1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài giảng Bài 8: Y pháp độc chất

24 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 340,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng cung cấp các kiến thức giúp người đọc có thể: nắm được khái niệm chung về chất độc, hiểu những đường gây nhiễm độc – quá trình hấp thu, thải trừ của cơ thể biểu hiện triệu chứng lâm sàng của mỗi loại chất độc, nguyên lý giải độc; căn cứ vào những yếu tố trên hiểu việc xử trí cấp cứu trong từng trường hợp và cộng đồng,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

BÀI 8

Y PHÁP ĐỘC CHẤT MỤC TIÊU

1 Nắm được khái niệm chung về chất độc

2 Hiểu những đường gây nhiễm độc – quá trình hấp thu, thải trừ của cơ thể, biểu hiện triệu chứng lâm sàng của mỗi loại chất độc, nguyên lý giải độc

3 Căn cứ vào những yếu tố trên hiểu việc xử trí cấp cứu trong từng trường hợp và cộng động

4 Xác định được nguyên nhân và hình thái tử vong như: án mạng, tai nạn hay

tự tử - giúp cho các cơ quan bảo về luật pháp có biện pháp xử trí về mặt an ninh trong xã hội

1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHẤT ĐỘC

1.1 Khái niệm chung:

Chất độc là bất cứ chất gì trong cơ thể con người có thể gây những biến đổi

về hóa học, sinh lý, sinh hóa với liều độc nhất định, gây rối loạn chức năng, có thể gây nhiễm độc hoặc chết người

Nguyên nhân của nhiễm độc có thể như: tai nạn, án mạng, tự tử, tự điều trị (phá thai), iatrogenic (bệnh do điều trị gây tác động ngoài ý muốn)

1.2 Nguồn gốc:

1.2.1 Trong gia đình: chất tẩy rửa, sát trùng, những chất để đánh bóng

1.2.2 Chất độc từ làm vườn hoặc nông nghiệp: hóa chất trừ sâu, diệt côn

trùng, diệt cỏ

1.2.3 Chất bảo quản thức ăn và những chất phụ gia

1.2.4 Những tác nhân trong điều trị: thuốc và những chất gây nghiện, những

bài thuốc gia truyền không rỏ thành phần

1.2.5 Hóa chất độc sử dụng trong các phòng xét nghiệm, cơ sở thương mại,

trường học hoặc những cơ sở khác có sử dụng hóa chất

1.2.6 Nhiễm độc thực phẩm

1.2.7 Động thực vật có chất độc (rắn, rết, lá ngón ),

1.2.8 Chất độc đặc chế làm vũ khí giết người

1.3 Đường vào: Chất độc có thể vào cơ thể bằng đường tiêu hóa, hô hấp hấp thụ

qua da hoặc đường tiêm, ngấm vào đường âm đạo, trực tràng hoặc bàng quang

Trang 2

1.4 Các yếu tố ảnh hưỡng đến sự nhiễm độc: Sự tác động của hóa chất độc phụ

thuộc rất nhiều yếu tố như cơ địa, đường vào, nồng độ của chất độc, số lượng chất độc vào cơ thể, tuổi, giới, người có bệnh tim mạch, hoặc các bệnh mạn tính Những hợp chất thông thường không độc như nước, một số loài thức ăn, thuốc, hoặc một số loại khí có trong thành phần không khí thở như CO2 cũng có thể gây độc với số lượng lớn khi cơ thể không dung nạp được

2 THU MẪU XÉT NGHIỆM ĐỘC CHẤT

Phải được tìm hiểu kỹ toàn bộ những dấu hiệu về lâm sàng, xét nghiệm và thông tin chi tiết về bệnh sử của nạn nhân trước khi thực hiện khám nghiệm mổ tử thi

Trong một số trường hợp có thể chất độc vẫn còn tồn tại trong cơ thể nạn nhân hoặc trong cac mẫu sinh phẩm, trên các tang vật thu được tại hiện trường do

đó cần thu giữ đầy đủ và bảo quản các mẫu bệnh phẩm để gửi làm xét nghiệm Những câu hỏi thường đặt ra như sau:

1 Đã thu thập được cái gì ?

2 Số lượng cụ thể ?

3 Tình trạng mẫu ?

4 Sẽ làm gì với chúng ?

2.1 Đã thu nhập được cái gì ?

Cần nêu rõ số lượng và đặc điểm của mẫu thu thập được trong quá trình khám nghiệm tử thi hoặc tại hiện trường Mỗi mẫu vật phẩm cần được đựng trong các bao bì đúng quy chuẩn có nhãn niêm phong và ghi đầy đủ những thông tin cần thiết

2.2 Số lượng các chất cần lấy xét nghiệm

1 Não ½ bán cầu (phần sau)

2 Phổi: toàn bộ 1 phổi

3 Tim: toàn bộ tim

4 Thận: ½ mỗi thận

5 Gan: 200 – 300gr

6 Bàng quang: cả nước tiểu bên trong

7 Dạ dày: toàn bộ dạ dày và chất chứa

8 Ruột: toàn bộ đoạn đại tràng Sigma

9 Túi mật: toàn bộ và chất chứa

Trang 3

10 Cơ: cơ liên sườn, cơ trơn (20gr)

11 Máu: 100ml

2.3 Mỗi mẫu xét nghiệm phải ghi rõ nguồn gốc thu thập từ hiện trường, tang vật

hay trên thi thể nạn nhân, mẫu bệnh phẩm phải được đựng trong lọ thủy tinh hoặc trong những ống nghiệm sạch có nút kín và ghi rõ những thông tin sau:

1 Tên và số lượng chất

2 Ngày tháng năm

3 Nơi lấy mẫu

4 Tên người lấy mẫu

5 Vài thông tin về yêu cầu kiểm tra (XN)

6 Định hướng của cấp cứu Nếu nhiễm độc hàng loạt phải báo cáo cấp có thẩm quyền để triển khai hoạt động cứu hộ, khoanh vùng và điều tra vụ nhiễm độc

Biên bản giao nhận mẫu phải viết thành 3 bản Nếu gửi bằng bưu điện thì phải được ghi chép vào sổ sách Hộp bảo quản phải được khóa niêm phong Nên chia tách các mẫu thành hai phần để gửi đi và giữ lại phòng những bất trắc Phần này cũng phải được bảo quản và đậy kín trong tủ lạnh hoặc nơi bảo quản cho đến khi kết thúc vụ việc

2.4 Cần lưu ý kết quả phân tích độc chất phải được đối chiếu với các dấu hiệu lâm

sàng và phù hợp với tổn thương giải phẩu bệnh cũng như của các xét nghiệm cơ bản khác Nếu có sự khác nhau thì cần bàn bạc trao đổi với kiểm nghiệm viên độc chất để đi đến kết luận cho chính xác và đảm bảo đúng thực tế khách quan của vụ việc

3 CHẤT ĂN MÒN

3.1 Các chất ăn mòn

Chất độc ăn mòn bắt đầu có hơn một thế kỷ, giống như phương pháp tự phá hủy Đã có rất nhiều trường hợp ngộ độc acid hydrochloric hoặc acid sulfuric do

ăn, uống nhầm loại hóa chất này

Những chất độc ăn mòn có thể chia ra 3 nhóm sau:

a Acid khoáng: acid hydrochloric, acid sulfuric, acid nitric

b Acid hữu cơ: a acetic, a.oxalic, a.citric

c Alkali mạnh: ammonia, soda caustic, potash caustic

d Phenol

Trang 4

1 (a) Những acid tác động tại chỗ của tổ chức và sự ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào độ đậm đặc hoặc pha loãng Chúng làm biến đổi hemoglobin và nặng hơn là đông vón protein thành các dạng acid albumin với tổ chức bị khử nước, gây nên biến đổi màu của tổ chức thành màu nâu hoặc đen, khi sờ nắn thấy chắc

Nói chung, nếu ngộ độc theo đường tiêu hóa, chất ăn mòn thường gây nên những vết bỏng ở môi, niêm mạc miệng, thực quản và dạ dày Cũng có thể gặp dấu hiệu “chảy dịch ăn mòn” xuống cằm, ngực, bụng

Trong thực tế có gặp những tổn thương xuất hiện sau khi chết do tác động của acid mạnh còn tiếp tục tác động tiếp vào tổ chức thêm một khoảng thời gian nữa

Cần lưu ý: hỗn hợp của acid khá mạnh cũng được sử dụng để gây ăn mòn các tổ chức phần mềm của cơ thể

3.2 Thu mẫu xét nghiệm độc

Trong tất cả những chất ăn mòn dạ dày đã được rửa, chất nôn, đặc biệt khi nhiễm độc phenol, cần lấy máu và nước tiêủ Sau khi chết cần lấy chất chứa dạ dày, nước tiểu và máu để xét nghiệm

4 CHẤT DẠNG HƠI

4.1 Chất độc dạng hơi

Nhóm hợp chất độc này đã được chia ra những nhóm chính phụ thuộc vào

cơ thể tác động chủ yếu như:

1 Mất oxy

2 Trực tiếp kích thích hệ hô hấp

3 Thuốc mê (an thần)

4 Những chất độc đặc biệt ảnh hướng tới cơ quan

Nhu cầu sử dụng ôxy ở các mô của cơ thể phụ thuộc vào cấu trúc, chức năng Sự duy trì chức năng này phụ thuộc nhiều những tác động, bao gồm:

1 Sự toàn vẹn trung tâm hô hấp sẽ kích thích chức năng hô hấp

2 Hệ thống hô hấp mở cho không khí đi qua có chứa oxy tới những thành phế nang kề nhau để trao đổi

3 Oxy đi qua thành phế nang tới các mao mạch vách phế nang

4 Sự kết hợp của oxy với hemoglobin tạo thành oxyhemoglobin

5 Sự tuần hoàn đầy đủ có mang oxyhemoglobin trong tế bào hồng cầu ở phổi mang đến tim

Trang 5

6 Hệ thống tuần hoàn mang máu nuôi cơ thể thông qua hệ mao mạch nhỏ

7 Sự phân chia oxygen từ hemoglobin

8 Sự vận chuyển qua thành mao mạch nhỏ tới khe kẽ mô

9 Sự vận chuyển ở khe kẽ mô tới thành của tế bào

10 Việc sử dụng bên trong tế bào cho hoạt động hô hấp nội bào

11 Trở lại bằng con đường chính CO2 bằng con đường thở ra

Toàn bộ chức năng phải phù hợp với quá trình hô hấp, chuyển hóa tế bào, nếu có sự tắc nghẽn ở mức độ nào đó có thể gây hậu quả suy giảm hô hấp ở mức

tế bào

Cần lấy mẫu xét nghiệm của bệnh nhân để phát hiện chất độc khí ở phổi bằng cách dùng bơm tim dung tích lớn (20 – 50ml) để chọc hút không khí trong ngực, sau đó gửi ngay đến nơi kiểm nghiệm độc chất có sử dụng hệ thống máy sắc

do sơ ý hoặc trong tội phạm

Arsenic trắng, arsenic trioxide hoặc arsenious acid, là một trong các dạng chung gây án mạng, nhưng ngày nay hiếm vì nó gây nhiễm độc bằng đường tiêu hóa Ngày nay dung dịch của fower hoặc dịch arsenicalis, arsenious acide đã bị cấm không được sử dụng

Arsine (ASH3) là dạng khí gặp trong công nghiệp Đó là loại chất độc gây nên tan máu và theo Hunter (1936) nó là một trong những chất độc trong công nghiệp, nó có thể gây chết người ngay tức khắc Nó còn là loại chất độc bởi Scheele có màu xanh của giấy dán tường vì nó là sản phẩm của arsine bởi tác động của mốc trên màu của giấy

5.1 Nguồn gốc tự nhiên

- Đất: Arsenic có trong thành phần tự nhiên ở trong đất Điều này đã được ghi nhận khi khai quật tử thi trong các cuộc điều tra để tìm bằng chứng về chất độc arsenic Những mẫu từ đất tại nơi chôn cất sẽ được lấy ở phía trên và dưới quan tài

và đất ở vùng xung quanh quan tài Tuy nhiên ở nhiều nơi như tại một tỉnh

Trang 6

Cordoba thuộc Acgentina, nơi có nồng độ arsenic trong đất và trong nước rất cao

đã gây nên bệnh nhiễm độc arsenic địa phương

- Nước: nước sạch bị nhiễm arsenic từ công nghiệp hoặc nguồn gốc tự nhiên có thể là nguyên nhân gây ngộ độc mạn tính

- Bia: arsenic có trong bia là những bằng chứng có đủ độ tin cậy và được xác định về nhiễm độc arsenic tại vùng Manchester trong năm 1900 – 1901

- Tôm cua biển: arsenic cũng có trong tôm cua biển, ốc hến và cá COX

(1925) phát hiện trong hến – trai – sò chứa khoảng 2,7 p.p.m hoặc 1/48 grains của arsenious oxide cho mỗi Lb; giống như 1/48 gram mỗi 1b Bằng thực nghiệm Chapman (1926) đã chứng minh rằng trai, sò của nước Anh chứa từ 3 – 10 p.p.m arsenic và trai, sò của Bồ Đào Nha chứa arsenic gấp 10 lần Arsenic còn chứa trong con vẹm, tôm hồng và cũng không được chú ý trong các cuộc kiểm tra về an toàn thực phẩm, nó có khoảng từ 36 – 119 p.p.m trong con vẹm và 36 – 174 p.p.m

ở con tôm hồng

6.2 Khói thuốc lá

Được xem là nguyên nhân của ung thư da và phổi được Remington (1927) phát hiện ra, có khoảng 23% arsenic trong thuốc lá dễ bay hơi, nhưng phần lớn còn lại trong tàn hoặc đầu mẩu của điếu thuốc hoặc xì gà Khói thuốc lá chứa từ 8,3 tới 50 p.p.m arsenic và hút thuốc lá thì xuất hiện nhiều hơn hút bằng pip hoặc

xì gà Hút thuốc lá chứa 3,3 tới 10,5mg/1ml và hút xì gà chứa 0,2 – 3mg/1ml

- Liều chết: có thể 4 grain As2O3, nhưng cũng đã có trường hợp được chữa khỏi sau khi ăn 10 grain

Arsenious oxide hầu hết có vị nhạt, và ít màu trong dung dịch và lý do chính để không khơi dậy sự nghi ngờ của nạn nhân bị đầu độc, ít hòa tan trong nước lạnh nhưng dễ hòa tan trong nước sôi, trong coca nóng

6.3 Sự hấp thu, phân phối và thải trừ arsenic

Arsenic có thể xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc ống tiêu hóa, niêm mạc đường hô hấp hoặc qua da và tồn tại ở gan, thận và xương Trong nhiễm độc cấp phần lớn arsenic tập trung ở gan và thận, nhưng cũng phân phối vào trong tổ chức gây ngộ độc mạn tính (Copeman và Kamerman, 1940) Do arsenic phổ biến dưới dạng thuốc trừ sâu và các chất hóa học trong nông nghiệp và gây hậu quả ô nhiễm thức ăn nên nhiều người bình thường có thể bài tiết số lượng nhỏ arsenic (tới 10µg/100ml) nước tiểu (1grain = 0,0648gr)

Trang 7

- Arsenic (AsH3) chiềm phần lớn hình thái các chất độc có gốc arsenic Đó

là dạng khí nhạt màu, giống như dạng hơi có mùi tỏi, khi acide tác động vào arsenic giống mẫu quặng sắt và trong quy trình nào đó, khi đó hudro mới sinh ra

sẽ kết hợp với arsenic để trở thành dạng hoạt động chính là arsine Dạng khí này gây độc khi người hít phải 30’ với nồng độ 1/4000 Nó gây hiện tượng tan huyết

và ảnh hưởng thường chậm trễ, triệu chứng phụ thuộc vào liều lượng có thể không xuất hiện 6 – 36 giờ sau khi bị nhiễm (hít phải) Gây hiện tượng thiếu máu do bị tan huyết và gây tổn thương gan, thận

Triệu chứng nổi bật: cảm giác ớn lạnh, sốt, buồn nôn và nôn, đau thắt lưng, thiểu niệu và chứa hồng cầu, vàng da, với biểu hiện thiếu máu và oxy Thêm nửa khí này gây tác động yếu vào trung tâm hệ thống thần kinh

6.4 Nhiễm độc arsenic cấp

Khi ở mức độ nguy hiểm do nhiễm độc mạn tính được điều trị trong thời gian dài gây hiện tượng gen với tình trạng kể cả cấp tính The Fower, ở Châu Âu chủ yếu ngộ độc bằng đường tiêu hóa, song số lượng phải đủ lớn để gây nhiễm độc cấp tính Ở người bình thường trong khoảng 200 – 300mg arsenic dạng trioxide sẽ gây chết Với liều lượng này sẽ gây nhiễm độc cấp tính bằng triệu chứng hệ tiêu hóa: đau bụng, nôn, tiêu chảy và có thể chết rất nhanh do bị sốc (suy tim – hô hấp) Khi mổ tử thi thường thấy có một số thay đổi về giải phẩu bệnh như kích thích niêm mạc dạ dày trở thành màu đỏ (màu nhung đỏ) và chảy máu cơ tim vùng vách tâm thất Nhiễm độc cấp tính: có những trường hợp chết xảy ra chậm, ở những bệnh nhân đã từng bị mạn tính với triệu chứng chuột rút trầm trọng, đau bụng và nôn rồi sốc Ở những người sau khi ăn, thấy cảm giác bỏng ở họng và có

vị kim loại ở mồm Nôn và tiêu chảy ra máu thường xảy ra và triệu chứng chuột rút ở chân tay Chức năng của thận bị suy sụp Triệu chứng lâm sàng này diễn ra

Trang 8

trắng hoặc đường vạch trắng hơn nơi mà arsenic lắng đọng Do đó ở bệnh nhân còn sống, khi cắt móng tay bào gồm vạch trắng do đọng arsenic, chứ không phải thể loại móng tay Khi mổ tử thi cần lấy toàn bộ móng tay để xét nghiệm Trong

đó sự lắng đọng ở tóc chỉ một dải nhỏ, như vậy nếu bệnh nhân nhiễm độc mạn tính

mà bị nhiễm arsenic trong thời gian gián đoạn thì sự phát triển với tổ chức cũng gián đoạn Các xét nghiệm trên tóc và móng rất khó thực hiện ngay cả ở trong phòng xét nghiệm, vì vậy người ta hay làm xét nghiệm máu và nước tiểu hoặc các

mô ở bệnh nhân còn sống

6.5 Những chất cần thu giữ để xét nghiệm

Những chất nôn, nước tiểu, phân, chất rửa dạ dày, tóc và móng Khám nghiệm tử thi toàn diện, thu đủ số lượng mẫu, đặc biệt máu, nước tiểu, ruột, chất rửa dạ dày, tóc và móng (bao gồm cả chân móng), da, xương và những chất sừng hóa, nó hấp thụ arsenic từ thể dịch; lấy mẫu cần tránh nhiểm bẩn Dùng lọ thủy tinh trung tính có nắp để lấy mẫu gửi như thủ tục thông thường

Nhiễm độc chì cấp tính có triệu chứng gây bỏng hầu - họng co thắt bụng cấp tính gây đau bụng dữ đội, nôn và ỉa chảy Công nhân trong công nghiệp chì phải chịu đựng những triệu chứng này do “nhiễm độc chì” Trong phân lỏng có màu đen của dạng chì sulphide Sốc và tử vong là giai đoạn cuối cùng của ngộ độc chì cấp tính

Trang 9

Nhiễm độc chì mạn tính ở nhiều thể loại liệt khác nhau, thường ở dạng xương trụ hoặc vùng gan chân Thiếu máu thường xuất hiện dưới dạng những đám màu đỏ loang lổ trên mặt do bị hấp phụ bởi loại sơn dầu Những triệu chứng không thường gặp của nhiễm độc chì mạn tính là bị liệt, đau đầu và có thể có triệu chứng bắt chước của bệnh tâm thần và những thay đổi về tâm thần có thể xảy ra Nhiễm độc loại chì tetraethyl có triệu chứng giống như bị bệnh tâm thần hơn là biểu hiện của nhiễm độc ở những phủ tạng khác Ở trẻ con bị hấp thu và lắng đọng chì chỉ ở phía sau tai, đầu xương dài và điều này được phát hiện qua chụp phim X.quang như: xương đùi, xương quay và xương trụ Dấu hiệu nhiễm độc chì mạn tính còn thể hiện dưới dạng có đường màu hơi xanh đen của dạng chì sulphide xuất hiện trên vùng lợi của hàm răng Đó là những dấu hiệu tiền triệu của bệnh não, nhưng hiếm gặp ở trước tuổi trưởng thành vì nó xảy ra chủ yếu với loại ngộ độc cấp tính (Hess, 1961) Bệnh não cấp do ngộ độc chì thường có biểu hiện hôn mê do tăng áp lực nội sọ mê sảng, có thể có co giật kèm theo và nạn nhân sẽ

tử vong rất nhanh chóng nếu không được điều trị Bệnh không có dấu hiệu đặc trưng của viêm não hoặc chảy máu dưới màng cứng Trí tuệ bị trì trệ và biểu hiện rối loạn tâm thần có thể là hậu quả nhiễm độc chì bán cấp ở trẻ em Những bệnh nhi dưới 5 tuổi, nếu có nồng độ chì trong máu vượt quá 45µg/100ml sẽ phải điều trị với K2Ca edetate hoặc peurtllamine (B - βdimethyl – eysteine)

Gần đây người ta cho rằng nếu có dấu hiệu tâm thần trì trệ và có thay đổi nhân cách ở trẻ nhỏ, thì cần phải kiểm tra hàm lượng chì trong máu để có được chẩn đoán xác định nạn nhân có bị nhiễm độc chì hay không ?

Bình thường con người đều có lượng chì ít hoặc nhiều trong cơ thể do hậu quả tất yếu không thể tránh được khi uống nước bằng ống hút có chì và ăn rau quả rửa chưa sạch mà nó được phun các loại hóa chất có chì (chì arsenate) để diệt sâu

bọ Một ngày, tỷ lệ nước tiểu thải dưới 80µg được cho là trong giới hạn “bình thường” Nếu ở những công nhân thường xuyên tiếp xúc với chì có hàm lượng chì trong nước tiểu thải ra ở mức trên 80 - 100µg/ ngày sẽ phải chuyển công việc khác Trên 100µg và xấp xỉ 10% của bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng

Tất cả bệnh nhân bị nhiễm độc chì với xét nghiệm nước tiểu dương tính bằng xét nhgiệm Coproporphyrin, song điều này không dùng cho chẩn đoán Glucose niệu và amine – acid niệu có thể xuất hiện Khi mổ tử thi có thể gặp một

số biểu hiện đặc biệt của nhiễm độc chì Nơi mà vạch chì xuất hiện ở xương, gây

Trang 10

rối loạn về sự phát triển đã được thấy ở đầu xương Hoại tử, bong nội mô của những tế bào ống thận sẽ cho thấy mức độ nhiễm độc chì nặng hay nhẹ ở thận ở những mức độ khác nhau và bên cạnh đó cũng xuất hiện sự tái tạo của những tế bào biểu mô ống thận

Phải cẩn thận thu gom những mẫu cần thiết xét nghiệm để tìm chì:

1 Bao bì đựng chì trong cốc

2 Phòng xét nghiệm tìm chì tự do trong sự ô nhiễm

- Những chất cần thu gom: máu và nước tiểu

- Khi mổ tử thi: lấy xương, gan, thận và não

7.2 Mercury (Hg)

Chất độc có thể tăng lên ở dạng muối thủy ngân hòa tan và thể hơi của dịch kim loại Hay gặp trong các phòng thí nghiệm thường xuyên sử dụng thủy ngân, đặc biệt khi có nhiều hạt nhỏ xíu của kim loại xuất hiện trên sàn nhà, hoặc trong các chậu rửa Sự hấp thụ thủy ngân là không đáng kể, thí dụ đã có những đứa trẻ làm vỡ nhiệt kế và nuốt một số lượng nhỏ thủy ngân vào dạ dày, hay có trường hợp chủ tâm tiêm thủy ngân vào dưới da nhưng được phát hiện sớm Sự phản ứng quá mẫn với hợp chất thủy ngân xuất hiện ở một số cá thể và những bệnh nhân có chế độ ăn kiêng trong khi tiêm thuốc lợi tiểu chứa thủy ngân Tử vong do nhiễm độc thủy ngân thường là hậu quả của rung tâm thất

Muối thủy ngân:

Chất ăn mòn thăng hoa (mercuric chloride, HgCl2) là những chất rất độc được sử dụng để cố định trong mô học

Một số trườn hợp nhiễm độc trong phòng thí nghiệm qua đường tiêu hóa với những triệu chứng nổi bật: đau bụng, nôn, ỉa chảy ra máu kèm theo shock nặng

Mercurous chloride, hoặc chlorua thủy ngân, trước đây được dùng làm chất tẩy rửa, và đã từng là nguyên nhân của bệnh tiêu chảy, nhưng không hấp thu và không gây độc Tuy nhiên nếu các muối thủy ngân bị oxy hóa thì có thể gây chết người Việc sử dụng thủy ngân chloride dạng hòa tan để bơm rửa âm đạo và rửa những dạng khác là việc làm hết sức thận trọng vì có khả năng gây độc cho người bệnh

- Liều chết từ 1 – 4gr nhưng có thể chỉ 180mg Nó xấp xỉ ½ đến 4 lần số thủy ngân đã hấp thu được thải ra trong nước tiểu và thời gian hàng tháng, nhiều

Trang 11

ngày hoặc nhiều tuần Nhiễm độc thủy ngân gây chết ngay do sốc khi sử dụng liều quá lớn Bệnh nhân thường trong hoàn cảnh bị tắc (vô niệu) ở thận và hoại tử gan Hoại tử trắng thường thấy ở niêm mạc miệng và dạ dày nếu sử dụng qua đường tiêu hóa Điều này cũng có thể xảy ra khi rửa âm đạo nếu sử dụng loại dung dịch

có hàm lượng muối thủy ngân cao Tử vong do suy thận xảy ra sau từ 10 – 12 ngày, ngay cả với những trường hợp đã được chạy thận nhân tạo Về giãi phẩu bệnh gây tổn thương ở ống và cầu thận, có xu hướng lắng đọng calcium trong ống thận

Khi khám nghiệm thấy thận sưng to, vỏ nhợt nhạt và nhiễm trùng vùng tủy thận Kèm theo hoại tử gan, viêm loét thường thấy ở đại tràng Thủy ngân được dự trữ trong gan, thận và xương, nhưng xét nghiệm cần bổ sung mẫu máu và nước tiểu để phân tích

Nhiễm độc thủy ngân mạn tính với biểu hiện chủ yếu là mệt mỏi, chóng mặt, liệt có thể phát triển, nhưng cũng cần cảnh giác với những triệu chứng run rẩy, hay bị bàng hoàng xúc động và biến đổi nhân cách Màu xanh – đen của thủy ngân có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng nhưng hiến gặp Màu ghi – tro hoặc màu tím sạm có thể hay gặp hơn Ngày nay, việc sử dụng thủy ngân trong các nhà máy công nghiệp có thể xảy ra những trường hợp ngộ độc cấp do hít thở không khí có nhiễm thủy ngân Nhiều trường hợp người bệnh đi lại khó khăn Thủy ngân cũng được quy cho là nguyên nhân gây teo cơ với triệu chứng “gây xơ cứng” trong một

số nha sĩ hoặc những trường hợp bị viêm dây thần kinh ngoại biên và xơ cứng cơ – teo cơ rất có thể là dấu hiệu tiềm ẩn của nhiễm độc thủy ngân mạn tính

Người ta đã tìm thấy hai hình thái nhiễm độc thủy ngân Đó là bệnh màu hồng ở trẻ con có sự liên quan với bột màu xám (bột) (calomec), được sử dụng trong đơn thuốc cho trẻ nhỏ Nhiễm độc thủy ngân bán cấp đã được mô tả trong

“dấu vân tay” của những công nhân trong việc điều tra tội phạm có thể tiến hành ngay từ chất bụi bẩn bột thủy ngân; nó cũng là nguyên nhân làm lỏng, lung lay răng

Sự liên quan giữa đau đầu chi và mức độ hấp phụ thủy ngân Điều này biểu hiện màu đỏ, sưng phồng ngón tay, ngón chân, chuột rút và gan bàn chân với những mụn nước và tróc vẩy Viêm da được giới hạn ở tay và chân Sự viêm loét hoại tử có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng Điều trị bằng B.A.L là cần thiết cho

Trang 12

mọi bệnh nhân ngay cả khi họ không có dấu hiệu của nhiễm độc thủy ngân mạn tính

Bình thường thủy ngân có rất ít trong nước tiểu, bệnh nhân đã có triệu chứng ngộ độc mạn tính sẽ bài tiết khoảng 300µg Hg mỗi ngày trong nước tiểu, giá trị cao hơn ở nhiễm độc cấp tính Thấp hơn ở những bệnh nhân làm việc trong ngành được chuyển sang nhà máy khác Những trường hợp nhiễm độc thủy ngân cũng được mô tả ở tay thuận của những làm nghề tiếp xúc thường xuyên với thủy ngân

Những bệnh nhân mới bị ngấm chất hỗn hợp vào răng sẽ có mức thủy ngân cao trong nước tiểu, nó sẽ giảm dần trong một số ngày Sự hấp thụ thủy ngân có thể được áp dụng trong chống nhiễm trùng như thuốc đỏ Mức cao tới 35mg Hg/ 100ml đã được phát hiện thấy ở những bệnh nhân mới dùng để làm thuốc lợi tiểu Thủy ngân ở trong các cơ quan khác nhau sẽ có sự khác nhau về số lượng, trong nước tiểu nó phụ thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị

- Mẫu bệnh phẩm: máu, nước tiểu, chất chứa dạ dày và da

- Vi thể: gan, thận và xương

8 HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT

Nhiều chất hóa học được sử dụng nhằm kiểm soát sâu bọ, loại gặm nhấm

và diệt cỏ Không chỉ sử dụng ở trong gia đình mà trong nông nghiệp Trong môi trường không cho phép có những chất hóa học gây ô nhiễm, vì đó là nguyên nhân tiềm tàng gây nhiễm độc mặc dù đã có những phương pháp điều trị thích hợp (Petty, 1960)

Như đã đề cập, những sản phẩm được sử dụng để bảo quản thực phẩm, thịt động vật và chim, những háo chất bảo vệ thực vật phải đảm bảo quy chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng đó là điều khó thực hiện vì người ta đã phát hiện thấy chúng có mặt trong hầu hết các chất ăn kiêng, đồ thực phẩm dành cho người như bột mì, sữa, trứng, rau, thịt và hoa quả Ngay trên những kết quả xét nghiệm

về độc chất được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng ghi nhận có một hàm lượng nhất định các hóa chất bảo vệ thực vật còn tồn sư trong rau quả và một

số loại thực phẩm Chúng gây ảnh hưởng đến sức khỏe cTrường hợp thứ nhất gồm

49 người dã bị ốm do bị cứng cơ co giật và hôn mê Qua điều tra thấy nhiễm độc

từ bột mì bị nhiễm trừ sâu tới 500p.p.m của endrin, organochlorine trừ sâu mà không gây hại Không bị chết, nhưng một hoặc hai cũng bị chấn thương nhỏ và lên

Ngày đăng: 23/01/2020, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w