Microsoft Word 13 Benh TN 2011 Benh ho ga doc Giáo trình Bệnh nhiễm 227 HO GÀ (Pertussis) ThS Bs Hoàng Trường MỤC TIÊU 1 Trình bày ngắn gọn được đặc điểm dịch tễ học bệnh ho gà trên thế giới và Việt N[.]
Trang 12 Trình bày được cơ chế bệnh sinh của bệnh ho gà
3 Mô tả đặc điểm lâm sàng của các thể lâm sàng bệnh ho gà
4 Chẩn đoán phân biệt bệnh ho gà với các bệnh lý gây khác
5 Trình bày được các biện pháp phòng ngừa ho gà cho cá nhân và cộng đồng
I ĐẠI CƯƠNG :
1 Định nghĩa:
Ho gà là bệnh nhiễm trùng cấp tính lây qua đường hô hấp do vi khuẩn
Bordetella pertussis và Bordetella parapertussis gây ra Biểu hiện của bệnh là
những cơn ho đặc trưng, kịch phát, dữ dội, không thể kìm chế được, kéo dài kèm ói sau ho và sự gia tăng đáng kể bạch cầu lympho trong máu ngoại biên
1679 Sydenham người đầu tiên đặt tên bệnh là pertussis.Theo tiếp đầu ngữ
Latin, per có nghĩa là trầm trọng và tussis nghĩa là ho
1906 Trực khuẩn ho gà lần đầu tiên được Jules Bordet và Octave Gengou phân lập từ một bệnh nhi mắc bệnh ho gà và sau đó khoảng giữa những năm 1940 họ bào chế được vắc-xin ngừa hệnh ho gà đầu tiên
1923 Bergey và cộng sự đặt tên cho trực khuẩn này là Hemophilus Pertussis
1952 Moreno Lopez đã chứng minh trực khuẩn ho gà không có liên quan với
kháng nguyên của giống Hemophilus và đặt lại tên là Bordetella pertussis
2002 toàn bộ genome của B pertussis (gồm 4,086,186 cặp base) được xác định
Do tính chất ho đặc biệt mà bệnh ho gà được gọi theo nhiều tên khác nhau tùy theo ngôn ngữ sử dụng: Mỹ :whooping cough (ho kèm hít vào mạnh đột ngột); Tây Ban Nha: tos ferina , Ý: tosse canina ( tiếng chó sủa) ; Pháp: coque luche
(ho gà ) và Trung Quốc thì có tên là " ho 3 tháng 10 ngày "…
Trang 2II DỊCH TỄ HỌC:
1 Mầm bệnh:
Trực khuẩn ho gà thuộc họ Alcoligenacae, giống Bordetella Họ Alcaligenaceae là một họ mới được De Lay đề xuất năm 1986, gồm giống Alkaligenes và Bordetella Giống Bordetella hiện nay gồm 8 loài : B pertussis, B.parapertussis, B chronchiseptica, B.avium, B.hinzii, B.holmessi, B.trematum
và B.petrii Trong đó chỉ có mình B pertussis là có khả năng sản xuất độc tố
ho gà Ngoài ra B pertussis còn được phân biệt với các loài Bordetella khác bởi tính chất không di động và các đặc tính sinh hóa khác
Bệnh ho gà chủ yếu do B pertussis gây ra, một số ít trường hợp do B parapertussis gây ra (5%) nhưng thường bệnh cảnh lâm sàng nhẹ hơn Ngoài ra Bordetella pertussis còn có thể gây viêm tai giữa
Vi khuẩn Bordetella pertussis thuộc loại trực-cầu trùng Gram âm nhỏ, nhọn ở
hai đầu, có vỏ bọc, không sinh nha bào, hiếu khí tuyệt đối, kích thuớc 0,2-0,5 x 0,5-1,5 µm, đứng đôi hoặc riêng rẽ, không di động
B Pertussis là vi khuẩn đề kháng yếu với ngoại cảnh (nhiệt độ, hóa chất, tia
cực tím ) Chúng chết rất nhanh khi ra ngoài cơ thể Dưới ánh sáng mặt trời vi khuẩn chết sau 1 giờ và ở nhiệt độ 55oC chết sau 30 phút
Hình 1 Vi khuẩn Bordetella pertussis
B pertussis thuộc dạng vi khuẩn khó nuôi cấy, mọc chậm Khi mới phân lập
chúng không mọc trên các môi trường dinh dưỡng thông thường mà chỉ mọc trong môi trường cấy chuyên biệt (môi trường Bordet-Gengou) với nhiệt độ thích hợp nhất là 37oC Trên môi trường Bordet-Gengou, sau khoảng 5-7 ngày, B pertussis mọc thành những khuẩn lạc nhỏ, hình vòm nhẵn bóng như
giọt thủy ngân Khi chuyển cấy nhiều lần, B pertussis trải qua 4 pha :
Pha I (pha S) : Chỉ mọc trên môi trường chuyên biệt, tính chất khuẩn lạc như đã
mô tả ở trên, có đầy đủ ngưng kết nguyên, độc tố và kháng nguyên ngưng kết hồng cầu của vi khuẩn ho gà
Pha IV (pha R) : là giai đoạn cuối cùng của thoái hóa tự phát Khuẩn lạc sù xì, mọc trên được môi trường cấy thông thường, không độc, không có các kháng nguyên như ở pha I
Pha II và III là dạng trung gian giữa pha I và IV
Trang 3Sự biến đổi pha có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sản xuất vaccin : vaccin ho gà chỉ có hiệu lực khi chọn đúng vi khuẩn đang ở pha I
Tăng bám dính vào biêu mô hô hấp Nhạy cảm với histamin
Kích thích tiết insulin Tăng lympho bào Kích thích tạo Interleukin 4 và Ig E
PT Bên ngoài tế bào
Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu
TCT Bên ngoài tế bào Tăng sự tổng hợp Interleukin 1 và NO Chưa rõ Không
Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu Thúc đẩy hiện tượng chết theo chương trình đối với đại thực bào
Gia tăng quá trình tổng hợp AMP vòng trong tế bào
Màng tế bào Hoạt tính tương tự như LPS của vi khuẩn
Gram âm Gây sốt, phản ứng tại chỗ (ho)
Có thể quan trọng
Trong bào tương Làm tổn thương tế bào Chưa rõ Không
Yếu tố liên quan đến sự bám dính (Adhesin factors)
Tăng tính bám dính vào bề mặt biểu mô
B pertussis sản xuất ra một số hóa chất có tính sinh học được cho rằng đóng
vai trò trong cơ chế bệnh sinh và tạo miễn dịch Đó là các ngưng kết tố FHA (filamentous hemagglutination), PRN (perpactin), protein màng ngoài 69 kDA
và lông tua; các loại độc tố như độc tố ho gà PT, độc tố ACT (adenylate
Trang 4nhiệt HLT Vi khuẩn còn tiết ra các chất khác như yếu tố định cư, yếu tố chống xâm nhập vào hệ tuần hoàn, yếu tố chống bị tiêu diệt BrkA
Các thành phần của vi khuẩn B pertussis và vai trò của chúng trong cơ chế
bệnh sinh và đáp ứng miễn dịch được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Người ta cho rằng sự điều hòa sản xuất phần lớn các thành phần trên liên quan tới một gen, và gen này liên quan đến sự thay đổi của vi khuẩn ho gà trong các pha nuôi cấy
Trong các thành phần trên thì độc tố ho gà (PT: Pertussis toxin) là có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh và được nghiên cứu nhiều nhất
1.2 Độc tố ho gà một protein có phổ tác động sinh học khá rộng Ngoại độc
tố này gồm hai thành phần: thành phần B (Binding: gắn dính) gồm 4 tiểu đơn vi S2-S4 đóng vai tròn trong việc gắn dính vào tế bào biểu mô hô hấp Phần A (Active: hoạt động) gồm một tiểu đơn vi S1, là chất ức chế protein G của tế bào đích ( một protein gắn kết với guanosine triphosphate (GTP)), gây ra nhiều tác động sinh học khác nhau Dựa vào hoạt tính sinh học, PT còn có nhiều tên gọi khác nhau như: yếu tố tăng lympho bào – LPF (lymphocytosis promoting factor); protein hoạt hóa vùng đảo tụy – IPA(islet activating protein); yếu tố nhạy cảm với histamin – HSF (histamin sensitizing factor).PT có lẽ đóng vai trò quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất trong cơ chế bệnh sinh của bệnh ho gà
Hình 2 Độc tố ho gà
2 Nguồn bệnh:
Người là nguồn bệnh duy nhất của vi khuẩn ho gà Những người bệnh ho gà là nguồn lây duy nhất Đặc biệt là ở những bệnh nhân bị ho gà thể không điển hình (thường xảy ra ở trẻ lớn và người lớn) rất hay bị bỏ sót chẩn đoán, chính các đối tượng này không bị cách ly nên sẽ lây lan rất rộng cho xung quanh và đây là nguồn lây bệnh quan trọng
Cho tới nay vẫn chưa xác nhận tình trạng người lành mang khuẩn mặc dù trong các vụ dịch người ta phát hiện có người mang vi khuẩn không triệu chứng
Trang 5nhưng thoáng qua.Tình trạng “mang mầm bệnh thoáng qua” này có vẻ không phải là nguồn lây bệnh quan trọng vì những đối tượng này không ho
3 Đường lây truyền bệnh:
Bệnh lây trực tiếp bằng đường hô hấp do vi khuẩn có trong các hạt nước bọt, chất tiết bắn ra từ đường mũi, miệng khi bệnh nhân ho, hắt hơi Trong trường hợp cơn ho gà điển hình, phạm vi lây bệnh là trong vòng 3 mét
Đây là bệnh rất hay lây và lan nhanh, khả năng lây lan của bệnh thay đổi từ 100% tùy theo điều kiện tiếp xúc Nếu người bị phơi nhiễm có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh có những cơn ho dữ dội thì khả năng lây nhiễm lên đến 100%
50-Bệnh lây lan mạnh nhất trong giai đoạn viêm long và giảm nhanh sau đó Nguy cơ lây bệnh sẽ không còn sau 5 ngày điều trị với kháng sinh nhạy cảm Tuy nhiên ở bệnh nhân không được điều trị, sự lây lan bệnh vẫn còn kéo dài khoảng 3 tuần hoặc hơn kể từ khi khởi phát cơn ho điển hình
Vi khuẩn ho gà rất kém chịu đựng với ngoại cảnh, chết rất nhanh khi ra ngoài nên không lây gián tiếp qua các đồ dùng sinh hoạt cá nhân của bệnh nhân
4 Cơ thể cảm thụ:
Tuy bệnh thường gặp ở trẻ em nhưng ho gà có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả người già và hiện nay nhìn chung tỉ lệ bệnh ho gà đang có xu hướng gia tăng ở trẻ lớn và người lớn
Ở vùng có tỉ lệ phủ vaccin thấp hoặc các nước việc chủng ngừa ho gà hạn chế (Đức, Thụy Điển…), bệnh ho gà tập trung ở nhóm tuổi 1-5 tuổi, trẻ em dưới 1 tuổi ít bị hơn (dưới 15% tổng số ca ho gà) và trẻ sơ sinh ít khi bị ho gà vì được nhận kháng thể chống ho gà từ mẹ truyền qua trong lúc mang thai
Ngược lại, ở các nước có tỉ lệ phủ vaccin cao, tỉ lệ bệnh ho gà ở trẻ em dưới 1 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất Trẻ lớn và người lớn chiếm tỉ lệ cao thứ hai (tại Mỹ 50% bệnh ho gà xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi và hơn 25% ho gà ở trẻ lớn và người lớn) Trẻ lớn và người lớn dễ bị ho gà do thiếu miễn dịch với bệnh ho gà vì không có sự tái nhiễm ho gà tự nhiên hoặc không được chủng ngừa nhắc lại vaccin ho gà Trẻ dưới 1 tuổi dễ bị ho gà vì mẹ không có kháng thể để truyền cho con và do trẻ ở nhóm tuổi này (đặc biệt ở trẻ dưới 3 tháng) có thể chưa được chích ngừa đủ 3 mũi vaccin ho gà ban đầu
Ở trẻ em, nam và nữ có tỉ lệ mắc bệnh ho gà ngang nhau, trong khi đó ở người lớn thì nữ chiếm tỉ lệ nhiều hơn nam ( 67% ở đối tượng trên 20 tuổi bị ho gà là nữ)
Bệnh ho gà thường đi kèm với những bệnh làm giảm sức đề kháng của cơ thể như bệnh sởi chẳng hạn
Trang 65 Tính sinh miễn dịch:
Cả hai cơ chế bảo vệ không đặc hiệu ( phản ứng viêm tại chỗ, gia tăng hoạt tính thực bào, sản xuất interferon) và đặc hiệu (tăng sinh lympho B và lympho T) đều tham gia trong bệnh ho gà
Sau khi chủng ngừa vaccin ho gà đáp ứng miễn dịch dịch thể đã được biết khá
rõ bởi sự gia tăng nồng độ kháng thể Ig G và Ig M
Sau khi mắc bệnh ho gà cơ thể xuất hiện các kháng thể Ig A tiết, IgM và IgG trong huyết thanh (trong đó anti-PT, anti_FHA được cho là hai Ig G quan trọng) có tác dụng bảo vệ chống nhiễm khuẩn
Ig G thường xuất hiện từ tuần thứ 3, đạt mức cao nhất vào tuần thứ 8-10 của bệnh sau đó giảm dần và tồn tại nhiều năm Ig M xuất hiện sớm hơn và đôi khi vẫn có thể tồn tại nhiều tháng sau nhiễm trùng
Vai trò của miễn dịch tế bào trong ho gà vẫn chưa được biết đầy đủ
Miễn dịch, có được khi mắc bệnh ho gà hoặc do chủng ngừa, không phải là vĩnh viễn Miễn dịch thường chỉ có hiệu lực bảo vệ tốt trung bình khoảng 4-5 năm (có thể tới 12 năm) sau chủng ngừa và khoảng 10-15 năm (có thể tới 20 năm) sau mắc bệnh ho gà
6 Tình hình bệnh ho gà trên thế giới và Việt nam:
Hình 3 Tình hình bệnh ho gà trên thế giới
Kể từ khi có vaccin ho gà, tỉ lệ bệnh đã giảm đi một cách ngoạn mục trong vài thập kỉ qua Trong thời kỳ trước khi có vaccin, ho gà là một trong những bệnh thường gặp nhất ở trẻ em với tỉ lệ bệnh mới hàng năm khoảng 150- 200 ca/100.00 dân, sau khi vaccin ho gà được đưa vào sử dụng đại trà thì tỉ lệ mắc bệnh giảm hơn 90% Tuy nhiên kể từ những năm 90, nhất là tại các nước phát triển, bệnh ho gà lại trỗi dậy và có xu hướng gây bệnh cho đối tượng trẻ lớn và người lớn ngày một nhiều hơn Chu kỳ dịch xảy ra là mỗi 2-5 năm và chu kỳ này hầu như vẫn không thay đổi kể từ trước khi có vaccin ( không giống như các bệnh lý truyền nhiễm có thể ngừa bằng vaccin khác : Thường chu kỳ dịch của các bệnh này sẽ không còn hoặc thưa hơn sau khi có vaccin)
Trang 7Ví dụ điển hình tại Mỹ, trước khi có vaccin tỉ lệ bệnh mới hàng năm khoảng
157 ca/100.000 dân, sau vaccin ho gà được đưa vào sử dụng thì tỉ lệ này giảm còn < 1ca/100.000 vào năm 1970 Vào những năm 1984 tỉ lệ bệnh ho gà bắt đầu gia tăng trở lại với tỉ lệ bệnh mới hàng năm lên đến 9/100,000 dân và chu
kì dịch là 2-5 năm một lần Người ta cũng bắt đầu nhận thấy có một sự gia tăng đều đặn tỉ lệ bệnh ho gà tại Mỹ , đặc biệt ở lứa tuổi trẻ dưới 1 tuổi , trẻ lớn
và người lớn : Trong giai đoạn từ 1990 đến 2003 tỉ lệ bệnh mới ở trẻ lớn tăng gấp 10 lần Năm 2000, tỉ lệ bệnh ho gà ở trẻ dưới 7 tháng là 24%, trẻ lớn là 36%, và người lớn là 20% Trong năm 2004, đã có sự gia tăng tỉ lệ bệnh mới gần 19 lần ở nhóm đối tượng 10-19 tuổi và khoảng 16 lần ở nhóm đối tượng trên 20 tuổi so với những năm 1990-1993
Hiện tại bệnh ho gà vẫn là bệnh lưu hành xảy ra quanh năm, là nguyên nhân tử vong quan trọng ở trẻ dưới 1 tuổi và tiếp tục là vấn đề quan trọng của sức khỏe cộng đồng ngay cả với các nước có tỉ lệ phủ vaccin cao Đánh giá gần đây của
tổ chức y tế thể giới, năm 2003 trên thế giới có khoảng 17.6 triệu trường hợp
ho gà, 90% xảy ra ở các nước đang phát triển và có khoảng 279,000 trường hợp
tử vong vì ho gà và cũng nhấn mạnh thêm rằng , trong năm 2003, chính chương trình tiêm chủng chống bệnh ho gà đã giúp tránh được 38,8 triệu trường hợp mắc bệnh ho gà và 60700 trường hợp tử vong do ho gà trên toàn cầu
Trước tình hình gia tăng trở lại một cách đáng ngại của bệnh ho gà, kèm theo
sự tái phân bố lại lứa tuổi mắc bệnh và gia tăng tỉ lệ tử vong do bệnh ho gà ở trẻ nhỏ Vào năm 2000, một chương trình hành động toàn cầu về ho gà (Global Pertussis Initiative) được thành lập, đây là một diễn đàn của các chuyên gia y tế trên khắp thế giới trao đổi, phân tích tình trạng ho gà trên toàn cầu, đánh giá chương trình tiêm chủng ho gà của các quốc gia nhằm mục đích cải thiện tình trạng bệnh ho gà trên toàn cầu
Tại Việt nam, vaccin ho gà được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng của quốc gia từ năm 1981, vào năm 2006 tỉ lệ trẻ nhận đủ 3 mũi vaccin DTP là 94% Tỉ lệ bệnh ho gà đã giảm đi đáng kể từ khi vaccin ho gà được đưa vào chương trình tiêm chủng với số ca ho gà từ 96,577 ca vào năm 1980 giảm chỉ còn 144 ca vào cuối năm 2006
Trang 8thấy xảy ra hiện tượng vi khuẩn xâm nhập sâu vào lớp dưới niêm mạc hay vào máu
Vi khuẩn tăng sinh tại chỗ bám và bắt đầu sản xuất và tiết ra các độc tố khác nhau gây tổn thương niêm mạc hô hấp (độc tố TCT, độc tố hoại tử da), làm suy yếu sức đề kháng của ký chủ ( độc tố ho gà, ACT) Tác dụng và hoạt tính sinh của các yếu tố độc lực được trình bày ở bảng trên Chính nhờ tác dụng sinh học của các độc tố này mà vi khuẩn ho gà mới có thể thoát khỏi hệ thống miễn dịch của ký chủ, tăng sinh được tại đường hô hấp và gây nên cơn ho gà điển hình
Cơ chế chính xác tạo ra cơn ho đặc trưng của ho gà vẫn chưa được sáng tỏ Người ta nghĩ đến vai trò của các độc tố, một số tác tác giả cho rằng các loại độc tố như độc tố khí quản, độc tố hoại tử biểu bì tàn phá cơ chế làm sạch đường hô hấp của các lông chuyển và tạo ra cơn ho đặc biệt của bệnh Sự giải phóng histamin từ các tổ chức tổn thương tác động lên niêm mạc hô hấp bị viêm vốn đã nhạy cảm với histamin (nhờ HSF) gây kích thích cực độ đường
hô hấp có thể là một trong những yếu tố góp phần gây nên cơn ho không kìm chế được
Độc tố ho gà PT gây nên hiện tượng tăng lympho bào điển hình ở máu ngoại
vi và tình trạng này có liên quan đến mức độ nặng của bệnh
Biểu hiện thần kinh (co giật, bệnh lý não) trong ho gà có thể do hạ đường huyết, do thiếu oxy não trong cơn ho hơn là do tác động của độc tố ho gà hay
do bội nhiễm virus có ái tính thần kinh
Dưới tác dụng của các yếu tố độc lực của vi khuẩn ho gà, hệ thống nhung mao
bị tê liệt, tế bào bị hoại tử gây viêm cấp niêm mạc hô hấp, kích thích niêm mạc tăng tiết nhầy Điều này làm giảm tính đề kháng tự nhiên của đường hô hấp và tăng nguy cơ bội nhiễm phổi trong bệnh ho gà Cho tới hiện nay chưa có bằng chứng chứng minh ho gà gây suy giảm chức năng hô hấp kéo dài
IV GIẢI PHẪU BỆNH LÝ
Các thương tổn trong bệnh ho gà xảy ra chủ yếu ở phế quản và các tiểu phế quản Ngoài ra phế nang và não bộ cũng bị ảnh hưởng
1 Phế quản và các tiểu phế quản :
Phế quản và tiểu phế quản co thắt Niêm mạc bị tổn thương tại chỗ, tăng tiết nhầy Dịch tiết bao gồm các mảnh niêm mạc bong tróc, vi khuẩn, các tế bào viêm đặc biệt là lympho Quanh phế quản và các mạch máu lân cận bị bao bọc bởi 1 lớp các tế bào viêm lympho, tạo nên hình ảnh đặc biệt trong bệnh ho gà
2 Phế nang:
Trong lòng phế nang có nhiều dịch và mô bào Thành phế nang xung huyết, tẩm nhuận nhiều tế bào lympho
Trang 93 Não:
Có thể có hiện tượng phù nề tổ chức não, xuất huyết não với các ổ hoại tử thiếu oxy Tuy nhiên không thấy có hiện tượng thâm nhập của các tế bào lympho và các tế bào viêm khác vào tổ chức não
Nồng độ kháng thể PT và anti FHA cao trong dịch não tủy cũng đã được ghi nhận trên một trẻ bị bệnh ho gà có biểu hiện bệnh lý não
V LÂM SÀNG
Triệu chứng lâm sàng của bệnh ho gà đa dạng, thay đổi tùy theo tình trạng miễn dịch trước đó của bệnh nhân với ho gà, tuỳ theo lứa tuổi và cơ địa của bệnh nhân
Ở trẻ nhũ nhi thường nặng nhưng trẻ vị thành niên và người lớn, đặc biệt đã có chủng ngừa thì thường nhẹ, có khi không có triệu chứng lâm sàng
Ho gà được chia theo lứa tuổi và tình trạng miễn dịch thành các thể lâm sàng chủ yếu sau:
o Thể điển hình ở trẻ em chưa chủng ngừa
o Thể lâm sàng ở trẻ nhũ nhi chưa chủng ngừa
o Thể lâm sàng ở trẻ em đã chủng ngừa hoặc ở người lớn
Còn gọi là thời kỳ xuất tiết hay viêm long đường hô hấp Thời kỳ này kéo dài
từ 1 đến 2 tuần Thời kỳ này vi khuẩn tập trung nhiều nhất trong đường hô hấp nên có tỉ lệ phân lập cao nhất và cũng là giai đoạn lây lan dữ dội nhất của bệnh Biểu hiện lâm sàng chính trong giai đoạn này là triệu chứng viêm long đường
hô hấp và triệu chứng ho khan nhẹ hầu như không thể phân biệt trên lâm sàng với triệu chứng của bệnh lý nhiễm siêu vi hô hấp trên Thường chẩn đoán ho
gà chỉ được nghĩ khi ta ghi nhận bệnh nhân có tiếp xúc với nguồn bệnh ho gà trước đó
Bệnh nhân mệt mỏi, chán ăn, chảy mũi nước, hắt hơi, khàn giọng, nuốt đau, kết mạc mắt đỏ, đôi khi sốt nhẹ Khám họng: họng hơi đỏ, hạch hạnh nhân hơi to Cuối giai đoạn này, thường kéo dài khoảng vài ngày, bệnh nhân bắt đầu có những ho khan nhẹ vài tiếng về đêm Sau đó chuyển thành ho cơn nặng dần, nhiều dần, xuất hiện cả ban ngày và bệnh bước qua giai đoạn toàn phát Đặc điểm của cơn ho trong bệnh ho gà là không giảm ho đối với những thuốc giảm ho thông thường
Ở giai đoạn này, tổng trạng bệnh nhân còn tốt
Trang 103 Thời kỳ toàn phát :
Còn gọi là thời kỳ ho cơn hay giai đoạn co thắt kéo dài 2-4 tuần Triệu chứng điển hình của thời kỳ này là cơn ho đặc biệt Chính cơn ho đặc biệt này gây ra nhiều biến chứng
Hình 4 Trẻ bị ho gà
Cơn ho xuất hiện bất chợt vô cớ lúc trẻ đang chơi, đang bú hoặc khi có các yếu
tố bên ngoài tác động như tiếng ồn, không khí lạnh, bị xúc động (quấy khóc,
sợ hãi…) đôi xảy ra sau khi khám họng Cơn ho diễn tiến qua 3 giai đoạn : Ho, thở rít vào và khạc đàm
Ho bắt đầu bằng một tràng dài rũ rượi với 15-20 tiếng liên tục ho không thể
kìm chế được, trẻ không thể dừng lại để thở được.Trong cơn ho, trẻ tím tái, mặt
đỏ, mắt đỏ, chảy nước mắt nước dãi, tĩnh mạch cổ nổi lên, lưỡi bị đẩy ra ngoài
cạ vào cung răng dưới nhiều lân gây loét hãm lưỡi Tiếng ho càng về sau ho
càng yếu dần rồi trẻ ngưng ho và thở rít vào một cái thật sâu nghe “ót” như
tiếng gà rít, âm thanh nghe được là do luồng khí được hít vào mạnh vượt qua chỗ hẹp tương đối ở thanh môn Ngay tiếp theo sau đó lại là những cơn ho
khác nối tiếp nhau cho đến khi trẻ khạc ra được một chất nhớt màu trắng như
tròng trắng trứng, lúc này cơn ho mới ngừng hẳn Đàm nhớt khạc ra có chứa trực khuẩn ho gà, tế bào biểu mô phế quản và bạch cầu lympho Thường mỗi đợt ho như vậy kéo dài khoảng 30 phút, tần số cơn ho rất thay đổi có thể 5-10 cơn đến 30 cơn ho mỗi ngày trong giai đoạn đỉnh điểm của bệnh, cơn xảy ra chủ yếu về ban đêm Trong thời kỳ này cơn ho thường nặng dần, đạt tới đỉnh điểm sau khoảng 7-10 ngày, duy trì cho tới cuối giai đoạn toàn phát sau đó thì giảm dần mức độ nặng và bắt đầu chuyển qua giai đoạn hồi phục
Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt nhọc, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh và đặc biệt thường ói sau ho Triệu chứng ói sau ho gặp ở tất cả các lứa tuổi kể cả ở người lớn và đây được coi là triệu chứng gợi ý đặc biệt quan trọng hướng chẩn đoán bệnh ho gà ở các đối tượng không có cơn ho điển hình
Trang 11Giữa các cơn trẻ hầu như khỏe mạnh, tuy nhiên tổng trạng suy sụp dần nếu bệnh kéo dài
Thăm khám có thể thấy mi mắt phù nề, kết mạc mắt sung huyết, cũng có thể có xuất huyết, đôi khi có tử ban điểm ở mặt, loét hãm lưỡi Phổi có thể có ran ngáy hoặc ran rít
Bệnh nhân hầu như không sốt hoặc có sốt nhẹ Sốt cao là dấu hiệu của bội nhiễm phổi
Bảng 2 Các yếu tố gợi ý tình trạng nặng của cơn ho kịch phát trong bệnh ho gà
Thời gian một cơn ho < 45 giây > 60 giây
Vẻ mặt trong cơn ho Lo lắng, hoảng hốt, không dỗ
được, mắt bụp, chảy nước mắt Lịm, ủ rũ, mất sắc Đặc tính cơn ho Ho lớn tiếng, mạnh, liên tục Ngạt thở nhiều hơn là ho
Nhịp tim nhanh Trở về bình thường 30 giây sau
Nhịp tim chậm
Nhanh chóng trở về bình thường sau cơn ho mà không cần kích thích
Kéo dài, đòi hỏi phải kích
thích
Độ bão hòa oxy Về bình thường 30 giây sau cơn
Khạc ra đàm nhầy cuối cơn
Tự bù trừ nhịp thở sau mỗi
cơn ho Bù trừ nhanh chóng, hít thở sâu Ngưng thở, thở yếu
Tình trạng sau cơn ho Mệt lả Không đáp ứng với kích
thích
4 Thời kỳ lui bệnh:
Khi các cơn ho giảm về tần số và mức độ nặng (ho ngắn hơn và nhẹ hơn) là dấu hiệu báo hiệu bắt đầu chuyển qua thời kỳ hồi phục Ở giai thời kỳ các triệu chứng lâm sàng giảm dần: cơn ho thưa dần, thời gian ho ngắn dần rồi không thành cơn, giảm mức độ nặng, trẻ giảm ói, ăn uống khá hơn Tổng trạng toàn thân tốt dần lên và sau đó hết ho hẳn , trẻ vui chơi bình thừơng Thời kỳ này kéo dài từ 1- 3 tháng
Tuy nhiên trong khoảng 6 tháng đến 1 năm kể từ giai đoạn hồi phục, một số trường hợp trẻ thỉnh thoảng xuất hiện những cơn ho kịch phát kiểu ho gà (
Trang 12thường không ói sau ho) khi tiếp xúc với các yếu tố gây kích thích hô hấp (bị cảm lạnh, bụi, ), gắng sức, xúc động….Trên các đối tượng này không hề phát hiện cósự hiện diện của vi khuẩn ho gà hay bằng chứng của tái nhiễm vi trùng
ho gà Cơ chế gây ho được nghĩ là do tăng phản xạ nhạy cảm tạm thời của cây phế quản sau ho gà
B Lâm sàng một số thể không điển hình
1 Thể lâm sàng ở trẻ nhũ nhi chưa chích ngừa
Ho gà ở lứa tuổi này là nặng nề nhất, nguy cơ tử vong cao Trẻ càng nhỏ tháng thì bệnh ho gà càng có nguy cơ nặng nề hơn
Bệnh cảnh lâm sàng ở nhóm này cũng có một số đặc điểm khác biệt so với bệnh cảnh điển hình:
Thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ khởi phát (viêm long) ngắn hơn so với ở trẻ lớn hơn hoặc người lớn
Trẻ cũng có những cơn ho kéo dài, tuy nhiên trẻ rất hay bị tím tái (60% ca ho
gà ở trẻ nhũ nhi) và trong cơn ho ta không nghe được âm thanh điển hình như tiếng gà rít
Trẻ dưới 3 tháng tuổi rất kém dung nạp với cơn ho gà, ở lứa tuổi này thường không có cơn ho điển hình mà nổi bật là những cơn ngưng thở, tím tái, chậm nhịp tim và ngất xảy ra nhiều lần đôi khi gây mất ý thức kéo dài xảy ra ngay trong cơn ho gắng sức hoặc ngoài cơn ho Đặc biệt riêng ở trẻ dưới 3 tháng
tuổi, ho gà có thể tiến triển rất nặng nề mà các tác giả Pháp gọi là ho gà ác tính với biểu hiện nguy kịch hô hấp, rối loạn về huyết động, tổn thương thần
kinh, suy đa cơ quan và tỉ lệ tử vong rất cao khoảng 75% dù đã được điều trị tích cực Cơ chế bệnh sinh thể này vẫn chưa rõ ràng nhưng luôn có tình trạng tăng áp lực động mạch phổi
Ho gà cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây tử vong đột ngột ở trẻ nhũ nhi
2 Thể lâm sàng ở trẻ em lớn chưa chích ngừa nhắc lại và ở người lớn
Miễn dịch có được do mắc phải hay ho chủng ngừa sẽ mất dần đi khả năng bảo
vệ theo thời gian Ở nhóm lứa tuổi này có thể có người đã từng tiếp xúc từ lâu hoặc gần đây với nguồn bệnh ho gà trong cộng đồng (chủng ngừa “tự nhiên”),
có đối tượng chưa hề tiếp xúc… Nên tình trạng miễn dịch với bệnh ho gà rất thay đổi tùy từng cá thể một Điều này giải thích tại sao bệnh cảnh lâm sàng ho
gà ở đối tượng này rất đa dạng từ thể điển hình như đã mô tả đến thể lâm sàng thô sơ hầu như không thấy ho chỉ hắt hơi nhiều
Thường ho gà ở nhóm này nhẹ nhàng hơn, biểu hiện lâm sàng không điển hình với 3 thời kỳ như mô tả ở trên
Triệu chứng viêm long chỉ khoảng 50% các trường hợp Cơn ho ngắn và thưa hơn, ho có thể kịch phát, nặng nề về đêm nhưng tiếng thở rít vào lại ít có Bệnh nhân ít khạc đàm nhớt hơn, tuy nhiên triệu chứng ói sau ho là một triệu chứng