1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

6 sinh lý nội tiết ôn nội trú

27 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh Lý Nội Tiết - Ôn Nội Trú
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Sinh lý nội tiết
Thể loại Giáo trình ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 7,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SINH LÝ NỘI TIẾT2 nguyên tắc chính: - Tương tác hormon và thụ thể tương ứng - Tương tác trục hạ đồi-tuyến yên và các tuyến nội tiết đích nằm ở phần bên dưới của cơ thể - Ngay từ thời La

Trang 1

6 SINH LÝ NỘI TIẾT

2 nguyên tắc chính:

- Tương tác hormon và thụ thể tương ứng

- Tương tác trục hạ đồi-tuyến yên và các tuyến nội tiết đích nằm ở phần bên dưới của cơ thể

- Ngay từ thời La Mã nta đã biết đến hoạt động của ngoại tiết như bài xuất dịch tiêu hóa, tuyến mồ hôi, tuyến bã, tuyến nhầy…

-

Trang 2

Endocrinology: nội tiết

Neuroendocrinology: thần kinh nội tiết Biotechnology: kỹ thuật xét nghiệm Replacement theraphy: điều trị thay

thế hormon  điều trị được nhiều bệnh lý mà trước đây nta cho rằng ko

rõ nguyên nhân hoặc ko có phương pháp để điều trị

Trang 3

Tuyến ngoại tiết: tác động ở một nơi

nhất định -> khi có bệnh lý -> bệnh lý chỉ khu trú tại vị trí dịch tiết tiết raTuyến nội tiết: tác động nhiều cơ quan -

> bệnh lý xảy ra có triệu chứng đa dạng,toàn thân, hầu như cơ quan nào cũng bịảnh hưởng và thay đổi trong quá trình bệnh lý nội tiết xảy ra -> khó chẩn đoán bệnh do triệu chứng quá nhiều dễ chồng lấp với bệnh lý các cơ quan khác

Exocrene Gland: tuyến ngoại tiết -> đặc trưng là lớp Tb biểu mo bao xung quanh

1 ống dẫn ở giữa để dẫn chất tiết có thể

là men tiêu hóa, chất nhầy, chất bã đi lên bề mặt cơ thể hoặc vào 1 khoang nào đó

Tuyến nội tiết: bao gồm 1 khối TB biểu

mô chế tiết, không có ống dẫn bên trong, được bao quanh bới hệ thống mạch máu xung quanh -> đẫn chất tiết đến đến toàn cơ thể

Tuyến nội tiết: TB chế tiết tiết hormon

vào máu -> vận chuyển đên tb đích nằmrất xa vị trí tb chế tiết ban đầu

Trang 4

- Trên bề mặt TB đích có các phân tử gị

là receptor Gắn Hormon theo sự tương

ứng về cấu hình trong không gian 3 chiều, giống ổ khóa (receptor) và chìa khóa(hormon)

- Có nhiều dạng tương tác thông tin khác nhau trong cơ thể:

 Autocine: tự tiết Tb tiết ra

hormon và hormon này quay lạitác động lên chính nó

 cả 3 đều là hình thức tác động của nội tiết

- Hệ TK: điều hòa bằng sự dẫn truyền

các xung thần kinh -> diễn ra rất nhanh, trong thời gian ngắn, nhanh hết

Hệ nội tiết: chậm tác dụng hơn, nhưng hiệu quả kéo dài lâu hơn hệ TK

- Tuyến nội tiết lớn: trục Hạ đồi –Tuyến

yên, tuyến ức, tuyến thượng thận, tuyến tụy, tuyến sinh dục ( buồng trứng, tính hoàn)

- Bài này chỉ đề cấp các tuyến nội tiết cóchức năng nội tiết đơn thuần

- Hệ TK chính là kiểu tác động

Paracrine 2 tb tương tác với nhau qua

synap Tai sypnap, Tb dẫn truyền 1 phóng thích neurone transmitte (chất dẫn truyền tk) tác động lên thụ thể nằmtrên màng sau synape ở neurone thứ 2

- Giữa hệ TK và nội tiết tuy khác nhau

về giải phẫu nhưng về mặt hoạt động thì chung đó là tb 1 tiết ra các chất tác động lên tb 2 chỉ khác là Nội tiết chọn con đường máu đến tb ở xa, Thần kinh chọn con đường Paracine

 hệ TK và hệ nội tiết có phương thức hoạt động gần gũi nhau, chức phận cũng giống nhau là điều hòa toàn bộ cơ thể Là 2 hệ thống cơ quan lớn nhất có

Trang 5

vai trò tối quan trọng trong cơ thể

Dạng này lai (nửa TK, nửa nội tiết):

Neurone tiết ra hormon -> máu -> tác động ở tb xa Những TB này gọi là tb TK-nôi tiết, chính lá hoạt động của trục hạ đồi-tuyến yên Đây cũng đóng vai trò trung tâm làm chủ của toàn bộ hệ thống nội tiết trong cơ thể

Đây là các tuyến nội tiết chính trong cơ thể

Trang 6

Đây là hình ảnh các hormon tiết ra từ các tuyến nội tiết

 Tuyến giáp: Thyroxin

 Tuyến cận giáp: PTH

 Tuyến thượng thận: Cortisol, Adosterone, catecholamin (adrenaline ở vùng tủy)

 Tuyến tụy: insulin, glucagon

 Buống trứng: Estradiol, Progesterol

 Tinh hoàn: Testosterone

 Các tuyến nội tiết đích nằm bên dưới cơ thể: mỗi tuyến thường tiết khoảng 1-2 hormon

 Vùng hạ đồi tiết (màu xanh dương), tuyến yên (màu đỏ): tiết ra >6 hormon Đây là 2 tuyến nội tiết

có trọng lượng và tỉ lệ nhỏ nhất trong cơ thể nhưng làm nhiệm vụ điều hòa tất cả các tuyến còn lại Mỗi loại hormon trên này tiết ra điều khiển 1 tuyến bên dưới

Vai trò của hormon trong điều hòa cảm xúc Nhất là những hormon tiết ra từ trục hạ đồi yên đóng vai trò nhưu neurone tranmite hoạt động trên hệ trục TK

Thay đổi của nồng độ dopamin, serotonin, oxytoxin trong máu liên quanđến cảm xúc khác nhau

Vui: serotonin tăng lên tới đỉnh, Dopamin và Oxytoxin giảm thấp

Trang 7

Serotonin và Oxytoxin giảm thấp

Cả 3 chất đều tăng cao

Trang 8

Hóa học và cảm xúc liên quan đến sự điều hòa hormon

Toàn bộ hệ nội tiết có 3 nhóm chức năng chính:

1 Tăng trưởng: GH, insulin, hormon tuyến giáp( kích thích sự phát triển não bộ)

2 Duy trì sự hằng định nội môi: dảm bảo môi trường ổn định giúp sự chuyểnhóa của tb diễn ra bình thường VD: glucose trong máu được điều hòa bởi insulin và glucagon, Na và K được điều hòa với Aldosterone, Ca máu được điềuhòa bởi PTH và canxitonin

3 Hoạt động sinh sản: Buồng trứng tinh hoàn

 Tóm lại, có 3 chữ: tăng trưởng, nội môi, sinh sản

- Chia làm 2 nhóm: (sự phân loại này ko chỉ đúng với Hormon mà còn đúng với hầu hết các chất hiện

diện trong cơ thể, vd: vitamin, các chất dinh dưỡng, các chất đưa vào từ thức ăn…)

Trang 9

- Theo nguyên tắc, HR tan trong nước có thể vận chuyển tự do trong huyết tương mà ko cần gắn với

protein tự do HR tan trong lipid vận chuyển cần gắn với protein hoặc nằm trong các đại phân tử lipoprotein

- Khi HR tan trong nước di chuyển đến mô đích sẽ gặp rào cản là màng Phospholipid kép của tế bào, làm cho chúng ko di chuyển qua màng TB được vì thế chúng tác động lên thụ thể nằm trên bề mặt thế bào Trong khi những HR tan trong lipid thi đi xuyên qua lớp phospholipid rất dễ, tác động lên thụ thế nằm trong khu vực nội bào.

- Sau khi sử dụng xong, HR tan trong nước được đưa về thận -> HR nhỏ hơn kích thước lỗ lọc cầu

thận-> thải ra ngoài HR tan trong lipid gắn với protein ko thể qua được lỗ lọc thận -> đưa về gan để được gan thực hiện quá trình khử độc  chuyển từ chất ko tan được trong nước thành chất tan được trong nước

- Như vậy, tính chất tan trong nước hay tan trong lipid rất quan trọng, đối với HR, các chất dinh

dưỡng đưa và cơ thể, các vitamin và các thuốc…

- HR tan trong nước có rất nhiều loại  ko nhớ hết được -> nhớ bằng cách loại trừ Có 3 nhóm HR tan trong lipid đến từ 3 tuyến vỏ thượng thận(Cortisol và Aldosteron), sinh dục (estrogen,

progesterine, testosterone), tuyến giáp (T3,T4), còn có Calcitriol (Vit D)

Tương ứng với 2 loại HR tan trong nước

và tan trong mỡ thì có 2 loại thụ thể: TTmàng và TT nhân

Các HR tan trong nước gắn lên TT màng

 thay đổi các phản ứng sinh hóa tại tếbào ( tức là nó ko kích thích tb tạo ra protein mới mà nó hoạt hóa hoặc bẩt hoạt những protein, enzyme có sẵn) -> hiệu quả tác dụng nhanh, trong thời gian ngắn (khi HR tách ra khỏi TT thì cácphản ứng sẽ chấm dứt và tb trả vê trạng thái ban đầu)

Trong khi đó, các HR tan trong lipid gắn

lên TT nội bào -> nguyên phức hợp

HR-TT di chuyển vào trong nhân gắn lên vùng gene khới động và làm gia tăng quá trình phiên mã, dịch mã -> tạo ra các protein mới Thời gian để có tác dụng thường chậm ( vài tiếng -> 1 ngày), nhưng kéo dài rất lâu Do đó khi dùng HR tan trong lipid làm thuốc cần lưu ý điều này để tránh các tác dụng ko mong muốn trong điều trị VD: dùng Cortisol kéo dài-> HC Cushing -> cho BN

Trang 10

cắt Corticoid -> vài tháng sau BN vẫn còn triệu chứng HC Cushing

Thụ thể của HR tan trong nước

Thu thể màu tím nằm trên màng tb, đồng thời cũng là 1 kênh ion Khi ligand đến gắn trên thụ thể thì kênh mở ra chophép ion Ca tràn và tb làm thay đổi điệnthế màng, thay đổi sự co cơ và các hoạt động bên trong màng tb

Protein G thường gồm 3 tiểu đơn vị: alpha, beta, gamma Khi hormon màu xanh gắn lên thụ thể, protein G sẽ bị kích hoạt tách ra Thành phần G-alpha thường đóng vai trò hoạt động, nó có thể đi đến kích thích mở kênh ion, hoặc hoạt hóa 1 enzyme nằm ở vị trí khác trên màng tb

Trang 11

Kết quả mở 1 kênh ion để đi vào tb VD:

tb cảm nhận ánh sáng phần thị giác

- G-alpha hoạt hóa enzyme phospholipase C nằm trên màng tb, enzyme này giúp chuyển hóa

Phospholipid màng chuyển hóa thành 2 chất: IP3 (itocetontriphosphat) và DAG (Dyaxylglycerone)

- IP3 gắn lên thụ thể của nó nằm trên kênh ion trên màng lưới nội chất -> Ca tràn ra ngoài -> kích hoạt

Calmodulin -> Protein kinase -> Protein P -> thay đổi phản ứng bên trong tb

- DAG hoạt hóa Protein kinase C -> … -> chuỗi đáp ứng tức thời, xảy ra ngay lập tức tại tb

Trang 12

G-alpha hoạt hóa enzyme adenylate cyclase chuyển hóa ATP -> cAMP -> hoạt hóa những enzyme khác trong

tb -> thay đổi hoạt động tb

Nhóm protein G gặp trong 70-80% các HR tan trong nước

Thụ thể dành cho các yếu tố tăng

trưởng nên thường có chữ GF ( grow

là chuỗi beta gắn với 1 chuỗi axit amin

Bình thường những phân tử thụ thể sẽ tồn tại thành từng chiếc riêng lẽ, khi có

HR tới thì nó sẽ dimer hóa ( gắn 2 thụ thể rời thành 1 cặp), đồng thời gắn 2 HR( yếu tố tăng trưởng) vào đầu alpha -> chuỗi a.a bên trong sẽ tự phát protein hóa -> kích hoạt những enzyme khác trong khu vực nội bào

Trang 13

Tóm lại, có 4 loại thụ thể với HR cơ bản:

3 thụ thể tan trong nước ( TT liên kết với kênh ion, TT liên kết protein G, TT liên kết với enzyme-điển hình là tyroxin kinase), 1 thụ thể nội bào dành cho HR tan trong lipid

HR chui thẳng qua màng tb -> gắn lên thụ thể -> phức hợp HR-TT di chuyển vào nhân gắn lên vũng gen khởi động trên DNA -> mở gene cấu trúc phía sau -

> mRNA -> Protein: thức hiện chức năng của HR Lúc này, cho dù HR có bị phân hủy hay rời khỏi tb nhưng nếu protein chưa bị hủy thì chức năng của

HR với TB vẫn được thể hiện -> thời gian tác dụng thường kéo dài lâu

Thụ thể đặc hiệu nằm trên màng tb tương tự HR tan trong nước

Trang 14

Phức hợp HR-protein vận chuyển gắn với TT trên màng tb, sau đó thực hiện quá trình Endocytosis (nhập bào) Khi vào trong tb mới tách HR ra riêng -> HR này gắn lên các TT trong tb để thực hiệntác động

Trục khép kín

Hố này có hình dạng giống cái yên ngựa

TY sau: phóng thích các HR theo nhu cầu của cơ thể

Trang 15

Tại trung não: có 1 khối hình elip là đồi thị Bên dưới là vùng hạ đồi

(Hypothalamus: là vùng nằm phía dưới

và phiá trước của đồi thị, là trung tâm

hệ thống nội tiết), phân biệt với

Subthalamus nằm ở phía dưới và sau của đồi thị

Nối dài ra tuyến yên Con đường tiếp xúc với TY qua phẫu thuật là phẫu thuậtnội soi xoang mũi khi mỏ u tuyến yên

Tuyến yên tách thành 2 phần: yên trướcmàu nâu nhạt, yên sau có màu nâu đậm( cũng màu với vùng hạ đồi) Vùng hạ đồi và vùng tuyến yên sau có cùng nguồn gốc Tuyến yên sau là vùng nối dài của trục hạ đồi, bao gồm tập hợp sợi trục của các tb neurone của trục hạ đồi

Toàn bộ tuyến yên trước, sau nằm trong hố yên của nền sọ

Trang 16

Tạo từ 2 phần có nguồn gốc hoàn toàn khác nhau:

Túi Rathke sẽ tạo thành yên trước ( yên tuyến) gọi là Adenohypophysis ( là phần

có chức năng chế tiết, là tuyến thực sự)Phía sau là Neurohypophysis (yên thần kinh) nguồn gốc từ Diencephalon (não trung gian)

FSH, LH tác động lên cả buồng trứng và tinh hoàn

Trang 17

Ngoài ra, tuyến yên trước còn tiết ra MSH -> kích thích tb da tiết melatonin (tb sắc tố) để chống lại tia cực tím Tiết Endorphins (chất giảm đau nội sinh) có vai trò làm giảm cảm giác đau đẫn truyền về hệ TKTW với các hoạt động hằng ngày như cử động, ăn uống, đi lại,

co thắt tiêu hóa … Nếu dùng liên tục lâudài morphin sẽ làm trục hạ đồi lúc nào cũng hiểu là cơ thể đã đủ endorphine

và sẽ ko tiết ra nữa theo cơ chế điều hòa ngược

Khi BN đang dùng morphine mà ngưng đột ngột -> đau dữ dội với các hoạt động thường ngày Muốn cai nghiện thì

BN phải vượt qua được thòi kỳ này, chờđến khi tuyến yên tiết được Endophine nội sinh

Tuyến yên sau dự trữ 2 HR: AVP(arginin vasopressin) hay còn gọi là ADH, Oxytoxin

Có 2 nhân tương ứng: nhân cạnh não thất và nhân trên thị Cả 2 nhân đều tiếtđược cả 2 HR nhưng với mức dộ khác nhau

Trang 18

Có 2 nhân tương ứng: nhân cạnh não thất và nhân trên thị.

Nhân trên thị tiết ra 5/6 là ADH ( màu tím), 1/6 còn lại là Oxytoxin

Nhân cạnh não thất tiết ra 5/6 là Oxytoxin (màu hồng), 1/6 ADH

ADH đi xuống thận -> kích thích mở kênh Aqua porin 2 để tái hấp thu nước tại tb biểu mô ống lượn xa và ống góp khoảng 10-20% lượng nước -> cô đặc nước tiểu

Phóng lớn ống góp lên

Trang 19

Thụ thể ADH (màu đỏ): là thụ thể liên kết với protein G biến đổi ATP -> cAMP hoạt hóa protein kinase A -> đưa các kênh aquaporine 2 hòa màng -> nước đi qua kênh này và được hấp thu tại ống góp

HR liên quan đến chuyển dạ

Khi phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh, đầu em bé chút xuống cổ tử cung làm nong CTC -> CTC dãn ->

luồn thần kinh đi về não kích thích vùng HĐ-TY phóng thích Oxytoxin -> kích thích toàn bộ khối cơ tử cung ->

co bóp cơ tử cung -> cơn gò chuyển dạ -> tống đứa bé ra ngoài

Khi em bé ra ngoài, Oxytoxin tiếp tục kích thích co cơ tử cung giúp đẩy bánh nhau ra, và cầm máu ngăn chặn

băng huyết dau sinh

Trong sản khoa ứng dụng Oxytoxin bằng cách tiêm 1 liều để thúc đẩy chuyển dạ và liều thứ 2 giúp co hồi tử cung

Khi cho con bú, động tác mút núm vú -> dẫn truyền TK hướng tâm đến hạ đồi -> kích thích tiết 2 HR

prolactin và Oxytoxin giúp tiết sữa và đẩy sữa ra Oxytoxin giúp co thắt ống dẫn sữa đẩy sữa ra

Cho con bú càng sớm càng tốt sau sinh, cho bú cả 2 bên

Oxytoxin còn đóng vai trò của HR tình yêu Khi 2 cơ thể tiếp xúc với nhau, cả 2 đều tiết Oxytoxin giúp đạt

cực khoái trong giao hợp Khi nghe nhạc hay nhìn cảnh vật yêu thương, cơ thể cũng tiết Oxytoxin làm cho cảm thấy đẽ chịu, ấm áp

Sinh ngã âm đạo mới tiết Oxytoxin, sinh mổ thì giảm lương Oxytoxin -> sau sinh mổ dễ nhiễm trùng hậu sản

do ko đủ Oxytoxin làm cơ tử cung ko co thắt tốt để đẩy sản dịch ra ngoài -> dễ phong bế sản sinh -> thuận lợi cho vi khuẩn phát triển -> biến chứng thường gặp ở phụ nữ sinh mổ ngày nay

Trang 20

Phụ nữ sau sinh mổ có biến chứng trầm cảm nhiều hơn so vưới sinh thường

Đây là vùng chứa những Tb thần nội tiết ( neuron này ko tiết ra neuronetranmiter để liên hệ với các neurone khác mà ngược lại nó tiết HR theo hệ mạch cửa đến tuyến yến trước)

kinh-Hệ mạch máu ở vùng này nối hạ đồi với tuyến yên trước

Mạng mạch máu mang những HR tiết ra

từ vùng hạ đồi tác động lên tuyến yên trước

Lấy máu tĩnh mạch có thể đo được các

HR đích (tuyến giáp, tuyến thượng thận,…), HR của TY vẫn đo được ( FSH,

LH, TSH,…), tuy nhiên HR của vùng hạ đồi ko định lượng được trong máu ngoại vi vì lượng HR đi từ hạ đồi xuống tác động lên yên trước đã hết rồi, lượngcòn lại ra được máu ngoại biên là rất thấp nên ko thể định lượng được

Trang 21

R: release : HR kích thích

I: inhibitin : HR ức chế

2 HR GH và Prolactine có 2 cặp kích

thích và ức chế

PRH tiết ra để kích thích tiết sữa

PIH tiết ra thường xuyên để ngăn tiết sữa bất thường

Phụ nữ ko mang thai, nam mà có tiết sữa -> bất thường hỏi BN có dùng thuốc gì ko?(Sulpirid) Nếu BN ko dùng thuốc thì nghĩ đến u tiết prolactine (prolactinoma) thường nằm tại tuyến yên -> cho BN chụp CT/MRI não sẽ thấy

Gần như hệ nội tiết họat động theo 3 tầng (hạ đồi, tuyến yên trước, tuyến đích)

Tên gọi khác của PIH là DopamineTH: thyroxin hormon

Tên gọi khác của GHIH là Somatostatin

GH thường được tiết vào ban đêm

Điều hòa ngược

Trang 22

Ngoài ra, còn có điều hòa ngược dương tính, kích thích lên hoạt động của tuyến yên- hạ đồi gặp trong hoạt động của estrogen.

Vùng hạ đồi tiết HR xuống tuyến yên trước kích thích tiết HR tác động lên tuyến đích -> tạo đáp ứng Nếu tiếp tục

để nó hoạt động thì sẽ gây ra cường năng tuyến nội tiết -> chính HR của tuyến nội tiết bên dưới theo máu lên gắn với thụ thể của nó ở trục hạ đồi yên

để tạo ra hiện tượng ức chế điều hòa ngược âm tính Chính sự điều hòa ngược âm tính tạo ra chiều ngược lại là cho sự tương tác của hạ đồi- tuyến yên

và tuyến đích bên dưới là sự tương tác

2 chiều Giữ cho HR của toàn bộ tuyến nội tiết trong cơ thể ổn định -> 3 chức năng (tăng trưởng, sinh sản, nội môi) mới ổn định theo được

Ngày đăng: 16/04/2023, 11:57

w