Một thí dụ thứ 2, trong thực tế nh muối natri không có tác dụng trong điều trị cũng không phải là nguyên nhân, nhng gây độc nếu số lợng sử dụng vợt quá hoặc nó có sẵn trong cơ thể.. Nhữn
Trang 12 Những nguyên tắc chung trong điều trị khi trúng độc.
3 Sự lựa chọn những mẫu xét nghiệm.
4 Chất ăn mòn.
5 Chất dạng hơi.
6.Aarsenic (AS)- nguồn gốc.
7 Các chất độc gốc kim loại nặng.
8 Thuốc bảo vệ thực vật.
9 Rợu và độc tính của rợu.
1 Đại cơng về độc chất:
1.1 Nguyên tắc chung: Những độc chất và nhiễm độc.
+ Chất độc là bất cứ chất gì khi tác động trong cơ thể con ngời về mặt hóa học, sinh lý, sinh hóa với liều độc nhất định, gây rối loạn chức năng, nó có thể gây nên nhiễm độc hoặc chết Nguyên nhân của nhiễm độc có thể nh: tai nạn, án mạng, tự tử, tự điều trị (phá thai), Iatrogenic (bệnh do điều trị gây tác động ngoài ý muốn)
Cuối cùng, thầy thuốc có thể liên quan trong vài trờng hợp nào đó do thiếu thông tin về bệnh nhân Thí dụ có thể đã đợc nhắc lại về sự thất bại trong việc sử dụng thuốc gián
đoạn với hiệu quả của những yếu tố phụ Một thí dụ thứ 2, trong thực tế (nh muối natri) không có tác dụng trong điều trị cũng không phải là nguyên nhân, nhng gây độc nếu số lợng sử dụng vợt quá hoặc nó có sẵn trong cơ thể
1.2 Những chất gây độc theo nguồn gốc sử dụng:
Trang 21.2.1 Những chất độc trong gia đình: Những chất tẩy rửa, chất tẩy uế, những chất để cọ
rửa, chất đánh bóng
1.2.2 Những chất độc từ làm vờn hoặc nông nghiệp: thuốc trừ sâu, diệt côn trùng, diệt
cỏ
1.2.3 Chất bảo quản thức ăn và những chất phụ gia
1.2.4 Những tác nhân trong điều trị: thuốc và những chất gây nghiện cả hai đã đợc mua
và phát hiện ở gia đình Những bài thuốc gia truyền không rõ thành phần
1.2.5 Những phòng xét nghiệm, cơ sở thơng mại, trờng học hoặc những cơ sở khác có sử
dụng hóa chất
1.2.6 Nhiễm độc thực phẩm
1.2.7 Động thực vật có chất độc (rắn, rết, lá ngón, )
1.2.8 Chất độc đặc chế làm vũ khí giết ngời
1.3 Đờng vào: Chất độc có thể vào cơ thể bằng đờng tiêu hóa, hít phải, hấp thụ qua
đ-ờng tiếp xúc hoặc vùng da bị tổn thơng hoặc đđ-ờng tiêm, ngấm vào đđ-ờng âm đạo, trực tràng hoặc bàng quang
1.4 Các yếu tố ảnh hởng đến sự nhiễm độc: Sự tác động nhanh phụ thuộc vào phơng
pháp trong sự điều chỉnh và cũng có thể do tuổi, do hệ tim mạch, ngời trẻ, già hoặc ngời
đang ốm sẽ bị ảnh hởng nhiều hơn ngời khỏe Những hợp chất thông thờng không độc
nh nớc có thể gây độc nếu có số lợng lớn mà cơ thể không dung nạp đợc Đây là khía cạnh quan trọng để cân nhắc, để đánh giá tiền sử lâm sàng và quá trình trong mỗi trờng hợp
Bệnh xảy ra có thể từ sự thay đổi do mức độ của chất độc một ngời bị thay đổi do xơ vữa hệ mạch vành việc trao đổi oxy kém, nguyên nhân gây thiếu máu hơn ngời bệnh khác không bị bệnh mạch vành ở ngời khác nhau trong sự tác động của chất độc, những bệnh nhân ung th giai đoạn cuối hoặc nghiện ma túy nó tạo nên sự khủng khiếp về sự dung nạp opium và cần tới liều lợng có thể giết chết ngời bình thờng Những yếu tố khác
nh sự mẫn cảm hoặc sự phát triển của thuốc, chống dị ứng, một khía cạnh khác về chất
độc chứa trong chúng, những sự xuất hiện gây ảnh hởng đặc biệt tới từng cá thể Tuy nhiên nhiều tác động bình thờng nó nằm trong quĩ đạo y pháp, nhiệm vụ của họ là phải
hỗ trợ điều tra toàn bộ những cái chết không phải là chết tự nhiên, chúng có thể do thuốc, những chất trong công nghiệp tạo nên chất độc gây nên tai nạn hoặc tự tử
2 Những nguyên tắc chung trong điều trị khi trúng độc:
Trang 3Điều trị chống độc là một qui trình trong lâm sàng và toàn bộ những vấn đề trong các ờng hợp của lâm sàng Có nhiều trờng hợp về những vội vã trong sự điều hành nguyên nhân về thuốc giải độc nguy hiểm hơn là sự nguy hiểm của chất độc, thí dụ chất alkali đ -
tr-ợc dùng để rửa bên ngoài đã bị bắn (tung tóe) vào mắt với nó là chất axit yếu Tại trung tâm chống độc đã giới thiệu về việc đánh giá trong nhiều trờng hợp, khi đợc thông báo trong chơng trình phát thanh, truyền hình về nhiễm độc do đồ ăn uống không đợc ghi nhãn mác hoặc những câu hỏi đặt ra về trong thực phẩm đó có chất độc nào đó hoặc khi biểu hiện lâm sàng không chắc chắn để mà có phơng pháp điều trị đặc biệt Về khía cạnh khác, đây là vấn đề quan trọng để tránh khi sử dụng trong những trờng hợp phát hiện thấy những dạng viên nén ở gần bệnh nhân cùng với việc mà bệnh nhân đã sử dụng Th-ờng nó ít đợc sử dụng nh ma túy đợc dùng thờng xuyên Điều này đợc nhấn mạnh nhiều trong thực tế rằng toàn bộ những điều trị ban đầu, phải dựa vào triệu chứng, mục tiêu về
xu hớng của bệnh nhân vợt qua tình trạng cấp tính
Cơ sở những nguyên tắc cơ bản đợc áp dụng trong cấp cứu bệnh nhân nhiễm độc:
2.1 Phải duy trì đờng thông khí sạch sẽ (hút đờm, dãi, ), thuốc trợ tim
2.2 Hỗ trợ hô hấp và thở ôxy
2.3 Điều trị giảm đau và chống sốc
2.4 An thần và chống co giật
2.5 Chuyển bệnh nhân đến bệnh viện để điều trị; đây là biện pháp tối u để bệnh nhân
đ-ợc rửa dạ dày, điều trị trong điều kiện tối u “Không đđ-ợc quên cung cấp thông tin về bệnh nhân có thể dùng đợc trong cấp cứu”, ví dụ bệnh nhân tự tử bằng thuốc ngủ 2.6 Thông báo ngay cho cơ quan y tế chủ quản, công an về vụ nhiễm độc
Tại nơi đón tiếp bệnh nhân tại bệnh viện; Mặc dù có nhiều nguyên tắc áp dụng, sau đó
có thể sử dụng phơng pháp nh đặt nội khí quản, tạo nên sự thông khí và hỗ trợ tim
Điều rõ ràng trong lâm sàng, phần lớn những trờng hợp đang trong tình trạng suy sụp từ những nhóm triệu chứng chắn chắn nh hôn mê, co giật, thần kinh bị kích động Nguyên nhân do bị trúng độc “phải khám lâm sàng toàn diện, không đợc bỏ sót” bởi vì chất độc
có thể tạo nên sự mẩn đỏ và có thể là nguyên nhân, quá trình của một số bệnh Với nguyên nhân này, phải sớm cấp cứu ngay lập tức, vì nó là đợc chẩn đoán tình trạng cấp tính Điều này nếu nguyên do “trúng độc” bằng đờng ăn uống, phải rửa dạ dày, trừ khi chất ăn mòn (bỏng) tại mồm Đó luôn luôn là những ý kiến mâu thuẫn về có sự nguy hiểm với qui trình này, nhng trong vấn đề chung, việc thực hiện phải chuẩn bị một cách cẩn thận, sự rủi ro sẽ lớn bằng sự quan sát kiểm tra chất hóa học khi rửa dạ dày (những chất này cần giữ lại), có thể nó là những thông tin hữu ích và trong qui trình, nó có thể làm chậm lại sự hấp thu Điều này rất phù hợp với những trờng hợp ngộ độc aspirin, barbiturate và ngộ độc rợu Khi bệnh nhân nôn là chức năng biểu hiện tốt, nhng kể cả
Trang 4chất nôn là chất rửa dạ dày, nó cha chắc đã phù hợp với những chất đợc loại bỏ hết Đó cũng là những kinh nghiệm chung đợc phát hiện qua khám nghiệm thấy khối chất bột vùng môn vị sau khi đã rửa dạ dày Một qui trình sớm, chủ yếu là xét nghiệm nớc tiểu,
đó là công việc khẩn trơng, thông thờng về kiểm tra chất hóa học trớc khi gửi mẫu đi xét nghiệm, cùng với chất chứa dạ dày hoặc chất rửa dạ dày và máu để kiểm tra về sinh hóa (bao gồm những chất điện giải) Cùng với việc xác định thuốc (ma túy) nào đó cũng sẽ
đợc yêu cầu, việc này rất quan trọng để hiểu biết về chất độc để có phơng pháp điều trị phù hợp
Trong điều trị đặc biệt, phần lớn những chất độc là giải quyết nơi nào khác nữa, những
điều đề phòng sơ đẳng đã đợc quan sát nh là tránh chất mỡ trong chế độ ăn kiêng trong những trờng hợp nhiễm độc phosphorus và điều trị phù phổi hoặc trờng hợp mất nớc nếu xuất hiện Nh vậy những ảnh hởng nào đó trong nguyên nhân để xác định sẽ phải dự
đoán trớc (nh thận bị suy giảm chức năng sinh hóa và dịch thể thay đổi) Những cơ hội hoặc chứa đựng bên trong, nó có thể là dự định thay đổi bằng truyền máu hoặc chạy thận nhân tạo, phải chú ý chứng minh bị suy thận bằng theo dõi, số nớc vào và ra trong khi đó
có sự phức tạp của tim (viêm cơ tim) có thể đã đợc chẩn đoán qua điện tâm đồ Đó là quá trình phù hợp để kiểm tra chất hóa học, nó có thể lặp lại trong máu qua phân tích Qui trình của việc chẩn đoán phù hợp khác phải có sự tính kỹ trong hoàn cảnh phù hợp
3 Sự lựa chọn những mẫu xét nghiệm:
Những dấu hiệu về lâm sàng và những triệu chứng, toàn bộ những biểu hiện về tiền sử bởi yêu cầu của AUTOPSIE và kiến thức về giải phẫu bệnh
Khả năng tồn tại của một trong nhiều chất độc trong trờng hợp nào đó, trong hoàn cảnh nào đó có thể hoàn thành việc phân tích sẽ đợc thực hiện theo yêu cầu Số lợng mẫu cần xét nghiệm phải phân tích đầy đủ trong phạm vi giới hạn số lợng những trờng hợp đặc biệt Tuy nhiên cần sử dụng những kỹ thuật hiện đại, khi có sự kết hợp và hợp tác để làm giảm những vấn đề xảy ra trong trúng độc, cần phải có sự điều hành phù hợp Trong khi
đó các mẫu phân tích cần phải đợc bảo quản trong nhiệt độ lạnh, đặc biệt các mẫu mô để
“bảo quản”
Những câu hỏi chung nh sau:
1 Cái gì đã thu thập đợc?
2 Thu thập đợc bao nhiêu?
3 Mẫu thu thập nh thế nào?
4 Sẽ làm gì với chúng?
3.1 Đã thu thập đợc cái gì?
Trang 5Vấn đề gì về chất tự nhiên đặc biệt (nh: số lợng rợu Ethylic trong cơ thể hoặc bệnh nhân
đa tới)? số lợng dịch trong cơ thể sử dụng đợc đánh giá bằng những mẫu máu, dịch, não tủy, nớc bọt, mồ hôi, nớc tiểu, chất chứa dạ dày và phân Chất phù hợp để kiểm tra đợc lựa chọn trên dữ kiện, thích hợp và có sự trao đổi với y pháp Tuy nhiên trong những tr -ờng hợp đã đợc điều trị, kể cả việc lựa chọn vị trí thu thập có thể quan trọng Thí dụ máu
đợc lấy ở tĩnh mạch, mao mạch hoặc động mạch Việc thu mẫu phải chính xác rõ ràng trên cơ sở cân nhắc, trong thời gian phù hợp rất quan trọng Ví dụ: mẫu lấy trong 24 giờ
là nớc tiểu, chủ yếu với việc đánh giá thủy ngân (Hg) hoặc thời gian hôn mê cho lần cuối của nớc tiểu đối với rợu mà “lái xe sử dụng” Nếu thông tin đã đợc yêu cầu hoặc sự hấp thụ gấp bội của mẫu xét nghiệm có thể cần thiết cho việc giải thích về giá trị thực Sau
đó trong những trờng hợp mẫu ngộ độc barbituric, những mẫu chất chứa dạ dày; máu ngoại biên, máu ở gan và nớc tiểu sẽ đợc hỗ trợ trong việc quyết định liều lợng tối thiểu qua đờng tiêu hóa, tuy nhiên nó đã bị hấp thu trong thời gian gây chết và loại barbiturate Những mẫu quan trọng khác có nguồn gốc từ thu mẫu máu để đánh giá đờng huyết (sau chết) để đánh giá sự khác nhau giữa số lợng đờng trong máu của tim phải, tim trái và do
đó những mẫu hồn hợp là vô giá trị Toàn bộ những mẫu phân tích theo yêu cầu kiểm tra gồm những chất theo danh mục sau nó dễ bị tích lũy 20gr cũng nh 10gr, số lợng opium
đợc lựa chọn Trong toàn bộ những trờng hợp phải tính toán trên trọng lợng cơ thể
3.2 Số lợng các chất cần lấy xét nghiệm:
1 Não 1/2 bán cầu (phần sau)
2 Phổi: toàn bộ 1 phổi
3 Tim: toàn bộ tim
4 Thận: 1/2 mỗi thận
5 Gan: 200-300gr
6 Bàng quang: Cả nớc tiểu bên trong
7 Dạ dày: toàn bộ dạ dày và chất chứa
8 Ruột: Toàn bộ đoạn đại tràng Sigma
9 Túi mật: toàn bộ và chất chứa
10 Cơ: cơ liên sờn, cơ trơn (20gr)
11 Máu: 100ml
3.3 Mỗi mẫu xét nghiệm phải phân biệt nguồn gốc với những ống nghiệm chứa phải
sạch sẽ (có thể phải vô khuẩn) phải đậy kín, ghi rõ mẫu bằng những thông tin sau:
1 Tên và số lợng chất
Trang 62 Ngày tháng năm
3 Nơi lấy mẫu
4 Tên ngời lấy mẫu
5 Vài thông tin về yêu cầu kiểm tra (XN)
6 Định hớng của cấp cứu Nếu nhiễm độc hàng loạt phải báo cáo cấp có thẩm quyền để triển khai hoạt động cứu hộ, khoanh vùng và điều tra vụ nhiễm độc.Mẫu đợc chứng minh tiếp không chỉ giao nộp, mà phải viết thành 3 bản Nếu gửi bằng b-
u điện thì phải đợc ghi chép vào sổ sách Trớc khi gửi đi và sau khi nhận, nó phải đợc khóa trong tủ bảo quản
Điều nên làm, có thể chia tách các mẫu thành hai phần trớc khi kiểm tra và giữ lại phần
đã đợc đậy kín trong dụng cụ chứa cho lần sau nếu phải làm lại Trong thời gian phân tích (độc chất), phải chú ý mô tả tình trạng vật chất của mẫu Tất nhiên không cần nhấn mạnh công việc trên đã thực hiện Từ khía cạnh của giải phẫu bệnh trong việc quan sát không cần phải nhấn mạnh rằng mỗi phần của mỗi tổ chức đợc cố định về tổ chức học Những chuyên gia sẽ thực hiện phân tích phải dựa vào văn bản autopsie để bổ sung cho quá trình phân tích
3.4 Toàn bộ những quan sát đã thực hiện trực tiếp theo hớng mẫu bệnh phẩm của Y
pháp Tuy nhiên về khía cạnh khác có thể phù hợp những dấu hiệu “chẩn đoán của mẫu xét nghiệm” Mẫu này đợc kiểm tra trên cơ sở đối tợng bệnh nhân trong quá trình điều trị: Trong bệnh viện, thí dụ máu lấy từ bệnh nhân bị hôn mê do CO hoặc máu từ hớng
điều tra trong khía cạnh hớng tới ngộ độc bán cấp
Mặc dù sự xuất hiện khía cạnh của điều tra về lâm sàng, nó có thể liên quan tới luật pháp, điều mà không bao giờ đợc phép bỏ qua, cũng nh trong nhiều hoàn cảnh, nó có thể
có giá trị cho việc chứng minh hoặc xác nhận những phát hiện do đợc yêu cầu sau đó Tuy nhiên phần mẫu xét nghiệm phải giữ lại và không đợc bỏ đi cho đến khi xác định chắc chắn và mẫu đó không cần thiết Đặc biệt có thể sử dụng chất rửa dạ dày, chất này thờng có những chất hỗn tạp của bệnh viện, mà ngời ta không biết về những liên quan của chất hồn tạp Mặt khác có những khía cạnh phù hợp của những phân tích để chẩn
đoán chính xác của những phơng pháp thay đổi phù hợp với những trờng hợp cấp tính Với bệnh nhân cũng đã có sự ng thuận cho kiểm tra để điều trị, nhng cũng có thể họ không đồng ý nếu kết quả đó đợc chứng minh để chống lại họ và trong hoàn cảnh này cần phải giải thích
4 Chất ăn mòn:
4.1 Các chất ăn mòn:
Trang 7Chất độc ăn mòn bắt đầu có hơn một thế kỷ, giống nh phơng pháp tự phá hủy Một số ờng hợp ngời đã thấy nh bằng đờng ăn uống acid hydrochloric và acid sulfuric
tr-Một số trờng hợp vẫn xảy ra với chủ tâm sử dụng chất ăn mòn mà tạt vào mặt ngời khác làm biến dạng bộ mặt, với chủ tâm trả thù, những chất kích thích ăn mòn nh ammonia đã
bị bắn ra vào nạn nhân Những vụ án thờng dùng acid mạnh và alkali để gây điếc, nhng
có những trờng hợp đã bị chết do hậu quả chủ tâm gây bỏng vùng mặt nh thuốc giặt, tẩy quần áo Tuy nhiên trong thực tế do bị tai nạn khi bị vỡ các bình chứa acid hoặc nổ tung dụng cụ chứa
Những chất độc ăn mòn có thể chia ra 3 nhóm sau:
a Acid khoáng: acid hydrochloric, acid sulfuric, acid nitric
b Acid hữu cơ: a.acetic, a.oxalic, a.citric
c Alkali mạnh: ammonia, soda caustic, potash caustic
d Phenol
1 (a) những acid tác động tại chỗ của tổ chức và sự ảnh hởng của nó phụ thuộc vào độ mạnh hoặc pha loãng Chúng làm thay đổi haemoglobin tới đông vón protein bằng hình thái acid albuminate với tổ chức bị khử nớc, nó là nguyên nhân gây đổi màu thành màu nâu hoặc đen, khi sờ nắn thấy chắc
Nói chung, khi bằng đờng tiêu hóa nó gây bỏng mồm, môi, làm “chảy dịch” xuống cằm, mặt khác khó nuốt hoặc cảm giác buồn nôn Điều này có thể gây nôn dịch acid từ dạ dày
Trong thực tế đã xuất hiện: Sau khi chết, những biểu hiện không cần thiết vì acid mạnh còn tiếp tục tác động tiếp vào tổ chức sau một thời gian sau chết
Tất cả mọi trờng hợp sau khi uống acid gây hiện tợng đau trầm trọng và bỏng nặng
- Điều chú ý đặc biệt: Hỗn hợp của acid khá mạnh nó đã đợc sử dụng để gây chết các
tổ chức của cơ thể
4.1.1 Hydrochloric acid (HCl):
dụng trong gia đình (cọ rửa WC )
c Đặc trng lâm sàng: tính chất riêng là ăn mòn, dạng bốc hơi thì gây kích thích Do
đó trong thực tế nó nguy hiểm thờng gây tai nạn rủi ro, đặc biệt hơi bay trong không khí gây tổn thơng phức tạp hệ hô hấp, khi bốc hơi, nó gây nên tình trạng kích thích Tai nạn do giọt bắn vào có thể là nguyên nhân ăn mòn - bỏng giác mạc
Trang 8d Liều chết: Xấp xỉ 1-4 drachms (1dr = 3gr 888, đơn vị thuốc) (khoảng 4-18ml).Chết: (4-24 giờ) do sốc, tổn thơng bên trong, trong một thời gian ngắn, muộn hơn gây tổn thơng phức tạp hệ hô hấp, nếu còn sống thì bị chấn thơng chít hẹp đờng hô hấp.
e Những xuất hiện sau chết: Hoại tử hệ tiết dịch và biểu mô sẽ tạo nên sản phẩm bẩn màu tro trắng, màu xám Đồng thời có thể gây chấn thơng thanh quản, thực quản và dạ dày sẽ biểu hiện dày lên, chảy máu với thay đổi trong thành phần máu, kể cả trớc
và sau chết
4.1.2 Acid sulfuric (H2SO4):
(Dầu của H2SO4)
a Nguồn gốc: Trong công nghiệp, các phòng xét nghiệm (bao gồm trờng học) accu-
điện, nông nghiệp
b Đặc điểm: nhạt màu, ít mùi, dịch nhớt
c Liều chết: 3,5 - 7ml, tỷ lệ tử vong cao (33-36%)
Đặc trng lâm sàng: Gây kích thích nhẹ ở phổi, khi uống vào giống nh các acid khoáng khác Gây hậu quả bỏng trầm trọng trên da do bị tạt hoặc nổ vỡ bình đựng bắn vào
+ Nguyên nhân chết: Sốc, gây thủng đờng hô hấp phức tạp Muộn hơn gây teo thực quản, dạ dày
Những xuất hiện sau chết: quần áo cháy, thủng thành màu nâu, hoại tử dịch thành màu nâu - đen
+ Chết thờng xảy ra trong 18-24 giờ (có thể 60 phút)
4.1.3 Ammonia (NH3):
a Nguồn gốc: Trong công nghiệp, sử dụng trong gia đình, các phòng xét nghiệm (bao
gồm trờng học) tủ lạnh
b Đặc điểm: Dịch có vị hăng hăng, alkaline mạnh, kích thích dữ dội, ammonia thể khí
là một chất kích thích toàn bộ và là nguyên nhân co thắt thanh quản cấp tính
c Biểu hiện lâm sàng: Bằng đờng uống loại dịch ammonia biểu hiện ăn mòn đặc biệt,
phù nề toàn bộ niêm mạc dạ dày nhng không ăn mòn nh những acid mạnh và alkali.Triệu chứng nôn xảy ngay tức khắc và có thể liên quan tới những mảnh vụn niêm mạc và
sự thay đổi trong máu Một đặc trng quan trọng là khó nuốt và khản tiếng do phù nề thanh môn
- Liều chết: 4ml của ammonia dung dịch mạnh
Trang 9- Chết: Nhanh nhất xảy ra trong 4-5 phút.
- Biểu hiện sau chết: Loại thể hơi mạnh của ammonia xuất hiện ăn mòn đặc biệt với môi
và phù nề toàn bộ niêm mạc Viêm khí phế quản và phù nề thanh môn cùng với phù phổi
4.1.4 Thu mẫu xét nghiệm độc:
Trong tất cả những chất ăn mòn dạ dày đã đợc rửa, chất nôn, đặc biệt khi nhiễm độc phenol, cần lấy máu và nớc tiểu Sau khi chết cần lấy chất chứa dạ dày, nớc tiểu và máu
4 Những chất độc đặc biệt ảnh hởng tới cơ quan
Các mô của cơ thể phụ thuộc vào lợng oxy cung cấp phù hợp cho chức năng cơ thể Sự duy trì chức năng này phụ thuộc nhiều những tác động, bao gồm:
1 Sự toàn vẹn trung tâm hô hấp sẽ kích thích chức năng hô hấp
2 Hệ thống hô hấp mở cho không khí đi qua có chứa oxy tới những thành phế nang
kề nhau để trao đổi
3 Oxy đi qua thành phế nang tới các mao mạch vách phế nang
4 Sự kết hợp của oxy với Hemoglobin tạo thành oxyhemoglobin
5 Sự tuần hoàn đầy đủ nó mang oxyhemoglobin trong tế bào hồng cầu ở phổi mang
đến tim
6 Hệ thống tuần hoàn mang máu nuôi cơ thể thông qua hệ mao mạch nhỏ
7 Sự phân chia oxygen từ hemoglobin
8 Sự vận chuyển qua thành mao mạch nhỏ tới khe kẽ mô
9 Sự vận chuyển ở khe kẽ mô tới thành của tế bào
10 Việc sử dụng bên trong tế bào cho hoạt động hô hấp nội bào
11 Trở lại bằng con đờng chính CO2 bằng con đờng thở ra
Trang 10Toàn bộ chức năng phải phù hợp và phù hợp sự hô hấp tế bào là cần thiết trong quá trình chuyển hóa, do sự tắc nghẽn ở mức độ nào đó có thể là hậu quả về sự suy hô hấp tế bào.
5.2 Thiếu oxy:
Trong một vài trờng hợp con ngời bị chết bởi suy sụp hệ thống tuần hoàn do nguyên nhân thông thờng là thiếu oxy Trong khí tự nhiên thành phần chính là methane và ethane, trong khi đó những bình chứa nhiên liệu chủ yếu chứa methane hoặc propane Những nhiên liệu có thể chứa lợng nhỏ những chất hóa học khác nh hydrocarbon homolugues, nhng chúng không chứa carbon monoxide nh than hoặc nhà máy khí Carbon monoxide có thể đợc hình thành khi sự chết cháy không hoàn toàn Tuy nhiên toàn bộ khí tự nó có thể giết chết bởi thiếu oxy Thí dụ một ngời để đầu vào khu vực chứa gas làm chất đốt, chất đốt đợc biểu hiện khí có chứa oxy và ngời đó hít thở trong môi trờng dới áp lực có ít hoặc mất oxy, ngời đó sẽ chết do bị mất oxy dới tác dụng hợp chất hóa học Mặt khác khi ngời xuống vùng có áp suất hơi nặng hơn không khí và không hoặc bị thiếu oxy và ngời đó sẽ chết Dạng này khi autopsie biểu hiện dấu hiệu chung của thiếu oxy Dấu hiệu xanh tím ngón tay, móng tay khum, xác màu xanh tối có
đốm xuất huyết trên da và trong các phủ tạng Đôi khi chảy máu dới nội tâm mạc ở tim Phù phổi thờng đợc phát hiện, nhng ở mức độ vừa phải, phủ tạng xung huyết máu màu tối Cần lấy mẫu xét nghiệm của bệnh nhân để phát hiện chất độc khí ở phổi bằng syringe chọc hút trong ngực, sau đó sử dụng bằng phơng pháp sắc ký để phát hiện tác nhân chất độc
5.3 ảnh hởng sự kích thích trực tiếp vào hệ hô hấp:
Khí thông thờng giống nh chlorine, fluorine, ammonia và ozone kích thích trực tiếp vào niêm mạc của đờng hô hấp, khi chúng tiếp xúc tạo thành acid hoặc base với nớc ở trong niêm mạc Hình thái của ozone oxygen và oxygen mới sinh Sau đó ảnh hởng chlorine giống nh sự phun của hệ hô hấp với acid hydrochloric và là nguyên nhân gây đau dữ dội
và ho gây hậu quả ứ đọng huyết và xung huyết và biểu hiện dịch phù Sự nguy hiểm cho bệnh nhân sẽ phát triển thành khối, phổi phù phải chú ý trong trờng hợp khí kích thích mạnh là nguyên nhân cơ chế phản xạ gây nên ngừng thở và bệnh nhân bị tác động trực tiếp bởi chất hóa học
Nếu phù phổi đã đợc điều trị, bệnh nhân có thể bị chết do viêm phổi thứ phát Nếu chết tức thì sẽ đợc khám nghiệm khác với giải phẫu bệnh, nó phụ thuộc vào tác nhân acid hoặc hợp chất Điều này đã đợc đề cập về tác nhân của những chất ăn mòn
Những nhóm chất độc dạng hơi nó tác động vào phổi khi hít phải và dẫn tới xơ phổi (bệnh bụi phổi) Chúng do hậu quả của nghề nghiệp hoặc chất hại trong công nghiệp và
đa tới bụi silic phổi (bụi xi măng), bụi than, bụi amian, sợi bông, bụi đá (hình thái đợc sử
Trang 11dụng trong phosphor của ánh sáng huỳnh quang) Phần lớn những chất tác động hình thái này biểu hiện phức tạp hoặc tiếp tục kéo dài gây nguy hiểm Tuy nhiên với beryllium biểu hiện ngắn đã đủ sinh ra hậu quả chết ngời.
U hạt trên da có thể là hậu quả beryllium, nếu nó đợc cắt đờng vào hoặc nếu cục trên da
bị cắt có chứa khối beryllium Một số chất xuất hiện những đặc điểm nh tiêu bản Về khía cạnh khác đôi khi những trờng hợp của beryllium, nó có thể cần thiết về tác nhân bằng kết quả xét nghiệm
đã đợc dẫn nh là phần trăm hemoglobin đã bão hòa với carbon monoxide Điều rõ ràng rằng 2g hemoglobin đã bão hòa với carbon monoxide ở bệnh nhân thiếu máu, ngời này chỉ có 4g% hemoglobin, trong điều kiện xấu hơn một ngời có cùng số lợng carboxyhemoglobin, nhng tổng số hemoglobin 16g% Việc sử dụng phần trăm bão hòa, phản ánh khác nhau trong điều quan trọng bởi quan hệ về thực tế số lợng carboxyhemoglobin trong tổng số hemoglobin có thể sử dụng đợc
Tuy nhiên, việc mất oxy ở mô, điều phải nhớ rằng trong một số ngời trong chuyển hóa,
họ có thể chịu đựng thiếu oxy tốt hơn những ngời khác Điều này giải thích tại sao một
số ngời có thể vợt qua và sống cùng với mức độ carbon monoxide mà ở ngời khác sẽ chết
Phải thực hiện chứng minh ở những bệnh nhân thiếu máu, xơ vữa mạch vành, mạch não
và bệnh phổi thì ít có khả năng chịu đựng khi thiếu oxy
Đặc biệt ở tim, yếu tố an toàn đã bị loại bỏ bởi xơ vữa, không thể chịu đựng ở mức 20% khi oxy giảm trong máu Mặc dù sự chết của bệnh nhân là hậu quả gây nhồi máu cơ tim
Về cơ chế khác là sản phẩm của CO là quá trình đốt cháy không hoàn toàn của chất đốt
có chứa than Thí dụ này khi gas hoặc dầu đốt cháy trong một phòng thông gió tồi Sự
đốt của nhiên liệu sẽ tạo ra sản phẩm CO Đôi khi mức oxy giảm ở mức thấp, giúp cho sản phẩm CO và CO2 tăng lên và ngọn lửa sẽ tự tắt Nếu khí ở lò sởi, gas không cháy sẽ
Trang 12tiếp tục thoát ra CO Với sự điều chỉnh không phù hợp của ngọn lửa, sự đọng lại của bồ hóng hoặc carbon của dụng cụ nấu ăn hoặc bên cạnh, hoặc là đỉnh của ống khói cũng
nh gas làm trong tủ lạnh Với việc xây dựng xảy ra khi có sự tồn đọng của carbon do lửa cháy không hoàn toàn và tạo nên CO
Toàn bộ mọi trờng hợp chết thể hiện trong máu chứa CO điều có thể không giải thích
đ-ợc, đặc biệt kiểm tra trong phòng cần phải thực hiện xét nghiệm
Nếu con ngời đợc tìm thấy từ môi trờng chứa CO, CO sẽ đợc phân tích từ từ trong carboxyhemoglobin Nếu bệnh nhân đã đợc thở oxy hoặc một lợng oxy nhỏ để bổ sung nhiều kích thích hô hấp (bệnh nhân đợc thở oxy trong giai đoạn ngạt) Điều này làm tăng
áp lực trong các phế nang của oxy và sự đi ra nhanh chóng của CO Nếu bệnh nhân biểu hiện dấu hiệu suy giảm chức năng não trầm trọng, tăng tỷ trọng oxy, tăng áp lực oxy, sự dẫn truyền thay đổi ra thân nhiệt Hệ tuần hoàn có COHb tạo nên màu đỏ tơi, đặc biệt này phụ thuộc vào phần (chỗ trũng) Mẫu máu màu đỏ tơi xuất hiện, nếu tỷ lệ phần trăm bão hòa của hemoglobin bão hòa đủ cao Điều này có tác dụng trong lâm sàng để xác
định chẩn đoán cho bệnh nhân Máy sắc ký khí phát hiện lợng CO rất nhỏ nhng thấp hơn 10% thì cần xác định bằng quang phổ Khi khám nghiệm, máu cơ thể không thay đổi song màu đỏ nâu của oxyhemoglobin và nó biểu hiện việc phân tích CO đã đợc thực hiện Nếu bệnh nhân đã biểu hiện trong khi chết, thì những biến đổi sau chết là màu đỏ nhạt của máu, nó phản ánh trong các phủ tạng Nếu thời gian sống sót dài, nơi chấn th-
ơng trên da có thể phát triển, nó tạo thành vùng phù nề, biến màu, nốt phỏng, hoại tử hoặc viêm loét Điều quan trọng là những chấn thơng do chính CO nó không phải là do nhiệt của vùng chấn thơng Chúng đã đợc thấy ở nhiễm độc barbiturate
Những thay đổi thiếu máu cục bộ đã đợc ghi lại trong mô cơ Nếu bệnh nhân sống trong vài giờ, có thể hoại tử 2 bên trong đại não, mặc dù đây là biểu hiện chung của CO và nó cũng có thể xuất hiện trong những trờng hợp kéo dài tới vài ngày trong bệnh viện Nó cũng giống nh những trờng hợp nhiễm độc babituric cũng sống sót trong vài ngày Những chấm chảy máu nhỏ ở chất trắng, thờng biểu hiện chung sau chết trong một số ngời sống kéo dài vài ngày Những triệu chứng nhiễm độc mạn tính bao gồm: đau đầu, khó chịu bất lực do sự tích lũy Chúng cũng có triệu chứng nổi bật về tâm thần, về thực
tế những trờng hợp này rất khó khăn Toàn bộ những ngời hít phải khói sẽ có một lợng nhỏ bão hòa CO thờng từ giữa 2-4% và trong khí quyển, lợng khí thải của xe cộ tới 19%
mà không có triệu chứng gì
5.5 Carbon dioxide (CO 2 ):
Nhiễm độc với loại khí này thờng là hậu quả rối loạn sinh lý của cơ thể Loại khí này
đ-ợc hình thành trong phản ứng lên men, sự xuất hiện của các hạt trong thùng rác, hang hố hoặc khoang tàu và trong sự liên quan với CO (cháy) Hoàn cảnh tơng tự với gần môi tr-ờng nớc, CO2 có thể thoát từ sự thay đổi trong áp lực khí quyển Việc sử dụng CO2 của
Trang 13bình cứu hỏa hoặc đá khô trong điều kiện thông gió tồi cũng có liên quan (Gonzalez, Vance, Helpern và umberger, 1954) Có một số cuộc tranh luận sự chính xác về tiềm lực chất độc CO2 Những hậu quả tức thì có quan hệ thấp về nồng độ gây ngạt hoặc mất oxy Trong thực tế, ngời ta thấy sự tích lũy CO2 bên trong cơ thể hoặc sự điều khiển của loại khí này với oxy, triệu chứng chắc chắn xảy ra Nhng phần lớn những trờng hợp nếu CO2
tăng lên trong khí quyển, gây chết do thiếu oxy Sự tiếp tục mất ý thức của bệnh nhân có thể bị co giật và gây nên sự nghi ngờ chấn thơng do khi khám nghiệm Điều này phải xem xét phân tích bằng luật pháp trong mọi trờng hợp; khi khám nghiệm những chấn th-
ơng do thiếu oxy Khi ở nồng độ cao gây ngạt đột ngột đã đợc chú ý sự gục xuống đợc cứu thoát một ngời khi mức CO2 thấp
6 Arsenic (As):
Nguồn gốc Arsenic đợc phun vào quả, ngâm da cừu, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ côn trùng,
đánh bả chuột, giăng bẫy côn trùng Những thứ đó có thể làm ô nhiễm thức ăn hoặc đồ uống; dịch chuẩn bị cho đồ uống do sơ ý hoặc có thể bị lạm dụng cho mục đích tội phạm
Arsenic trắng, Arsenic trioxide hoặc arsenious acid, là một trong các dạng chung gây án mạng, nhng ngày nay hiếm vì nó gây nhiễm độc bằng đờng tiêu hóa Nó gây nên hậu quả nghiêm trọng Dung dịch của fower hoặc dịch arsenicalis, dung dịch của arsenious acide đã đợc ngừng làm thuốc
Arsine (ASH3) là dạng khí gặp trong công nghiệp Đó là loại chất độc gây nên tan máu
và theo Hunter (1936) nó là một trong những chất độc trong công nghiệp, nó có thể gây chết ngời ngay tức khắc Nó còn là loại chất độc bởi Scheele có màu xanh của giấy dán tờng vì nó là sản phẩm của Arsene bởi tác động của mốc trên màu của giấy
6.1 Nguồn gốc tự nhiên:
- Đất: Arsenic có trong thành phần tự nhiên ở trong đất Điều này đã đợc ghi nhớ khi
khai quật đã đợc quyết định trong điều tra đã thấy nguyên cớ chất độc arsenic Những mẫu từ đất tại nơi chôn cất sẽ đợc lấy ở phía trên và dới quan tài và đất ở vùng xung quanh quan tài Tại một tỉnh Cordoba Acgentina, nơi có nồng độ cao của arsenic trong
đất và trong nớc gây hậu quả bệnh nhiễm độc arsenic địa phơng
- Nớc: Nớc sạch bị nhiễm bẩn arsenic từ công nghiệp hoặc nguồn gốc tự nhiên có thể là
nguyên nhân ngộ độc mạn tính
- Bia: Arsenic trong bia, bằng sự hiểu biết đáng tin cậy về nhiễm độc tại vùng
Manclester trong năm 1900-1901 đã có dấu vết chủ yếu sắt pyste (quặng sắt hoàng thiết)
đã đợc sử dụng làm acide sulfuric, trong đó phải dùng glucose để nấu bia
Trang 14- Tôm cua biển: Arsenic xảy ra trong tôm cua biển, ốc hến và cá COX (1925) phát hiện
hến - trai - sò chứa khoảng 2,7p.p.m hoặc 1/48grains của arsenious oxide cho mỗi Lb; giống nh 1/48 gram mỗi 1b Trong cá chim, nó là thức ăn chủ yếu cho sò, ốc Bằng phân tích chapman (1926) đã trình bày rằng trai, sò của nớc Anh chứa từ 3-10p.p.m arsenic và trai, sò của Bồ Đào Nha chứa arsenic gấp 10 lần Sự khó chịu của điều này thể hiện không có dấu hiệu “ốm” Arsenic còn chứa trong con vẹm, tôm hồng và cũng không đợc chú ý nó có khoảng từ 36 -119 p.p.m trong con vẹm và 36-174 p.p.m ở con tôm hồng và cũng không đợc chú ý nó có khoảng từ 26-119p.p.m trong con vẹm và 36-174p.p.m ở con tôm hồng
6.2 Khói thuốc lá:
Đó là nguyên cớ về arsenic đợc biết là nguyên nhân của ung th da và phổi Lý thuyết này
là cơ sở đợc chứng minh arsenic trong thuốc lá khi hít vào bởi Remington (1927)
Vào khoảng 23% arsenic trong thuốc lá dễ bay hơi, nhng phần lớn còn lại trong tàn hoặc
đầu mẩu của điếu thuốc hoặc xì gà Khói thuốc lá chứa từ 8,3 tới 50 p.p.m arsenic và hút thuốc lá thì xuất hiện nhiều hơn dạng hút bằng pip hoặc xì gà Hút thuốc lá chứa 3,3 tới 10,5mg/1ml và hút xì gà chứa 0,2-3mg/1ml
- Liều chết: Có thể 4grain As2O3, nhng chữa khỏi đã xảy ra sau khi ăn 10grain
Arsenious oxide hầu hết có vị nhạt (vị của kim loại nhẹ đã đợc mô tả và ít màu trong dung dịch, có thể không khơi dậy sự nghi ngờ của nạn nhân Vấn đề chính là ngời nhiễm
độc có quan hệ không hòa tan, mặc dù hòa tan nhiều trong nớc sôi hơn nớc lạnh Nó có thể không hòa tan 100gr trong coca nóng, nhng uống nớc lạnh thì arsenious oxide sẽ lắng đọng
6.3 Sự hấp thu, phân phối và thải trừ Arsenic:
Arsenic đợc hấp thu qua niêm mạc đờng ruột Mặc dù sự nhiễm độc do hậu quả qua ờng tiêu hóa, đờng hít thở của loại arsenic hoặc arsine đôi khi bằng con đờng hấp thu; khi khói bụi xe cộ sẽ gây hấp thu qua da Arsenic đợc chứa đựng ở gan, thận và xơng, nó phân phối trong cơ thể theo độc độ hấp thu giảm dần Trong nhiễm độc cấp do phần lớn arsenic tập trung ở gan và thận, nhng cũng phân phối vào trong tổ chức gây ngộ độc mạn tính (copeman và kamerman, 1940) Do arsenic phổ biến dạng thuốc trừ sâu và các chất hóa học trong nông nghiệp và gây hậu quả ô nhiễm thức ăn, nhiều ngời bình thờng có thể bài tiết số lợng nhỏ arsenic (tới 10àg/100ml) nớc tiểu
đ-Chú ý: (1grain = 0,0648gr)
- Arsenic (AsH3) chiếm phần lớn hình thái độc của arsenic Đó là dạng khí màu nhạt, nó giống nh dạng hơi có mùi tỏi, khi acide tác động vào arsenic giống mẫu quặng sắt và
Trang 15trong qui trình nào đó, có hydro mới và arsenic trở thành dạng hoạt động chính là arsine Dạng khí này gây độc khi ngời hít phải 30’ với nồng độ 1/4000 Nó gây hiện tợng tan huyết và ảnh hởng thờng chậm trễ, triệu chứng phụ thuộc vào liều lợng có thể không xuất hiện 6-36 giờ sau khi bị nhiễm (hít phải) Gây hiện tợng thiếu máu do bị tan huyết
và gây tổn thơng gan và thận
Triệu chứng nổi bật: cảm giác ớn lạnh, sốt, buồn nôn và nôn, đau thắt lng, thiểu niệu và chứa hồng cầu, vàng da, với biểu hiện thiếu máu và oxy Thêm nữa khí này gây tác động yếu vào trung tâm hệ thống thần kinh
6.4 Nhiễm độc Arsenic cấp:
Khi ở mức độ nguy hiểm do nhiễm độc mạn tính đợc điều trị trong thời gian dài gây hiện tợng gen với tình trạng kể cả cấp tính, The Fower ông quan tâm ở Châu Âu thấy rằng chủ yếu bằng đờng tiêu hóa, song số lợng phải đủ lớn để gây nhiễm độc cấp tính ở ngời bình thờng trong khoảng 200-300mg arsenic dạng trioxide sẽ gây chết Với liều lợng này gây nhiễm độc cấp tính bằng triệu chứng hệ tiêu hóa: đau bụng, nôn, tiêu chảy và có thể chết rất nhanh do sốc (suy tim - hô hấp) Khi autopsie thấy có một số thay đổi về giải phẫu bệnh, trừ kích thích và niêm mạc dạ dày trở thành màu đỏ (màu nhung đỏ) và chảy máu cơ tim vùng vách tâm thất Nhiễm độc cấp tính: có những cái chết xảy ra chậm, ở những bệnh nhân đã từng bị mạn tính với triệu chứng chuột rút trầm trọng, đau bụng và nôn rồi sốc ở những ngời sau khi ăn, thấy cảm giác tức thì nh bỏng ở họng và có vị kim loại ở mồm Nôn và tiêu chảy ra máu thờng xảy ra và triệu chứng chuột rút ở chân tay Chức năng của thận bị suy sụp Triệu chứng lâm sàng này diễn ra từ 3-7 ngày
ảnh hởng arsenic trong tủy xơng xảy ra muộn với những thay đổi trong máu nh: hồng cầu a kiềm và xuất hiện dòng hồng cầu non của cả 2 dòng hồng và bạch cầu Triệu chứng tiêu chảy luôn luôn xuất hiện mót rặn, phân biểu hiện sống (cơm hạt và nớc) với chảy máu, gây hậu quả mất nớc trầm trọng
Xét nghiệm nớc tiểu dơng tính với coproporphyrin Arsenic lắng đọng trong toàn bộ tổ chức sừng hóa, bao gồm tóc và móng Muộn hơn nó lắng đọng trong những phần phát triển và trong những móng tay biến dạng, tạo nên khía màu trắng hoặc đờng vạch trắng nơi mà arsenic lắng đọng Do đó ở bệnh nhân còn sống, khi cắt móng tay bao gồm vạch trắng do đọng arsenic, chứ không phải thể loại móng tay Khi autopsie cần lấy toàn bộ móng tay để xét nghiệm Trong đó sự lắng đọng ở tóc chỉ một dải nhỏ, nh vậy nếu bệnh nhân nhiễm độc mạn tính mà bị nhiễm arsenic trong thời gian gián đoạn thì sự phát triển với tổ chức cũng gián đoạn Tóc và móng tuy khó thực hiện trong phòng xét nghiệm, mà phải kích hoạt nơ tron trong xét nghiệm thì dễ hơn, và do đó ngời ta thích xét nghiệm máu và nớc tiểu ở bệnh nhân còn sống và sử dụng tổ chức có liên quan tới autopsie, nếu máu và nớc tiểu không sử dụng đợc nh tóc, móng, da và xơng
Trang 166.5 Chất thu gom để xét nghiệm:
Những chất nôn, nớc tiểu, phân, chất rửa dạ dày, máu, tóc và móng Autopsie toàn diện,
đặc biệt là máu, nớc tiểu, ruột, chất chứa dạ dày, tóc và móng (bao gồm cả chân móng),
da, xơng và những chất sừng hóa, nó hấp thụ arsenic từ thể dịch; lấy mẫu cần tránh nhiễm bẩn Nên dùng thêm túi Plastic vào trong khi autopsie, sau đó lấy mẫu gửi nh thủ tục thông thờng
7 Các chất độc gốc kim loại nặng:
7.1 Chì (Pb):
Chì là loại chất độc phổ biến và nó tích lũy trong cơ thể Nó có thể hấp thu gồm:
1 Do hít phải của bụi, dạng bốc hơi bởi sản phẩm của hàn, sơn cháy hoặc phun, cháy của pin cũ
2 Hấp thu qua da: Khi dạng hợp chất hữu cơ nh tetra-ethyl, chúng thờng đợc dùng trong dầu mỏ
3 Bằng đờng tiêu hóa do thức ăn, nớc uống bị nhiễm bẩn Sơn thờng chứa chì dùng làm bút chì, đồ chơi có thể là nguyên nhân bị nhiễm độc cho trẻ nhỏ và là nguyên nhân gây chết đã đợc ghi lại khi tróc sơn hiên nhà (ở phơng Tây), cửa sổ, keo, sơn xây dựng Nguồn gốc khác có thể từ nớc uống và trong quá trình công nghiệp do tay bị nhiễm bẩn chì Đặc biệt có những nguồn gốc khó xác định
Sự nhiễm độc chì có triệu chứng gây bỏng hầu - họng co thắt bụng cấp tính gây đau bụng dữ dội, nôn và ỉa chảy Công nhân trong công nghiệp chì phải chịu đựng những triệu chứng này do “nhiễm độc chì” Trong phân lỏng có màu đen của dạng chì sulphide Sốc và chết có thể đảm bảo nhng trong cấp cứu không phải mở bụng thăm dò Nhiễm
độc chì mạn tính ở nhiều thể loại liệt khác nhau, thờng ở dạng xơng trụ hoặc vùng gan chân Thiếu máu thờng xuất hiện và trong trờng hợp giống nh đào kép (đỏ loang lổ trên mặt) do bị hấp phụ bởi loại sơn dầu
Những triệu chứng không may mắn của nhiễm độc mạn tính nó khác là bị liệt đau đầu +
có thể có triệu chứng bắt chớc của bệnh tâm thần và những thay đổi về tâm thần có thể xảy ra Loại chì tetraethyl nhiễm độc nó giống nh triệu chứng tâm thần hơn là biểu hiện của nhiễm độc các phủ tạng khác ở trẻ con bị hấp thu và đọng lại chì ở phía sau tai đầu xơng của những xơng dài và điều này đợc phát hiện bởi X.quang nh: Xơng đùi, xơng quay và xơng trụ nó khác ở ngời trởng thành, nó có đờng màu hơi xanh đen của dạng chì sulphide xuất hiện trên vùng lợi của hàm răng Đó là điều kiện thuận lợi của nhiễm trùng răng miệng ở trẻ con, xuất hiện triệu chứng, báo động bị bệnh não, nhng điều này hiếm cho đến khi trởng thành và nó xảy ra chủ yếu cấp tính (Hess, 1961) Điều kiện này biểu
Trang 17hiện hôn mê do tăng áp lực nội sọ mê sảng hoặc co giật có thể có hoặc không Tử vong nhanh chóng xảy ra nếu không điều trị, nó không có chẩn đoán chung cho viêm não hoặc chảy máu dới màng cứng Tâm thần trì trệ và rối loạn tâm thần có thể là hậu quả nhiễm độc chì bán cấp ở trẻ con.
Những bệnh nhân đặc biệt dới 5 tuổi, khi mà nồng độ chì trong máu vợt quá 45àg/100ml
sẽ phải điều trị với K2Ca edetate hoặc peurtllamine (B -β dimethyl-cysteine)
Gần đây khả năng tâm thần trì trệ và những thay đổi nhân cách biểu hiện nhiều ở trẻ nhỏ, việc chứng minh chì trong máu giúp cho chẩn đoán xác định
Toàn bộ con ngời đều có lợng chì ít nhiều trong cơ thể Điều này là hậu quả không tránh
đợc khi uống nớc bằng ống hút có chì và ăn rau quả rửa cha sạch mà nó đợc phun có chứa hợp chất chì (chì arsenate) để trừ sâu bọ Một ngày, tỷ lệ nớc tiểu thải dới 80àg đã
đợc chứng minh là “bình thờng” ở những công nhân thải 80-100àg/ngày sẽ phải chuyển công việc khác Trên 100àg và xấp xỉ 10% của bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng
Tất cả bệnh nhân bị nhiễm độc chì với xét nghiệm nớc tiểu dơng tính bằng xét nghiệm Coproporphyrin, song điều này không dùng cho chẩn đoán Glucoza niệu và amine-acid niệu có thể xuất hiện Khi autopsie có một số biểu hiện đặc biệt về nhiễm độc chì Nơi
mà vạch chì xuất hiện ở xơng, gây rối loạn về sự phát triển đã đợc thấy ở đầu xơng Hoại
tử hình ống làm bong nội mô của những tế bào hình ống từ trong lòng ống, có thể thấy ở thận ở những mức độ khác nhau về sự tái tạo của những tế bào lòng ống sẽ xuất hiện.Phải cẩn thận thu gom những mẫu cần thiết để xét nghiệm để tìm chì:
1 Bao bì đựng chì trong cốc
2 Phòng xét nghiệm tìm chì tự do trong sự ô nhiễm
- Khi autopsie: lấy xơng, gan, thận và não
7.2 Mercury (Hg):
Chất độc có thể tăng lên ở dạng muối thủy ngân hòa tan và thể hơi của dịch kim loại Muộn hơn là các phòng thí nghiệm bị độc hại, đặc biệt khi có nhiều hạt nhỏ xíu của kim loại xuất hiện trên sàn nhà, hoặc trong các chậu rửa Sự hấp thụ thủy ngân là không đáng
kể, thí dụ một đứa trẻ đã bẻ cái nhiệt kế và một số lợng nhỏ thủy ngân nuốt vào đờng dạ dày Một trờng hợp chủ tâm tiêm vào dới da đã đợc mô tả sớm Sự phản ứng quá mẫn với hợp chất thủy ngân xuất hiện ở một số cá thể và những bệnh nhân có chế độ ăn kiêng trong khi tiêm thuốc lợi tiểu chứa thủy ngân Phơng thức của dạng chết xuất hiện rung tâm thất
Muối thủy ngân:
Trang 18Chất ăn mòn thăng hoa (mercuric chloride, HgCl2) là những chất rất độc, đợc sử dụng để
cố định trong mô học
Một trờng hợp nhiễm độc dạng dung dịch rợu trong phòng thí nghiệm thực vật, nó đã gây tai nạn bằng đờng tiêu hóa Triệu chứng: đau bụng, nôn, ỉa chảy ra máu kèm theo shock nặng
Mercurous chloride, hoặc chlorua thủy ngân, là loại cũ dùng để tẩy, và là nguyên nhân tiêu chảy, nhng không hấp thu và không gây độc Đôi khi nó gây oxy hóa muối thủy ngân và chết đã xảy ra; nhng nó đã xảy ra trớc khi sử dụng bằng đờng tiêu hóa và không
có trong cơ thể Việc sử dụng thủy ngân chloride dạng hòa tan để bơm rửa âm đạo và rửa những dạng khác, nó là nơi có khả năng gây độc trong nhiều tủ thuốc
- Liều chết từ 1-4gr nhng có thể chỉ 180mg Nó xấp xỉ 1/2 đến 4 lần số thủy ngân đã hấp thu đợc thải ra trong nớc tiểu và thời gian hàng tháng, nhiều ngày hoặc nhiều tuần Nhiễm độc thủy ngân gây chết ngay do sốc khi liều quá nặng Bệnh nhân thờng trong hoàn cảnh bị tắc (vô niệu) ở thận và hoại tử gan Hoại tử trắng ngời ta thấy ở niêm mạc mồm và dạ dày sau khi sử dụng bằng đờng tiêu hóa và điều này có thể xảy ra khi rửa âm
đạo nếu sử dụng loại dung dịch Chết xảy ra do suy thận xảy ra rừ 10-12 ngày, mặc dù
đã đợc chạy thận nhân tạo Về giải phẫu bệnh gây tổn thơng ở ống và cầu thận, sự xuất hiện có xu hớng lắng đọng calcium trong ống thận
Khi khám nghiệm thấy thận sng to, vỏ nhợt nhạt và nhiễm trùng vùng tủy thận Kèm theo hoại tử gan, viêm loét thờng thấy ở đại tràng Thuỷ ngân đợc dự trữ trong gan, thận
và xơng, nhng xét nghiệm cần bổ sung mẫu máu và nớc tiểu để phân tích
Nhiễm độc thủy ngân mạn tính đó là mệt mỏi, chóng mặt, liệt có thể phát triển, nhng nó
là tiếng chuông báo động với những triệu chứng run rẩy với biểu hiện bàng hoàng xúc
động và biến đổi Màu xanh-đen của thủy ngân có thể xuất hiện ở mồm nói chung hiếm Màu ghi - tro tới tím sạm có thể thấy Bởi vì sử dụng thủy ngân trong nhà máy công nghiệp, khi hít thở có rất nhiều trờng hợp bị nhiễm độc Những triệu chứng từ sản phẩm
đa tới sự dồn ép “điên nh ngời làm mũ” và run rẩy nh “ngời làm mũ” Những bệnh nhân khó khăn trong việc đi lại và có biểu hiện dáng đi giống nh chấn thơng giống nh hình tháp Thuỷ ngân đợc quy cho teo cơ ở bên triệu chứng “gây xơ cứng” trong một số nha
sĩ Với lý do này, trờng hợp nào đó bị viêm dây thần kinh ngoại biên và xơ cứng cơ- teo cơ sẽ là dấu hiệu tiềm ẩn của nhiễm độc thủy ngân mạn tính
Ngời ta đã tìm thấy hai hình thái nhiễm độc thủy ngân Đó là bệnh màu hồng ở trẻ con
có sự liên quan với bột màu xám (bột) (calomec), đợc sử dụng trong đơn thuốc cho trẻ nhỏ Nhiễm độc thủy ngân bán cấp đã đợc mô tả trong “dấu vân tay” của những công nhân trong Viện điều tra tội phạm từ chất bụi bẩn bột thủy ngân; nó là nguyên nhân làm lỏng, lung lay răng
Nó có sự liên quan giữa đau đầu chi và hấp phụ thuỷ ngân Điều này biểu hiện màu đỏ, sng phồng ngón tay, ngón chân, chuột rút và gan bàn chân với những mụn nớc và tróc