêu tả cảnh vật và con người ở một phố huyện nghèo lúcchiều tàn cho đến đêm khuya khi có con tàu chạy qua Chỉ có vậy nhưng “Hai đứa trẻ” vẫn có sứchấp dẫn người đọc trong hơn nửa thế kỉ qua
Khi chiều về, trước cái giờ khắc của ngày tàn, nhìn thấy “những đám mây hồng như hòn
than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại cắt hình rõ nét trên nền trời”, nghe thấy “tiếng trốngthu không”, “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào, Liên thấy cái buồncủa buổi chiều quê “thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị, Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy
Trang 17lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn” Nỗi buồn man mác dù không hiểu sao lại buồn
ấy là biểu hiện của một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật thiên nhiên
Trời tối hẳn, các nhà đã lên đèn, “chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu” Chứng kiến cảnh chợ
tàn của một vùng quê nghèo, “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía”, “hơinóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” khiến Liên thấy lòng xao xuyến, cô tưởng như
đó là “mùi riêng của đất, của quê hương này” Nhìn thấy những đứa trẻ con nhà nghèo đang tìmtòi nhặt nhạnh những thứ còn có thể dùng được của các người bán hàng để lại trên nền đất rácrưởi, Liên thấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có gì để mà cho chúng Cáiđộng lòng của Liên là biểu hiện của một tấm lòng nhân hậu, một trái tim giàu tình thương, đócũng chính là cái động lòng trắc ẩn của nhà văn trước những kiếp người nghèo khổ
Chứng kiến cảnh mẹ con nhà chị Tí với gánh hàng nước nghèo, với cuộc sống “ngày thì mòcua bắt tép, tối đến mở gánh hàng nước, nhưng chị Tí cũng chẳng kiếm được là bao”, Liên cóchút gì đó xót xa, thương cảm, nỗi buồn trong Liên vì thế như càng khắc sâu hơn Tuy vậy, chịcũng có một thoáng vui, đó là khi dọn hàng Chiếc chìa khóa và dây xà tích bạc khiến Liên “hãnhdiện”, vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang Nhưng niềm vui kéo dài chẳng được baolâu Nó chợt vụt tắt khi bà cụ Thi hơi điên xuất hiện Bà vào hàng Liên mua rượu khiến chị thấy
“lòng hơi run sợ” Nhìn cụ cùng với tiếng cười “khanh khách” nhỏ dần, hai chị em Liên đứngsững nhìn theo cụ Hình ảnh bà cụ Thi đã gieo vào lòng Liên một cảm giác khắc khoải
Khi trời bắt đầu đêm, “một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”, “đường
phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối”, chỉ còn lại những khe sáng lọt ra từ vài cửa hàngcòn thức, nghe tiếng trẻ con vui đùa, An thèm muốn nhập bọn, nhưng hai chị em đành lặng lẽquan sát vì sợ trái lời mẹ dặn Bầu trời đêm mùa hạ có hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh,chúng thu hút ánh mắt của hai chị em Liên Nhưng vũ trụ lại thăm thẳm bao la đối với tâm hồnhai đứa trẻ như “chứa đầy bí mật xa lạ” và “làm mỏi trí nghĩ” hai chị em lại quay về với mặt đất,nơi có quầng sáng xung quanh ngọn đèn dầu lay động trên chõng hàng chị Tí Rồi, khi từ xa, xuấthiện chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng, đó là gánh hàng phở của bác Siêu, thì An tỏ ra mừng rỡ Có
lẽ, có thêm bác Siêu thì không gian nơi phố huyện sẽ bớt buồn tẻ hơn chăng? Hay gánh phở vớimùi thơm ngào ngạt ấy gợi một kỉ niệm không quên? Đó là kỉ niệm về một Hà Nội “sáng rực, lấplánh” mà bây giờ trong Liên đã không còn rõ rệt gì Nhớ về Hà Nội, Liên lại thấy lòng buồn hơn,bởi từ khi về phố huyện nhỏ này, cuộc sống của Liên chỉ quanh quẩn nơi gian hàng gần gốc câybàng với cái tối xung quanh
Càng về đêm, trời càng tối hơn, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua
chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa” Ánh sáng trên phố huyện giờ chỉ còn là
“ngọn đèn con” của chị Tí, cái bếp lửa của bác Siêu và ngọn đèn vặn nhỏ trong cửa hàng của Liênhắt ra ngoài những “hột sáng” Trên phố huyện, có thêm một gia đình bác xẩm với manh chiếu,chiếc thau sắt trắng để trước mặt nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe Câu chuyện rời rạc,
tẻ nhạt của chị Tí với bác Siêu cùng với mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng của bác xẩmcàng làm cho phố huyện tĩnh lặng hơn Chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gìtươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ Tất cả họ đang cố thức đợi chuyến tàu đêmcuối cùng đi qua, mong bán thêm được chút hàng
Cũng như họ, tuy đã “buồn ngủ ríu cả mắt” nhưng chị em Liên vẫn “gượng để thức khuya chút nữa” để chờ đoàn tàu đi qua dù “không trông mong còn ai đến mua nữa” Chị
em Liên cố thức là “vì cớ khác” : muốn được nhìn đoàn tàu từ Hà Nội đi qua phố huyện Ánhsáng của đèn ghi xuất hiện từ xa khiến An như mừng rỡ : “Đèn ghi đã ra kia kìa!” Rồi đoàn tàuđến mang theo những cửa kính sáng rực chiếu ánh cả xuống đường, những người, đồng và kềnsáng lấp lánh Thoáng hân hoan, hạnh phúc ấy qua mau, con tàu vụt đi vào đêm tối, Liên vẫn còn
“lặng theo mơ tưởng” Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳnđối với Liên, khác hẳn cái quầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu Đoàn tàu ấyvới các toa đèn sáng trưng như là một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánhsáng Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố
Trang 18huyện Con tàu chỉ xuất hiện trong giây lát nhưng nó đã khuấy động trong lòng hai đứa trẻ mộtước mơ, dù chỉ là mơ hồ, về một sự đổi thay, về một thế giới tươi đẹp đáng sống hơn Hình ảnhhai chị em Liên và những người dân phố huyện đêm nào cũng cố thức đợi chuyến tàu và “lặngtheo mơ tưởng” là biểu hiện của ước mơ còn mơ hồ trong họ : ước mơ vươn tới một thế giới đầyánh sáng, muốn phủ định thực tại tầm thường nhạt nhẽo, quẩn quanh với bóng tối dày đặc hàngđêm Thạch Lam đã rất tinh tế nhận ra điều đó và miêu tả lại với một sự nâng niu, trân trọng vô
bờ Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán,sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn
Đoàn tàu đi qua, An đã ngủ, Liên cũng đến bên em nằm xuống Một cảm giác mơ hồ,
mong manh, chập chờn, xa xôi đưa Liên vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm trong phố huyện, tịchmịch và đầy bóng tối Có lẽ, đó là cảm giác bâng khuâng, nuối tiếc của Liên khi tàu qua, phốhuyện trở lại với cái tối cố hữu của nó
Không có một cốt truyện hấp dẫn, một tình huống li kì nhưng truyện vẫn tạo được sự chú ý,
thu hút của người đọc bởi tài năng khắc họa tâm lí nhân vật của nhà văn Ông đã khám phá, miêu
tả những rung động thoáng qua, những cảm giác tinh vi của nhân vật Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ýnghĩa tượng trưng và giọng điệu thủ thỉ giàu chất thơ cũng là nét đặc sắc nghệ thuật góp phần làmnên sự lôi cuốn kì lạ của tác phẩm
Tóm lại, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã miêu tả tinh tế, sâu sắc tâm trạng của nhân vật Liên Qua đó, người đọc thấy được Thạch Lam “lặng lẽ hướng về người nghèo với niềm cảm
thương chân thành” (Nguyễn Hoành Khung) đồng thời hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn
Đó cũng là một đóng góp mới của ông cho tư tưởng nhân đạo trong văn học giai đoạn 1930 –1945
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Nguyễn Tuân
-A ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN