1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp (TCLTCCN)

78 3,2K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Lãnh Thổ Công Nghiệp (TCLTCCN)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Bài viết
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP (TCLTCCN)

Trang 1

TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP (TCLTCCN)

MỤC LỤC

Trang 2

I TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP (TCLTCN)

1 Các quan niệm về tổ chức lãnh thổ kinh tế và tổ chức lãnh thổ công nghiệp

1 1 Tổ chức lãnh thổ kinh tế (TCLTKT)

Tổ chức lãnh thổ kinh tế là việc tổ chức các hoạt động kinh tế theo lãnh thổ, baogồm hoạt động sản xuất sản phẩm vật chất (sản xuất công nghiệp, sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản,…) và hoạt động dịch vụ (các hoạt động thương mại,tài chính, du lịch,…)

Các hoạt động kinh tế được diễn ra dưới sự chỉ đạo của chủ thể là con người,các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Đối tượng của các hoạt động kinh tế làsản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm xã hội Như vậy, tổ chức hoạt động kinh tếchính là tổ chức của con người, các quá trình sản xuất kinh doanh gắn với tự nhiên

và xã hội Tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người và

xã hội trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sinh thái

Tổ chức lãnh thổ kinh tế vừa chịu sự tác động của yếu tố chủ quan, vừa chịu sựtác động của yếu tố khách quan Nó mang tính khách quan vì chịu sự chi phối bởicác quy luật vận động của các hoạt động kinh tế, hiện tượng xã hội và các hiệntượng tự nhiên Nó mang tính chủ quan vì do con người quyết định Tính chủ quancủa con người được “khách quan hoá” Thông qua quy luật vận động và phát triểncủa các hoạt động kinh tế theo không gian và thời gian nhất định, con người đưa racác phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế, sau đó tiến hành cân nhắc và chọn raphương án phù hợp nhất

Tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm tận dụng tối đa mọi nguồn lực để phát triển kinh

tế, đạt được hiệu quả cao nhất dựa trên các nguyên tắc: kinh tế, xã hội, chính trị,môi trường,….Tuy nhiên đây là một hoạt động kinh tế nên nguyên tắc kinh tế đượcđánh giá rất quan trọng

Các nhà khoa học thuộc Liên Xô (cũ) quan niệm: Phân bố lực lượng sản xuất là

Trang 3

hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư Các đối tượng này ảnhhưởng lẫn nhau, có liên hệ chặt chẽ) trong một lãnh thổ xác định; nhằm sử dụngmột cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật của lãnh thổ để đạthiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và nâng cao mức sống dân cư của lãnh thổ đó

1.2 Quan niệm TCLTCN

TCLTCN là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theolãnh thổ, có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học

Khi nghiên cứu địa lí kinh tế nước Pháp, F.Perroux đưa ra khái niệm các cựctăng trưởng: “Trong một vùng không thể phát triển kinh tế đồng đều ở tất cả cácđiểm trên lãnh thổ vào cùng một thời gian Xu hướng chung là có một hoặc một vàiđiểm phát triển mạnh nhất, trong khi đó các điểm khác lại chậm phát triển hay bịtrì trệ.”

W.Christaller, nhà khoa học người Đức với lý thuyết điểm trung tâm nhấnmạnh hoạt động của lực đẩy và lực hút để phân định ranh giới các khu vực ảnhhưởng

N.N.Cơlaxopxki đề xuất các vấn đề lý luận và giải pháp thực tiễn về tổ chứclãnh thổ cho các vùng giàu tài nguyên

Có nhiều quan niệm về TCLTCN nhưng theo A.T.Khơrutsôp: “TCLTCN đượchiểu là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuấtlãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vậtchất, lao động cũng nhƣ tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp đã xuấthiện trong lịch sử về việc phân bố các nguồn nguyên, nhiên liệu, năng lượng, nơisản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh tế cao

TCLTCN thực chất là việc định vị, bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất côngnghiệp, các cơ sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư cùng kết

Trang 4

cấu hạ tầng trên phạm vi một lãnh thổ nhất định, nhằm sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó

TCLTCN không phải là hiện tượng bất biến mà có thể thay đổi trong thời giantương đối ngắn Bởi vì trong thời đại ngày nay sự tiến bộ của khoa học, công nghệdiễn ra rất nhanh, nhu cầu của thị trường và cả bản thân thị trường cũng thườngxuyên thay đổi

Trong quá trình hình thành và phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ côngnghiệp đã gắn liền với quá trình đô thị hoá Phát triển công nghiệp và đô thị hoá cómối quan hệ hữu cơ, phát triển và phân bố công nghiệp là cơ sở quan trọng nhấtcho sự ra đời các hoạt động nâng cấp các đô thị cũ Mặt khác, mạng lưới đô thị rađời với trình độ kết cấu hạ tầng tốt sẽ trở lại hấp dẫn, thúc đẩy TCLTCN phát triển

2.1.2 Nguồn lực tự nhiên

- Khoáng sản

Là nguồn nguyên liệu đầu vào không thể thiếu của sản xuất công nghiệp Sốlượng, trữ lượng, chất lượng và sự kết hợp các loại khoáng sản theo lãnh thổ chiphối tới quy mô, cơ cấu và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp.Ví dụ:

Trang 5

Ninh), sắt (Thái Nguyên), thiếc (Cao Bằng)… đã hình thành và phát triển một sốtrung tâm công nghiệp dựa trên tài nguyên như: Khai thác và tuyển than QuảngNinh, khai thác và chế biến quặng sắt ở Thái Nguyên…

- Nguồn nước

Nước có vai trò quan trọng đối với TCLTCN Mức độ thuận lợi hay khó khăn

về nguồn nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp, pháttriển các KCN, KCX,… Trong nhiều trường hợp, nguồn nước quyết định đếnTCLTCN

- Khí hậu

Khí hậu cũng có những ảnh hưởng nhất định đến TCLTCN Trong một sốtrường hợp, chi phối đến việc lựa chọn kỹ thuật và công nghiệp sản xuất: ở vùngven biển dễ bị nhiễm mặn do độ ẩm không khí Mặt khác, khí hậu đa dạng, phứctạp làm xuất hiện nhiều tập đoàn cây trồng, vật nuôi phù hợp Đó là cơ sở để pháttriển, bố trí các cơ sở, cụm công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm

Bên cạnh đó, các hiện tượng thời tiết xấu: Bão, lũ lụt, …có ảnh hưởng đếnTCLTCN

Bên cạnh các tài nguyên thiên nhiên nói trên, còn một số nguồn lực khác tácđộng tới TCLTCN như: đất đai, tài nguyên sinh vật, biển,…

2.1.3 Nhân tố kinh tế xã hội

- Dân cư được xem xét dưới khía cạnh nguồn lao động và thị trường tiêu thụ

với những tập quán sản xuất, tiêu dùng và thị trường, lao động có ảnh hưởng lớnđến TCLTCN Dân cư được xem xét dưới hai góc độ

+ Về nguồn lao động: Số lượng và chất lượng của nguồn lao động có ảnh hưởng

đến TCLTCN Nơi nào có nguồn lao động phong phú thì ở đó thuận lợi để thựchiện TCLTCN Những nơi có đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ cho phéphình thành các khu công nghệ cao với các sản phẩm hàm lượng kỹ thuật cao Cácđịa phương mà nguồn lao động có ngành nghề truyền thống thì có thể phát triển

Trang 6

các cụm công nghiệp làng nghề để thu hút lao động và tạo ra các sản phẩm độc đáomang bản sắc riêng Chất luợng lao động ảnh hưởng đến công tác ứng dụng, sửdụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật – công nghệ, công tác quản lý và tổ chứcsản xuất trong các hình thức TCLTCN Do vậy các hình thức TCLTCN khôngngừng phát triển để sản xuất ra các sản phẩm có hình thức đẹp, chất lượng tốt vàgiá thành thấp đáp ứng nhu cầu nhân dân.

+ Về tiêu thụ: Dân cư vừa là người sản xuất và cũng vừa là người tiêu thụ các

sản phẩm công nghiệp Vì vậy, thị trường tiêu thụ có thể được coi là nguồn lực củaTCLTCN Tập quán sinh sống, tiêu dùng, sản xuất của dân cư có thể thay đổi quy

mô và hướng chuyên môn hoá của các xí nghiệp công nghiệp để dẫn đến sự mởrộng hay thu hẹp không gian TCLTCN

- Các trung tâm kinh tế, mạng lưới đô thị, hệ thống cửa khẩu, cảng biển tạo

điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển một số hình thức TCLTCN nhưKCN, TTCN Đây là nơi hội tụ nhiều thuận lợi, thế mạnh về cơ sở hạ tầng, nguồnlao động, thị trường tiêu thụ rộng, thị hiếu tiêu dùng đa dạng

- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt cho TCLTCN Cơ

sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật là tiền đề thuận lợi hoặc cản trở sự phát triểncông nghiệp nói chung, TCLTCN nói riêng Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp bao gồm giao thông vậntải, thông tin liên lạc, mạng lưới cung cấp điện, nước…Sự tập trung cơ sở hạ tầngtrên một lãnh thổ có thể làm TCLTCN thay đổi tích cực

- Chiến lược và đường lối phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia có thể thúc

đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển công nghiệp nói chung, TCLTCN nói riêng Ởnước ta, đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã tạo động lực thúcđẩy sự phát triển công nghiệp trên phạm vi cả nước và thúc đẩy sự ra đời của cáchình thức TCLTCN mới như: KCN, khu chế xuất, địa bàn công nghiệp trọng điểm,

Trang 7

- Nguồn vốn, ngân sách đầu tư cho công nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến

TCLTCN, đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển Do vậy, những lãnhthổ, quốc gia huy động được nhiều vốn đầu tư sẽ có điều kiện cho TCLTCN pháttriển theo hướng hiện đại hoá

Ngoài ra, sự phát triển của các ngành kinh tế khác như: nông nghiệp, dịch vụcũng tác động đến sự phát triển của TCLTCN

2.2 Các nhân tố bên ngoài

2.2.1 Vốn đầu tư từ các quốc gia, các vùng lãnh thổ

Vốn đầu tư từ các quốc gia, các vùng lãnh thổ phát triển cho các nước, cácvùng chậm phát triển làm xuất hiện một số ngành công nghiệp mới, các khu vựccông nghiệp tập trung, khu chế xuất và mở mang các ngành nghề truyền thống khuvực này Điều đó dẫn đến TCLTCN thay đổi theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực

2.2.2 Thị trường

Ở mức độ cao thị trường tác động mạnh mẽ đến quá trình lựa chọn vị trí xínghiệp, hướng chuyên môn hoá sản xuất và chi phối trực tiếp tới TCLTCN Ởtrong nước, các đô thị lớn ngoài chức năng trung tâm, hạt nhân công nghiệp còn làthị trường quan trọng khuyến khích phát triển sản xuất Sự phát triển công nghiệp ởbất kỳ quốc gia nào đều nhằm thoả mãn nhu cầu trong nước và hội nhập với thịtrường thế giới Vì thế, thị trường này có tác động nhất định đến TCLTCN

2.2.3 Khoa học và công nghệ

Khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại có ý nghĩa quyết định đến nhịp độtăng trưởng kinh tế Trước hết, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, phương hướngsản xuất và sau đó là việc phân bố sản xuất, các hình thức tổ chức lãnh thổ nóichung, TCLTCN nói riêng

2.2.4 Kinh nghiệm tổ chức và quản lý

Kinh nghiệm quản trị giỏi giúp các xí nghiệp làm ăn hiệu quả và đồng thời mở

ra cơ hội hợp tác giữa các xí nghiệp chặt chẽ với nhau, tạo ra sự liên kết bền vững

Trang 8

trong hệ thống sản xuất kinh doanh thống nhất Chính sự liên kết đó là tiền đề đểhình thành các không gian công nghiệp cũng như các hình thức TCLTCN (đặc biệtKCN, khu chế xuất, ).

2.2.5 Quan hệ hợp tác, phân công lao động quốc tế

Các xu thế kinh tế quốc tế, các quan hệ hợp tác liên vùng và quốc tế có tác dụngthúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của TCLTCN Ngày nay trong bối cảnh toàncầu hoá, khu vực hoá khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão thì hợptác quốc tế là xu thế tất yếu, mang lại lợi ích cho các bên tham gia Do vậy, cácquốc gia, các vùng lãnh thổ chậm phát triển thì hợp tác quốc tế sẽ giảm khoảngcách về trình độ phát triển, tránh tụt hậu

2.2.6 Sự hỗ trợ về năng lượng, nguyên vật liệu từ bên ngoài

Thúc đẩy nhanh hơn quá trình TCLTCN Đối với các vùng thiếu năng lượng,nguyên liệu thì tất yếu cần có sự trợ giúp từ bên ngoài Sự hỗ trợ này tác động đếnquá trình phát triển và tiếp theo là việc tổ chức lãnh thổ kinh tế của vùng nói chung

và TCLTCN nói riêng

TCLTCN chịu tác động tổng hợp và đồng thời của các nhân tố bên trong và bênngoài Các nhân tố bên trong giữ vai trò quyết định, các nhân tố bên ngoài có vaitrò quan trọng, thúc đẩy quá trình TCLTCN Tuy nhiên, trong một số trường hợp,các nhân tố bên ngoài chi phối mạnh mẽ, thậm chí có ý nghĩa quyết định đếnTCLTCN

3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

3.1 Điểm công nghiệp

Điểm công nghiệp thường chỉ là một, hai xí nghiệp phân bố đơn lẻ, có kết cấu

hạ tầng riêng Nó được phân bố ở gần nguồn nguyên liệu với chức năng khai tháchay sơ chế nguyên liệu hoặc ở những điểm dân cư nằm trong một vùng nguyên liệunông, lâm, thủy sản nào đó Cũng có thể nó ở ngay trong vùng tiêu thụ để phục vụ

Trang 9

Điểm công nghiệp có một số đặc trưng sau đây

- Lãnh thổ nhỏ với một (hai) xí nghiệp, phân bố lẻ tẻ, phân tán

- Hầu như không có mối liên hệ sản xuất với các xí nghiệp khác

- Thường gắn với một điểm dân cư nào đó

Người ta phân biệt điểm công nghiệp và xí nghiệp công nghiệp Điểm côngnghiệp là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Trong khi đó xínghiệp công nghiệp là hình thức tổ chức sản xuất, là đơn vị cơ sở của phân cônglao động về mặt địa lý Nếu xét về mặt hình thức, chúng có vẻ như nhau, nhưng vềbản chất lại hoàn toàn khác nhau Vấn đề là ở chỗ, một bên là hình thức tổ chứccông nghiệp theo lãnh thổ, còn bên kia là cách thức tổ chức sản xuất trong côngnghiệp

Các xí nghiệp công nghiệp có tính chất độc lập về kinh tế, có công nghệ sảnxuất sản phẩm riêng Do tính chất và đặc điểm kinh tế- kĩ thuật của các ngành côngnghiệp có sự khác nhau mà quy mô của các xí nghiệp cũng khác nhau Có xínghiệp chỉ có vài chục hoặc vài trăm công nhân (như chế biến nông sản ) và được

bố trí gọn trong một xưởng sản xuất, nhưng cũng có xí nghiệp thu hút hàng nghìncông nhân, gồm nhiều công trình, nhà xưởng, diện tích tích tương đối lớn (như xínghiệp khai thác khoáng sản) Hiện nay, do sự tiến bộ của khoa học- công nghệ, sốlượng các xí nghiệp có quy mô lớn tăng lên nhanh chóng ở tất cả các ngành côngnghiệp

Điểm công nghiệp theo kiểu đơn lẻ này cũng có những mặt tích cực nhất định

Nó có tính cơ động, dễ đối phó với các sự cố và thay đổi trang thiết bị, không bịràng buộc và ảnh hưởng của các xí nghiệp khác, đặc biệt thuận lợi cho việc thayđổi mặt hàng trong quá trình sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, những mặt hạn chếlại rất nhiều Đó là việc đầu tư khá tốn kém cho cơ sở hạ tầng, các chất phế thải bịlãng phí do không tận dụng được, các mối liên hệ (sản xuất, kinh tế, kĩ thuật) vớicác xí nghiệp khác hầu như thiếu vắng và vì vậy, hiệu quả kinh tế thường thấp

Trang 10

THEO KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM

THEO ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH

THEO CHỨC NĂNG

THEO DẤU HIỆU HÌNH THÁI

Cụm một trung tâm Cụm nhiều trung tâm

Cụm CN đã hình thành Cụm CN mới hình thành Cụm CN đang hình thành Cụm CN cực lớn Cụm CN lớn Cụm CN tương đối lớn

Cụm CN dựa vào nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng

Cụm dựa vào nguồn LĐ, VTĐL giao thông

Cụm dựa vào nguồn LĐ, TNTN

Cụm CN khai thác

Cụm CN hỗn hợp Cụm CN chế biến

Trang 11

3.3 Khu công nghiệp tập trung

Khu công nghiệp tập trung (KCNTT) với tư cách là một hình thức tổ chức lãnhthổ công nghiệp được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những nămcuối của thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 Nó được hiểu là một khu vực đất đai có ranh giớinhất định do nhà tư bản sở hữu, trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng và sau đó làxây dựng các xí nghiệp để bán

Việc hình thành các KCNTT mang tính tất yếu trong từng giai đoạn lịch sử ởcác quốc gia khác nhau Các nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng cácKCNTT để tăng cường xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thếgiới, đồng thời khai thác triệt để các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động củacác nước

Đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hóa với chiếnlược hướng về xuất khẩu, các KCNTT, khu chế xuất được hình thành nhằm thu hútvốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển Ở các nướcchâu Á và ASEAN, KCNTT ra đời vào nửa sau của thế kỉ 20 Dù tên gọi ở mỗinước có thể khác nhau, nhưng về bản chất đó là các KCNTT

KCNTT là một khu vực có ranh giới rõ rệt với những thế mạnh về vị trí địa lí,

về tự nhiên, kinh tế để thu hút đầu tư, hoạt động với cơ cấu hợp lí giữa các doanhnghiệp công nghiệp và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh tế nhằmđạt hiệu quả cao của từng doanh nghiệp nói riêng và tổng thể cả khu công nghiệpnói riêng

Khu công nghiệp có một số đặc điểm chính sau đây:

- Có ranh giới rõ ràng với quy mô đất đai đủ lớn, với vị trí địa lý thuận lợi (gần sânbay, bến cảng, đường sắt, đường ô tô )

- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp cùng sử dụng chung cơ sở hạtầng sản xuất xã hội, được hưởng quy chế ưu đãi riêng khác với các xí nghiệp phân

Trang 12

bố ngoài KCNTT (như giá thuê đất, thuế quan, chuyển đổi ngoại tệ ), không códân cư sinh sống.

- Có ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lý, đồng thời có sự phân cấp

rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất Về phía các xí nghiệp, khả năng hợp tác sảnxuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng doanh nghiệp Còn việc quản

lý nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước chỉ quy định những ngành (hay loại xínghiệp) được khuyến khích phát triển và những ngành (hoặc loại xí nghiệp) khôngđược phép đặt trong KCNTT vì các lý do nhất định ( như môi trường sinh thái, hay

an ninh quốc phòng)

- Các KCNTT rất khác nhau về tính chất và loại hình Vì thế để tiện lợi cho việcphân loại, có thể căn cứ vào một số tiêu chí cụ thể như vị trí địa lí, tính chất chuyênmôn hóa, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, quy mô, sự độc lập hay phụ thuộc, trình độcông nghệ Nói cách khác, dựa vào mỗi chỉ tiêu sẽ có từng cách phân loại KCNTT

Vể vị trí địa lí, các khu công nghiệp được hình thành ở những khu vực khácnhau Do vậy, có thể phân ra các khu công nghiệp nằm ở trung du hay vùng núi,các khu công nghiệp ven biển, các khu công nghiệp dọc theo quốc lộ, các khu côngnghiệp nằm trong các thành phố lớn

Về tính chất chuyên môn hóa, cơ cấu và đặc điểm, có thể chia ra: các khu côngnghiệp chuyên môn hóa ( trên cơ sở xí nghiệp chuyên môn hóa sử dụng một loạinguyên liệu cơ bản), các khu công nghiệp tổng hợp ( cơ cấu đa dạng với nhiềungành sản xuất), hoặc các khu công nghiệp sản xuất chủ yếu để xuất khẩu (khu chếxuất)

Về quy mô, phụ thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí địa lí và sự hấp dẫn đối vớicác nhà đầu tư ( trong và ngoài nước), có thể chia thành các khu công nghiệp cóquy mô lớn, các khu công nghiệp có quy mô vừa và các khu công nghiệp có quy

mô nhỏ

Trang 13

3.4 Trung tâm công nghiệp

Trung tâm công nghiệp là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp gắn vớicác đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm có thể bao gồm một số hình thức tổ chức lãnhthổ công nghiệp ở cấp thấp hơn

Về lí thuyết, mỗi trung tâm có một (hay một số) ngành được gọi là hạt nhân.Hướng chuyên môn hóa của trung tâm thường do các ngành (xí nghiệp) hạt nhân

đó quyết định Những ngành (xí nghiệp) này được hình thành dựa trên những lợithế so sánh (về vị trí địa lí, về nguồn lực tự nhiên, lao động, thị trường ) Mộttrong những điểm khác biệt rõ rệt so với hai hình thức trên là các xí nghiệp phân

bố trong trung tâm công nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về kĩ thuật sảnxuất, quy trình công nghệ hay về mặt kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnhcác xí nghiệp chuyên môn hóa còn có hàng loạt các xí nghiệp bổ trợ phục vụ choviệc cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, sửa chữa máy móc thiết bị, đảm bảolương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng cho dân cư

Như vậy, trung tâm công nghiệp được đặc trưng bởi một số đặc điểm chủ yếusau đây:

- Trung tâm công nghiệp đồng thời cũng là các đô thị vừa và lớn với hoạt độngcông nghiệp là chính

- Trung tâm công nghiệp bao gồm nhiều xí nghiệp thuộc các ngành khác nhau tạonên cơ cấu ngành Cơ cấu ngành của trung tâm công nghiệp có thể đơn giản (ítngành) hoặc phức tạp (đa ngành), phụ thuộc chủ yếu vào sự thu hút các ngành củatrung tâm Các xí nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác nhau có mối liên hệmật thiết với nhau về kinh tế, kĩ thuật, sản xuất

- Nhóm xí nghiệp hạt nhân được coi là bộ khung của trung tâm công nghiệpthường gồm một số xí nghiệp lớn và cũng có thể là xí nghiệp liên hợp Hướngchuyên môn hóa của trung tâm là do nhóm xí nghiệp này quyết định Gắn với

Trang 14

nhóm xí nghiệp hạt nhân là nhóm xí nghiệp bổ trợ để tạo điều kiện cho trung tâmcông nghiệp có thể hoạt động bình thường.

- Các trung tâm công nghiệp rất đa dạng Vì vậy, việc phân loại các trung tâm côngnghiệp cũng phải dựa trên một số tiêu chí nhất định, tùy thuộc vào mục đích củangười nghiên cứu Các tiêu chí được lựa chọn có thể là vai trò của trung tâm côngnghiệp trong sự phân công lao động theo lãnh thổ, giá trị sản xuất công nghiệp,tính chất chuyên môn hóa và đặc điểm sản xuất

3.5 Dải công nghiệp

Dải công nghiệp là sự đan xen và kéo dài dọc theo các trục lộ giao thông củacác điểm, cụm và khu CN Chúng thường xuất phát từ các đô thị lớn và lan tỏatheo các hướng có sự thuận lợi về giao thông vận tải, nguyên liệu, lao động, thịtrường

3.6 Vùng công nghiệp

Vùng công nghiệp là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở cấp caonhất Điều đó có nghĩa là trong phạm vi vùng công nghiệp có thể tồn tại tất cả cáchình thức tổ chức lãnh thổ còn lại Nó bao gồm một lãnh thổ tương đối rộng lớn, cóđiều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, về kinh tế- xã hội,

có khả năng bố trí tập trung công nghiệp nhằm đạt hiệu quả và tốc độ tăng trưởngcao, thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển của các vùng khác và cả nước

Về mặt lí thuyết người ta phân biệt 2 loại vùng công nghiệp là vùng ngành vàvùng tổng hợp

Vùng (công nghiệp) ngành là tập hợp các xí nghiệp cùng loại trên một lãnh thổ

Cơ chế hình thành loại vùng này được thể hiện ở chỗ mỗi ngành công nghiệp lựachọn cho mình phần lãnh thổ thích hợp nhất về các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xãhội trên cơ sở thỏa mãn được các yêu cầu về kinh tế- kĩ thuật và các yếu tố phân bốsản xuất Trên thực tế, các vùng ngành thường gặp là các vùng công nghiệp khaithác than, dầu khí, luyện kim, hóa chất

Trang 15

Vùng (công nghiệp) tổng hợp là một khái niệm được sử dụng rộng rãi hơn vàgọi chung là vùng công nghiệp Trên một lãnh thổ nhất định có những điều kiệnthuận lợi cho việc hình thành và phân bố các xí nghiệp không chỉ của một ngành,

mà là của nhiều ngành Trong trường hợp này, đó là vùng công nghiệp

Như vậy, khác với vùng ngành, vùng công nghiệp bao trùm lên tất cả các ngànhcông nghiệp Trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, vùng ngành được thể hiệndưới dạng “da báo”, nghĩa là có thể không liền vùng, liền khoảnh Ngược lại, đốivới vùng công nghiệp thì bất kì một điểm (địa phương) nào của quốc gia đều phảinằm trong một vùng công nghiệp nào đó Hơn nữa, vùng công nghiệp không phải

là tổng số của các vùng ngành cộng lại, mà là vùng hoàn toàn mới về chất, bởi vìtập hợp của các ngành theo lãnh thổ sẽ có các điều kiện và đặc điểm phân bố khác

xa so với từng ngành riêng lẻ

Vùng công nghiệp có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp,nhưng ranh giới không mang tính pháp lí

- Có thể bao gồm tất cả các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp từ thấp đến cao(hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức nào đó) và giữa chúng có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất, công nghệ, kinh tế

- Có một số nhân tố tạo vùng tương đồng (sử dụng chung một vài loại tài nguyêntạo nên tính chất tương đối giống nhau của các ngành công nghiệp, cũng có nhữngthuận lợi về vị trí địa lí và các nguồn lực khác)

- Có một (hay một vài) ngành công nghiệp chủ đạo tạo nên hướng chuyên môn hóacủa vùng, trong đó có hạt nhân tạo vùng và thường là trung tâm công nghiệp lớn

Để hỗ trợ cho ngành chuyên môn hóa có các ngành bổ trợ và phục vụ

- Sản xuất mang tính chất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường ở trong vàngoài vùng, kể cả thị trường quốc tế

Trang 16

4 TCLT công nghiệp một số nước trên thế giới

4.1.Đài Loan

Đài Loan được coi là đi tiên phong và thành công trong phát triển KCN ở Châu

Á Thời kỳ đầu thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, Đài Loan chủ trương phát triểncác ngành CN nhẹ sản xuất hàng hóa tiêu dùng, xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động.Hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ được xây dựng tập trung trong khu vực nhất định.Các xí nghiệp này được hưởng ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và đặc biệt là thuận lợi

về cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Hiện nay, ở Đài Loan có 95 KCN (Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng hạ tầng

kỹ thuật là 58 KCN, còn lại là do tư nhân đầu tư) Nhà nước thống nhất quản lý đốivới KCN dựa trên cơ sở phân cấp, chính quyền trung ương chỉ quản lý các KCNquan trọng có vai trò định hướng nền kinh tế, còn lại giao cho địa phương và tưnhân Đài Loan đã và đang hướng sự phát triển các KCN theo mô hình KCN – dịch

vụ dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ cao, đáp ứng nhiệm vụ trung chuyển, chếbiến sản phẩm cao cấp cho xuất khẩu và cho thị trường nội địa

4.2. Trung Quốc

Các đặc khu kinh tế là hạt nhân cho sự phát triển thần kì vùng ven biển miềnĐông TQ xét về tất cả các mặt Những đặc khu này đều xuất phát từ 4 thí nghiệmđầu tiên là Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn và Sán Đầu 4 đặc khu này thành lậpvào năm 1979 và 1980 với sứ mạng là “phòng thí nghiệm” về chính sách đổi mới.Quyền lợi của các đặc khu kinh tế:

− Quyền chủ động ngoại thương: sản phẩm của đặc khu tiêu thụ trên thị trường thếgiới không cần Côta quy định hạn ngạch, XN có thể kí hợp đồng trực tiếp…

− Chủ động tín dụng: kế hoạch tín dụng của các đặc khu được xét duyệt riêng

− Quyền tự do kinh doanh tiêu thụ: xí nghiệp nước ngoài đầu tư có toàn quyền tự chủkinh doanh, có thể dự trù, hoạch định và sử dụng vốn,…

Trang 17

− Về mặt thu thuế tài chính: hầu như tất cả các đặc khu và khu kinh tế mở cửa đềuthi hành chính sách thuế ưu đãi Mức thuế phải chịu thấp hơn nhiều nước trong khuvực, có thể kéo dài thời gian nộp thuế Ví dụ thuế thu nhập của các xí nghiệpkhoảng 15%, trong khi ở Hồng Công 17%, Singapo 33%

− Về sử dụng đất: nhà nước nhượng quyền sử dụng đất với mức thuế thấp, thời gianchuyển nhượng có thể đến 50 năm

− Về mặt nhân tài: các đặc khu được phép thuê, mời các chuyên gia, học giả, nhân tài

kĩ thuật và công nhân lành nghề trong và ngoài nước, thực hiện việc cạnh tranhnhân tài Có đặc khu còn có chính sách chiếu cố người thân thuộc…

Cho đến nay, cả thế giới đều phải công nhận và khâm phục những thànhcông trong công cuộc đổi mới, tái thiết kinh tế của Trung Quốc Thành công đó làkết qủa của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan Thực tế cho thấy việc hìnhthành và phát huy hiệu qủa của hệ thống các khu công nghiệp (KCN) ở TrungQuốc là một trong những nhân tố quyết định Chiến lược phát triển KCN ở TrungQuốc không tách khỏi những lý luận và hướng đi chung, song nó lại mang đậm

"màu sắc Trung Quốc"

Đặc điểm KCN Trung Quốc:

Trung Quốc thời kỳ đầu mở cửa đã chọn các tỉnh duyên hải xây dựng hàngloạt các KCN tập trung, đã biến các vùng đất không có khả năng sản xuất nôngnghiệp thành các trung tâm công nghiệp, đô thị, từ đó mở rộng vào nội địa Việc bốtrí địa điểm như vậy, có thể tận dụng được những điều kiện thuận lợi, không ảnhhưởng đến sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng đến khu dân cư

Về công nghệ, Trung Quốc thống nhất lựa chọn loại hình "kỹ thuật tươngđối tiên tiến" là loại có nhiều kỹ thuật và tri thức, vừa thích ứng với cách mạng kỹthuật mới, vừa phù hợp với ý đồ chiến lược là đưa nền công nghiệp tiến lên theochiều hướng "cao cấp hoá", hướng vào các ngành vi điện tử, vật liệu mới, côngnghệ sinh học…Trong đó, ngành công nghiệp điện tử là chủ đạo, nhằm chuyển nền

Trang 18

công nghiệp hao tốn nhiều lao động sang các ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều kỹthuật và tri thức, đi vào hiện đại hoá cơ cấu ngành nghề Nhà nước Trung Quốc xácđịnh không để các KCN trở thành nơi tập kết các ngành "công nghiệp cổ điển" màmột số nước khi thành lập KCN đã gánh chịu Tuy nhiên, đối với một số doanhnghiệp công nghiệp sử dụng công nghệ truyền thống vẫn cần được duy trì và đổimới dần dần

Về chiến lược sản xuất trong KCN cũng có nét chung với chiến lược pháttriển nền kinh tế đó là "hướng ngoại": sản xuất hàng xuất khẩu Chiến lược đó chođến nay dường như đã thành công khi hàng hoá Trung Quốc chiếm một tỷ trọngkhông nhỏ (trên dưới 10%) trong tổng kim ngạch xuất khẩu trên toàn Thế giới.Song, với thị trường khổng lồ trong nước (gần 1.3 tỷ dân), Trung Quốc cũng khôngcoi nhẹ chiến lược thay thế hàng nhập khẩu Một đặc điểm nổi bật của mô hình KCN ở Trung Quốc là: trong ba giai đoạn vòngđời của một KCN thì giai đoạn chuẩn bị thành lập và thu hút đầu tư rút lại ngắnhơn chỉ còn khoảng từ 5 đến 10 năm

Những bước tiến trong phát triển khu công nghệ cao của Trung Quốc Hiệnnay, trên thế giới, xu thế hình thành khu công nghệ cao (KCNC) trở nên phổ biến,

có khoảng 800 khu được xếp vào loại KCNC với nhiều loại mô hình khác nhau vàđược chia thành 5 loại gồm: Công viên khoa học truyền thống (Traditional SciencePark), Thành phố khoa học (Science City hay Technopolis), Công viên đổi mớicông nghệ (Technology Innovation Park- TIP), Trung tâm công nghệ (TechnologyCenter), Công viên khoa học chuyên biệt (Special Science Park) Việc thành lậpKCNC ở bất cứ nơi nào cũng nhằm phát triển công nghiệp công nghệ cao, thu hútchất xám để tạo ra sản phẩm có hàm lượng khoa học cao hơn hẳn các khu côngnghiệp hay khu chế xuất, nhằm tạo ra những bước đột phá quan trọng để phát triểncông nghệ và công nghiệp trong nước KCNC được chính quyền các địa phương

Trang 19

làm việc và nghiên cứu, ứng dụng và cho ra đời các sản phẩm mới có hàm lượngkhoa học và công nghệ cao Ở Trung Quốc, xu thế hình thành KCNC có nhữngbước phát triển đáng khích lệ

Phát triển KCN ở Trung Quốc là thành qủa của công cuộc cải cách và mởcửa ra thế giới bên ngoài đã đạt các kết quả to lớn trong việc kết hợp khoa học vàcông nghệ với nền kinh tế bằng việc sử dụng đầy đủ các nghiên cứu và giới thiệucác ngành công nghiệp công nghệ cao ra thị trường thế giới

Không chỉ đối với các KCNC, mà phần lớn các KCN, đặc biệt là KCN trongđặc khu kinh tế đều được đặc biệt khuyến khích sử dụng kỹ thuật CNC bao gồm:chuyển giao CNC, ứng dụng CNC, sản xuất sản phẩm hàng hoá bằng CNC Việcnghiên cứu sáng tạo ra CNC được thực hiện ở các viện nghiên cứu, các trường đạihọc

Trong đặc khu kinh tế có "Trung tâm hội chợ triển lãm kỹ thuật, công nghệcao" mang tính quốc tế Tại trung tâm này, luôn luôn tổ chức triển lãm, giới thiệucác loại sản phẩm công nghiệp được sản xuất bằng kỹ thuật CNC của các nước tiêntiến và cả của Trung Quốc

Đến nay, Trung Quốc đã có nhiều KCNC, trong đó có nhiều khu đạt cấp Nhà nước

và cho phép hưởng một số chính sách ưu đãi Phần nhiều các KCNC thuộc cácthành phố lớn ven biển hoặc thủ phủ của các tỉnh trong đất liền có nền kinh tế tưngđối phát triển hoặc nằm ở các khu kinh tế ven biển, khu phát triển công nghệ haykhu kinh tế đặc biệt, khu vực phát triển khoa học và công nghệ cao Các điều kiện

xã hội và môi trường tự nhiên khác nhau là nguyên nhân để các khu vực này đượclựa chọn để phát triển theo các cách khác nhau

4.3. Hàn Quốc

Phát triển khu “nông công nghiệp” quy mô vừa và nhỏ; Khu chế xuất nhằmkhuyến khích xuất khẩu Nét tiêu biểu của khu chế xuất ở chỗ nó là chiếc cầu nốigiữa nền kinh tế trong và ngoài nước, thông qua các khâu cung cấp nguyên liệu và

Trang 20

hợp đồng gia công giữa khu chế xuất với các xí nghiệp trong nước, tạo nên cái gọi

là “chế xuất ngoài khu chế xuất”

4.4. Nhật Bản

Một trong những cách thức mà Nhật Bản tiến hành phát triển công nghiệp, đó làđầu tư có trọng điểm công nghiệp của từng vùng, NB tập trung phát triển côngnghiệp trên đảo Hôn su, và trên đảo này, lại tập trung mạnh ở phần phía đông củađảo Phía đông của đảo là các thành phố thông ra Thái Bình Dương, là cửa ngõ nốivới thế giới, đặc biệt là với Mỹ Các thành phố ở ven biển Thái Bình Dương có lợithế về mặt vị trí, là các hải cảng mà thông qua đó, NB có thể tiến hành thôngthương một cách thuận lợi Chính sự đầu tư có trọng điểm như vậy mà vùng côngnghiệp ven Thái Bình Dương có sự phát triển vượt bậc Đến bay giờ, sự chêch lệch

về mặt công nghiệp giữa các đảo đã dần dần được thu hẹp Tiềm lực kinh tế củaNhật Bản có đủ khả năng để san lấp sự chênh lệch đó

II TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

1. Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam

Công nghiệp là ngành kinh tế cơ bản của Việt Nam, có vai trò to lớn đối vớimọi lĩnh vực hoạt động sản xuất, quốc phòng và đời sống của toàn xã hội

Việc hình thành tổ chức lãnh thổ công nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tốnhư: Nhân tố vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ; nhân tốkinh tế - xã hội

Trong đó: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề vậtchất không thể thiếu được; nhưng quan trọng hàng đầu lại là các nhân tố kinh tế -

xã hội

Trang 21

TN khác

DC - LĐ TTKT & mạng lưới đô thị Điều kiện khác Bên Trong

Bên ngoài

Thị trường

Sự hợp tác quốc tế

Vốn Công nghệ

Tổ chức quản lí

Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến TCLT công nghiệp

1.1 Nguồn lực bên trong

1.1.1 Vị trí địa lí

Vị trí địa lí bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông, chính trị Vị trí

có tác động rất lớn tới việc lựa chọn địa điểm xây dựng và phân bố các ngành côngnghiệp cũng như hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

 Vị trí địa lí có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu công nghiệp và xuhướng chuyển dịch cơ cấu ngành trong điều kiện tăng cường mở rộng các mốiquan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới

 Vị trí địa lí thuận lợi hay không thuận lợi tác động mạnh tới việc tổ chức lãnh thổcông nghiệp, bố trí không gian các khu vực tập trung công nghiệp Vị trí địa lí càngthuận lợi thì mức độ tập trung công nghiệp càng cao, các hình thức tổ chức lãnhthổ công nghiệp càng đa dạng và phức tạp và ngược lại

Việt Nam nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới.

Nằm ở khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp với Trung Quốc, gần các nước công

Trang 22

nghiệp mới (NICs) châu Á, Nhật Bản và nói rộng ra, nước ta nằm trong khu vựcChâu Á – Thái Bình Dương ASEAN và Trung Quốc trong những thập kỉ gần đây

có tốc độ tăng trưởng GDP vào loại đứng đầu thế giới Hồng Kông, Đài Loan, HànQuốc, Xingapo sau thời gian phát triển nhanh đã trở thành những con rồng củachâu Á Trong tương lai, nền kinh tế của các nước ASEAN ngày càng chiếm vị trícao hơn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Với vị trí nằm trong khu vực cónền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản

và những cơ hội lớn để tiếp thu kinh nghiệm quý báu về phát triển kinh tế - xã hộicủa các nước trong khu vực Đồng thời nước ta có thể tranh thủ tối đa nguồn vốn,

kĩ thuật – công nghệ hiện đại từ những nước này và ngược lại, khu vực châu Á –Thái Bình Dương lại là khu vực xuất khẩu quan trọng của chúng ta Đây là điềukiện thuận lợi để giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới, tạo ranhững cơ hội to lớn để cùng nhau hợp tác phát triển và sớm hội nhập vào thịtrường kinh tế thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á – Thái BìnhDương

Việt Nam nằm gần trung tâm Đông Nam Á và còn được xác định ở ranh giới trung gian, nơi tiếp giáp với các lục địa (châu Á và châu Đại Dương) và giữa các

đại đương (Thái Bình Dương và Đại Tây Dương) Việt Nam nằm án ngữ trên cáctuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương vàThái Bình Dương, giữa châu Âu và Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản vàcác nước trong khu vực

Vị trí trên đây đã tạo cho nước ta một lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế

-xã hội, nhất là phát triển công nghiệp

Về mặt giao thông, vị trí trên đây đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để ViệtNam có thể giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới bằng đường bộ,đường thủy, đường sắt, đường hàng không Trong tương lai, khi dự án xây dựng

Trang 23

tuyến đường xuyên Á và việc xây dựng các cảng nước sâu ở bờ biển Việt Namđược thực hiện thì giá trị của vị trí địa lí giao thông chắc chắn sẽ được nâng cao.Chính vị trí địa lí thuận lợi của nước ta đã góp phần vào việc phát triển nền kinh tế

xã hội nói chung và các ngành địa lí công nghiệp nói riêng

Liên hệ:

Ngành khai thác than: Do sự phân bố tài nguyên than, than chủ yếu được khai

thác ở Quảng Ninh, sau đó là Nà Dương (Lạng Sơn), Đại Từ (Thái Nguyên) Vìthế, việc hình thành các trung tâm khai thác lớn thường phụ thuộc vào vị trí và tàinguyên Quy mô khai thác than lớn nhất ở Quảng Ninh Tại đây hình thành batrung tâm khai thác lớn và được xem như ba thể tổng hợp sản xuất hoàn chỉnh làCẩm Phả, Hồng Gai và Uông Bí Gắn với mỗi trung tâm là hàng loạt các công ti và

xí nghiệp

Ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm: Đây là ngành dựa vào

nguồn nguyên liệu chủ yếu từ các sản phẩm của ngành nông nghiệp Vì vậy, vị trícác nhà máy, xí nghiệp thường được lựa chọn và xây dựng nơi có nguồn nguyênliệu dồi dào và phong phú Ngành chè,, vị trí thường được lựa chọn chủ yếu ởtrung du và miền núi Bắc Bộ Ở miền Nam chỉ tập trung trên địa bàn hai tỉnh TâyNguyên là Gia Lai (với các xí nghiệp Bàu Cạn, Đắc Đoa, Biển Hồ ) và Lâm Đồng (Cầu Đất, Bảo Lộc) Công nghiệp chế biến thủy hải sản cũng dựa vào điều kiệnthuận lợi để phát triển Nghề làm nước mắm, ra đời rất sớm và có mặt ở nhiều nơi,

ba địa điểm chế biến nước mắm nổi tiếng trên thị trường nội địa và quốc tế là CátHải ( Hải Phòng), Phan Thiết (Bình Thuận) và Phú Quốc (Kiên Giang)

Như vậy, vị trí có ý nghĩa to lớn và quan trọng trong việc hình thành và xâydựng các địa điểm công nghiệp, cùng với sự phân bố của nguồn tài nguyên thiênnhiên làm nguyên liệu để phát triển công nghiệp nước ta

Trang 24

1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chấtkhông thể thiếu được để phát triển và phân bố công nghiệp Nhìn chung, tài nguyênthiên nhiên là cơ sở quan trọng hàng đầu để phát triển công nghiệp Một số ngànhcông nghiệp như công nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim, công nghiệpsản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy hải sản phụthuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Số lượng, chất lượng, phân bố và sự kếthợp của chúng trên lãnh thổ, trong chừng mực nhất định, ảnh hưởng rõ rệt đến cơcấu và tình hình phát triển của nhiều ngành công nghiệp

a. Khoáng sản

Một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa hàng đầu đối vớiviệc phát triển và phân bố công nghiệp là khoáng sản Các loại khoáng sản vớinhững đặc điểm về số lượng, trữ lượng, hàm lượng và sự kết hợp các loại khoángsản theo lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệptrên lãnh thổ đó

Sự phân bố khoáng sản trên thế giới là không đều, có những nước giàu tạinguyên khoáng sản như Hoa Kì, Canada, Australia, LB Nga, Trung Quốc, Ấn Độ,Brazil, Nam Phi, Indonexia… Có những nước chỉ nổi tiếng với một vài loạikhoáng sản như Chi Lê (đồng), Cô oét, Arap Xeut, Irac (Khu vực Trung cận Đông

là nơi tập trung 64,9% trữ lượng dầu mỏ của thế giới) ở đây phát triển ngành côngnghiệp khai thác dầu quy mô lớn… Nhiều nước Tây Âu, Nhật Bản nghèo khoángsản

Việt Nam, nhìn chung khoáng sản nước ta phong phú về chủng loại, đa dạng

về loại hình, nhưng không đều về trữ lượng, khó khăn khi chế biến và sử dụng Sốlượng các mỏ nhiều, hầu như đủ loại, song lại manh mún, phân bố rải rác, khó khaithác và mỏ lớn không nhiều Tuy vậy, tài nguyên khoáng sản có giá trị đối với

Trang 25

công nghiệp (trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao) gồm có than, dầu khí, một số loạikhoáng sản kim loại và phi kim loại.

Về khoáng sản nhiên liệu – năng lượng, trước hết phải kể tới than, dầu mỏ

và khí đốt

Than có nhiều loại, phân bố ở nhiều nơi Song có giá trị kinh tế nhất là than

tập trung ở Quảng Ninh với trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn, phần lớn là than antraxitđược khai thác từ thời Pháp thuộc Các loại than nâu ( Đồng bằng sông Hồng), thanbùn (Đồng bằng sông Cửu Long) trữ lượng tuy lớn, nhưng ít có giá trị và chưađược thăm dò kĩ

Dầu mỏ và khí đốt được khai thác mạnh từ nửa sau thập kỉ 80 cho đến nay

và tập trung chủ yếu ở vùng thềm lục địa phía Nam Trữ lượng khai thác khoảng 5– 6 tỉ tấn dầu quy đổi Việc thăm dò và phát hiện các mỏ có trữ lượng lớn ở thềmlục địa phía Nam đã ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu và phân bố của toàn ngành côngnghiệp nước ta

Khoáng sản kim loại có giá trị công nghiệp gồm mỏ sắt Thạch Khê (Thạch

Khê, Hà Tĩnh) trữ lượng hơn 550 triệu tấn (đến độ sâu 750m), hàm lượng sắt trungbình 60% mỏ thiếc ở Quỳ Hợp (Nghệ An), bôxit ở Tây Nguyên Các mỏ khác,nhìn chung quy mô nhỏ, khó khai thác

Khoáng sản phi kim loại với ý nghĩa công nghiệp bao gồm Apatit ở Cam

Đường (Lào Cai), trữ lượng lớn, chất lượng cao và dễ khai thác; đá vôi chủ yếu ởcác tỉnh phía Bắc; đất hiếm ở Bắc Bộ; cát thủy tinh và đá xây dựng có mặt ở hầuhết các tỉnh miền núi phía Bắc Tập trung hơn cả là các mỏ cát Vân Hải (Vân Đồn,Quảng Ninh), Thủy Triều (Cam Ranh, Khánh Hòa) Xen lẫn cát là các sa khoángtitan, zircon phân bố ở Bình Định, Hà Tĩnh,

Đây là cơ sở quan trọng để phát triển công nghiệp tuy nhiên khoáng sản làtài nguyên không thể tái tạo được Vì vậy cần phải có chiến lược đúng đắn cho việc

Trang 26

khai thác và sử dụng hợp lí, hiệu quả tài nguyên khoáng sản để đảm bảo sự pháttriển bền vững.

b Tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước

Tài nguyên nước

Ở nước ta tương đối phong phú, nhưng phân bố không đều theo thời gian vàkhông gian Sông ngòi nước ta khá dày đặc và chảy trên những vùng có địa hìnhkhác nhau, tạo nên nhiều thác ghềnh Tiềm năng thủy điện của nước ta rất lớn Vềmặt lí thuyết, công suất tiềm năng đạt hơn 30 triệu KW, tập trung chủ yếu ở hệthống sông Hồng (37%) và hệ thống sông Đồng Nai (19%)

Tài nguyên nước sử dụng cho công nghiệp cũng khá dồi dào Với khoảng 900

tỉ m3 nước trên mặt, nhìn chung, nước phục vụ đủ cho sản xuất công nghiệp và chosinh hoạt ở các đô thị Tuy nhiên nguồn nước phân bố không đều theo vùng vàtheo mùa gây nên tình trạng mất cân đối giữa nguồn cung cấp nước và sự phát triểncông nghiệp giữa các vùng Hiện nay, nước ta có ít nhất hai vùng ở trong tình trạngthiếu nước phục vụ công nghiệp Đó là vùng công nghiệp Phả Lại – Quảng Ninh vàvùng công nghiệp Biên Hòa – TP Hồ Chí Minh

Ngoài ra, bất cứ một hoạt động sản xuất nào cũng cần đến nước, nhất là côngnghiệp vì đây là ngành sản xuất vật chất, nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngànhcông nghiệp Mức độ thuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp hoặc thoát nước làđiều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp Đặc biệt đối với cácngành như công nghiệp luyện kim, thủy điện, công nghiệp dệt, công nghiệp giấy,hóa chất và chế biến thực phẩm… Đây cũng là nguyên nhân của hiên tượng: hầuhết các thành phố công nghiệp đều có sông chảy qua hoặc phân bố gần biển ĐồngBằng Sông Cửu Long với nguồn nước dồi dào, mạng lưới sông ngòi dày đặc, diệntích nuôi trồng thủy sản lớn đã phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến thựcphẩm

Trang 27

Tài nguyên khí hậu

Khí hậu có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố công nghiệp, đặc điểm của khíhậu và thời tiết tác động không nhỏ đến hoạt động của các ngành công nghiệp.Trong một số trường hợp nó chi phối cả việc lựa chọn kĩ thuật và công nghệ sảnxuất

Hơn nữa, sự đa dạng, phức tạp của khí hậu theo không gian và theo mùa tạođiều kiện cho việc đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, là cơ sở để phát triển các ngànhcông nghiệp chế biến nông sản Các hiện tượng thời tiết xấu như bão, lũ… có ảnhhưởng nhất định đến việc định vị các xí nghiệp hợp lý theo lãnh thổ cũng như đếnthời gian hoạt động của chúng

c. Các nhân tố tự nhiên khác có tác động tới sự phát triển và phân bố công nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật

Đất đai

Nếu như đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, thì về mặt tự nhiênđất ít có giá trị đối với công nghiệp Đây chỉ là nơi để xây dựng các xí nghiệp côngnghiệp, các khu vực tập trung công nghiệp Quỹ đất dành cho công nghiệp và cácđiều kiện về địa chất công trình ít nhiều có ảnh hưởng tới quy mô hoạt động và vốnkiến thiết cơ bản

Tài nguyên từ các sản phẩm hữu cơ được khai thác bởi các hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp cũng có tác động tới sản xuất công nghiệp (Tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển)

+ Rừng và hoạt động lâm nghiệp ở nước ta là cơ sở cung cấp vật liệu xâydựng (gỗ, tre, nứa), nguyên liệu cho các ngành tiểu thủ công nghiệp (song, mây,giang, vầu, trúc) và các loại dược liệu, kể cả các loại thực phẩm đặc biệt (măng,nấm, mọc nhĩ ) Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang bị giảm sút nghiêm trọng đã ảnhhưởng tới một số ngành công nghiệp, nhất là ngành khai thác, chế biến gỗ và lâmsản

Trang 28

+ Sự phong phú về nguồn thủy, hải sản với nhiều loại động, thực vật dướinước có giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển việc khai thác và chế biến các loại sảnphẩm nước ngọt, nước mặn, nước lợ ven biển và trên thềm lục địa Gần đây đã vàđang hình thành các vùng nuôi thủy sản ven biển, ven sông, hồ và nuôi đặc sảnxuất khẩu.

+ Nguồn nguyên liệu được sản xuất ra từ nông nghiệp có ý nghĩa quantrọng đối với các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Ngoài lúagạo, nguồn nguyên liệu này rất đa dạng, phong phú và được tổ chức thành vùngchuyên canh cao su, cà phê, chè, dâu tằm; vùng trồng cây thực phẩm, cây ăn quả;các vùng chăn nuôi gia súc và gia cầm nhằm tạo ra nguồn nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến cũng như nhiều sản phẩm hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuấtkhẩu

Đánh giá

Bên cạnh những thế mạnh, sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và khả năngkết hợp của chúng trên một đơn vị lãnh thổ cũng có những hạn chế nhất định

+ Trước hết, đó là sự mất cân đối giữa tài nguyên thiên nhiên và thực trạng

phát triển kinh tế của các vùng lãnh thổ, mà tiêu biểu là ở trung du và miền núi Bắc

Bộ Nơi đây tập trung 51,4% tiềm năng thủy điện thuộc 10 lưu vực sông lớn của cảnước; 100% trữ lượng đồng – kền, apatit, đất hiếm; 50% trữ lượng đá vôi; 90%than đá Hơn nữa, vùng này đã và đang là vùng khai thác lớn trong toàn quốc Thếnhưng cũng chính tại đây, rất ít nguyên liệu được chế biến hoàn chỉnh Vùng BắcTrung Bộ tập trung tới 61,3% trữ lượng quặng sắt; 50% thiếc; 90% crôm; 70% đáxây dựng, Nhưng tiềm nằm năng lượng quá thấp (5,4% trữ lượng thủy điện) vàcông nghiệp chế biến vẫ còn nhỏ bé

+ Tài nguyên khoáng sản đa dạng, nhưng lại thiếu vắng những khoáng sản

cần thiết cho công nghiệp kĩ thuật cao như than mỡ cho luyện cốc và cho hóa

Trang 29

được nguồn nguyên liệu ổn định và vững chắc cho các ngành công nghiệp chếbiến.

+ Tài nguyên thiên nhiên ở nhiều nơi, nhiều lúc chưa kịp được khai thác hợp lí.

Nhiều loại tài nguyên phục vụ cho công nghiệp đã bị khai thác quá mức Môitrường đã và đang bị xuống cấp

1.1.3 Nguồn lực kinh tế - xã hội

a Dân cư – lao động

Công nghiệp là ngành sản xuất đòi hỏi phải có đội ngũ lao động đủ trình độ chuyênmôn và tay nghề Dân cư và nguồn lao động có vai trò lớn trong việc tổ chức lãnhthổ công nghiệp ở hai góc độ sản xuất và tiêu dùng

Dân cư là lực lượng sản xuất chủ yếu trong công nghiệp, xét cả về số lượng lẫn chất lượng.

Nhìn chung, nguồn lao động của nước ta tương đối dồi dào, nhưng còn cónhững hạn chế về trình độ Vì vậy, để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, vấn

đề đào tạo lao động nói chung và đào tạo công nhân lành nghề nói riêng trở nêncấp bách

Tuy nhiên, so với các ngành kinh tế khác, độ ngũ lao động trong côngnghiệp tuy ít về số lượng, nhưng lại tương đối tốt về chất lượng

So với dân số thế giới, dân số Việt Nam chiếm 1,26% Theo số liệu Tổng điều tradân số lần thứ nhất (1/4/1979), dân số nước ta có 52,46 triệu người Đến hết năm

2009 dân số nước ta có 86,0 triệu người

Với số dân này, nước ta đứng thứ 13 trong tổng số hơn 220 quốc gia trên thế

giới sau Trung Quốc (1.330 triệu người), Ấn Độ (1.170 triệu người) Nếu tính trong khu vực Đông Nam Á, dân số nước ta đứng thứ 3 sau Inđônêxia và Philippin.

Đối với từng đơn vị hành chính (tỉnh, thành phố), dân số có sự khác nhau đáng kể

TP.Hồ Chí Minh là đơn vị có dân số lớn nhất: trên 7 triệu người, tiếp theo là thủ đô

Hà Nội khoảng 6,4 triệu người Đơn vị có dân số trên 3 triệu người là Thanh Hóa

Trang 30

(3,4 triệu người) Đơn vị có dân số từ 2 đến 3 triệu người gồm Nghệ An (2,9 triệu người); Đồng Nai (2,4 triệu người); An Giang (2,1 triệu người) Ngoài ra, có 34 tỉnh, thành phố với số dân từ 1 đến 2 triệu người như: TP Hải Phòng, TP Cần Thơ; các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ

Năm 2009 nước ta chỉ có 47,7 vạn lao động trong công nghiệp khai khoáng và hơn6,85 triệu lao động trong ngành công nghiệp chế biến (so với 24,8 triệu lao độngtrong các ngành nông, lâm nghiệp), nhưng hàm lượng chất xám khá cao Đối vớicông nghiệp – xây dựng, lao động có kĩ thuật chiếm 41,4% tổng số lao động kĩthuật của cả nước, trong khi nông nghiệp chỉ có 18,1%

Một khó khăn khác là sự phân bố chưa hợp lí của nguồn lao động nói chung

và lao động có kĩ thuật nói riêng Lao động có kĩ thuật chủ yếu tập trung ở cácthành phố và các trung tâm công nghiệp lớn

Sự phân bố của dân cư thường là không đều ở các vùng của mỗi quốc gia,chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp ởcác vùng, thậm chí các tỉnh trong các vùng đó ở mỗi quốc gia Nơi tập trung đôngdân cư thường là nơi có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ thì nơi đó có khả năng đểphân bố và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như: côngnghiệp nhẹ, công nghiệp hàng tiêu dùng Nơi có đội ngũ lao động với chất lượngcao thì cho phép phát triển các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao như điện tử, chếtạo… Những nơi có nguồn lao động có nhiều ngành truyền thống thì có thể pháttriển các nghề thu hút lao động, và tạo sản phẩm độc đáo mang bản sắc dân tộc nhưcác làng nghề gốm, sứ, đan lát, dệt thổ cẩm…

Thực tế, ở Việt Nam, có sự phân hóa thành bảy vùng với trình độ phát triển khác

nhau: Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số caonhất cả nước, trình độ lao động các vùng này cũng cao hơn Vì thế, đây là hai trong

ba vùng kinh tế trọng điểm của nước ta với mức độ tập trung công nghiệp cao, đa

Trang 31

ta lại là các vùng có rất ít các hình thức tổ chức công nghiệp, vì đây là các vùng códân số thấp, trình độ lao động kém, địa hình lại khó khăn Như vậy, có thể thấymức độ tập trung dân cư với trình độ lao động trong dân cư đóng vai trò không nhỏtrong việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp.

Khu công nghiệp các ngành dệt may-nơi có nguồn lao động phổ thông dồi dào

Hình ảnh công nhân có tay nghề làm việc trong nhà máy của hãng Samsung

Trang 32

Xét về mặt tiêu dùng:

Dân cư vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu thụ các sản phẩm côngnghiệp Vì thế, thị trường tiêu thụ gắn với số dân có thể coi là một nguồn lực quantrọng Tập quán tiêu dùng của dân cư có thể thay đổi và kéo theo sự thay đổi trongquy mô, hướng chuyên môn hóa của các ngành cũng như các xí nghiệp côngnghiệp, từ đó dẫn tới sự mở rộng hay thu hẹp không gian công nghiệp Dân sốđông, mật độ dân số cao cùng với chất lượng cuộc sống tốt sẽ làm cho nhu cầutăng cao, từ đó kéo theo nguồn cung phải mạnh để có thể đáp ứng nhu cầu tại chỗ,

và đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu trong các khu chế xuất

Đánh giá

Dân cư - lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, nhất là pháttriển công nghiệp Với số dân đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào Đồng thờiđây còn là thị trường tiêu thụ rộng lớn Tuy nhiên, trong điều kiện của nước ta hiệnnay, dân số đông là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế, giải quyết việclàm, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho nhân dân

b Mạng lưới đô thị

Nhân tố này có vai trò thu hút đối với hoạt động sản xuất công nghiệp nóichung, và sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng.Mạng lưới đô thị phát triển đồng nghĩa với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, tỷ lệdân thành thị tăng cao, trình độ lao động cũng như chất lượng cuộc sống cũng caohơn các vùng khác sẽ có sức hút mạnh mẽ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Từ đó, hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, nhất là khucông nghiệp và điểm công nghiệp

Hơn nữa, mạng lưới đô thị phát triển sẽ gồm nhiều các đô thị lớn và cũng

phát triển mạnh, đây là điều kiện thuận lợi để hình thành một dạng tổ chức lãnh thổcông nghiệp đó là trung tâm công nghiệp Việc hình thành các trung tâm công

Trang 33

vùng công nghiệp với quy mô lớn hơn, từ đó đem lại lợi nhuận nhiều hơn và thúcđấy mạnh hơn nữa sự phát triển của vùng nói riêng và quốc gia đó nói chung.

Chẳng hạn, ở nước ta phải kể đến trung tâm công nghiệp Thành phố Hồ Chí

Minh và Hà Nội, đây là hai đô thị lớn nhất cả nước với mức độ tập trung dân cưđông, đô thị hóa diễn ra mạnh, tỷ lệ dân thành thị cao… mức độ tập trung côngnghiệp cũng mạnh mẽ với nhiều khu công nghiệp, điểm công nghiệp lớn nhỏ khácnhau, cộng thêm khu chế xuất và khu công nghệ cao với đa dạng sản phẩm phục vụnhu cầu của trung tâm, trong vùng cũng như nguồn hàng xuất khẩu Đây cũng làcác trung tâm có đa dạng các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cùng với một

số tỉnh thành lân cận chúng Như Hà Nội cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh, HàNam, Nam Định Hải Dương, Hưng Yên… hình thành vùng công nghiệp trọng

điểm phía Bắc nước ta

Trên thế giới, ở một số nước phát triển còn hình thành các siêu đô thị với sựphát triển rất mạnh của công nghiệp và dịch vụ Đây luôn là các trung tâm côngnghiệp – kinh tế rất lớn tại các nước, với mức độ tập công nghiệp cao, hình thành

và phát triển mạnh mẽ các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp với rất nhiềungành nghề đòi hỏi trình độ lao động, hàm lượng công nghệ và trình độ khoa học

cao như chế tạo tàu, sản xuất máy bay, công nghiệp rôbot…

c Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành công nghiệp

Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành công nghiệp cũng có giá trị nhất định đối vớiviệc tổ chức lãnh thổ công nghiệp Trong thực tế, khi xét về mặt lãnh thổ, nơi nàotập trung nhiều các hình thức tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ nhất là khu côngnghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao sẽ thu hút rất mạnh nguồn vốn,các dự án đầu tư, khoa học công nghệ, từ đó đẩy mạnh hơn nữa việc hình thành cáchình thức tổ chức công nghiệp mới cao hơn cùng với sự phát triển của các hìnhthức tổ chức công nghiệp hiện có Cùng với mạng lưới đô thị thì cơ sở vật chất kỹthuật của ngành sẽ góp phần làm cho các hình thức tổ chức công nghiệp lan tỏa

Trang 34

mạnh hơn sang các vùng lân cận, tạo tiền đề cho việc hình thành hình thức tổ chứclãnh thổ cao nhất là vùng công nghiệp Hơn nữa, những quốc gia có các trung tâmđào tạo đội ngũ lao động, và nghiên cứu khoa học các thiết bị hiện đại sẽ là cácnước đi đầu trong ngành công nghiệp hiện đại, và quá trình tổ chức lãnh thổ côngnghiệp chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi điều này Các khu công nghiệp, trung tâmhay vùng công nghiệp sẽ gần và có thể là chứa các trung tâm đào tạo và nghiên cứuđó.

d Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành công nghiệp bao gồm hệ thống giao thôngvận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước… có vai trò ngày càng quan trọngtrong phân bố công nghiệp sự tập trung cơ sở hạ tầng trên một lãnh thổ đã làmthay đổi vai trò của nhiều nhân tố phân bố công nghiệp, đem lại nhiều yếu tố mớitrong bức tranh tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Nơi nào có mạng lưới giao thông tiện lợi, hệ thống bưu chính viễn thông đảmbảo, nguồn thông tin liên lạc hiện đại sẽ là nơi dễ dàng hình thành các hình thức tổchức lãnh thổ công nghiệp và khi đã được hình thành sẽ nhanh chóng phát triểnmạnh hơn Bất kể hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nào cũng cần có sự thuậnlợi, giao lưu dễ dàng giữa các nhà máy, các xí nghiệp, nguồn nguyên liệu đến nơisản xuất, và cả sản phẩm đến nơi tiêu thụ Khi giao thông càng hiện đại thì sựnhanh chóng càng được tăng cao, và tất nhiên kéo theo sẽ là sự hình thành nhanhchóng hơn các hình thức tổ chức công nghiệp Hơn thế nữa, quan tâm lớn nhất củacác nhà đầu tư là lợi nhuận, chỉ nơi nào đi lại dễ dàng thì nơi đó dễ đầu tư và pháttriển với lợi nhuận cao, khả năng hình thành các điểm công nghiệp, khu côngnghiệp sẽ nhanh hơn

Thành phố Hồ Chí Minh nước ta, sở dĩ trở thành trung tâm công nghiệp lớn

nhất cũng nhờ đây là thành phố có hệ thống giao thông phát triển nhất nước, có

Trang 35

cảng biển, sân bay quốc tế, hệ thống giao thông đường bộ nội địa cũng được đầu tưhiện đại, đảm bảo cho sự giao lưu thuận lợi cả trong và ngoài nước.

đ Khoa học công nghệ

Đây là yếu tố quan trọng trong công nghiệp Nó không chỉ góp phần thúc

đẩy công nghiệp phát triển mà nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và pháttriển của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Với sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học công nghệ hiện đại như hiện nay thì dù hình thức nhỏ nhất là điểmcông nghiệp hay xí nghiệp công nghiệp cũng đòi hỏi cần có sự áp dụng các tiến bộcũng như máy móc công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm nhanh chóng hớn màvẫn đạt yêu cầu về chất lượng Không thể xây dựng một khu công nghiệp hay mộttrung tâm công nghiệp ở một nơi nghèo nàn, lạc hậu, sự áp dụng khoa học côngnghệ thiếu thốn; điều đó sẽ không đảm bảo cho hoạt động của khu công nghiệp

e Thị trường trong nước

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường là một trong những nhân tố quantrọng nhất ảnh hưởng tới quy mô, và cơ cấu các ngành công nghiệp Công nghiệp

có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn Điều đó được thể hiện dưới hai khía cạnh: Côngnghiệp, một mặt, cung cấp tư liệu sản xuất, trang thiết bị cho tất cả các ngành kinh

tế và mặt khác, đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng cho mọi tầng lớp nhân dân

Như đã nói, trong yếu tố dân cư lao động, sản phẩm làm ra trước hết là để phục vụnhu cầu tại chỗ, trong vùng, trong nước Các thành phố đông dân cư, nhu cầu vàchất lượng cuộc sống cao sẽ dễ hình thành các khu công nghiệp sản xuất các mặthàng tiêu dùng như may mặc, giày da… vừa để phục vụ nhu cầu tại chỗ lại cónguồn hàng xuất khẩu

Công nghiệp hiện phải đối mặt với thị trường đang ở trong quá trình côngnghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội, trong đó nông nghiệp và nông thôn

là khu vực tiêu thụ rộng lớn nhất Sự phát triển về truyền thông đại chúng đã làmcho mọi thông tin cập nhật mong chóng được phổ cập nhật tới toàn xã hội, trong đó

Trang 36

có thông tin về tiêu dùng Nó kích thích nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng đadạng và phức tập hơn đối với công nghiệp Số dân của nước ta khá đông 86,0 triệu(năm 2009) với nhu cầu tiêu dùng ngày một tăng, chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽđến công nghiệp

f Các chiến lược và đường lối của nước ta

Với đường lối Đổi mới, nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã đượcban hành nhằm khuyến khích việc phát triển công nghiệp

Đối với việc phát triển công nghiệp có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển côngnghiệp nói chung và tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng Vì thế, chúng phảidựa trên những điều kiện cụ thể, và phù hợp với nhu cầu thị trường Ở Việt Namđường lối công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã phát huy tính tích cực, thúc đẩy sựphát triển công nghiệp cả nước và góp phần tổ chức lãnh thổ công nghiệp.Chínhsách mở cửa cũng như Luật Đầu tư nước ngoài ra đời và liên tục được hoàn thiệnđang phát huy tác dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có côngnghiệp

Kể từ khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa thì nguồn vốn FDI (vốn đầu

tư nước ngoài) đã được đổ vào nước ta mạnh mẽ hơn, kéo theo đó là sự hình thànhcác hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, đặc biệt là khu công nghiệp, với nhiềusản phẩm đa dạng, đã khai thác tốt hơn nguồn tài nguyên nước ta, giải quyết vấn đềviệc làm cho nhiều lao động trong nước và đóng góp không nhỏ vào nguồn thungân sách nhà nước

g Nguồn vốn, ngân sách quốc gia đầu tư cho công nghiệp

Nguồn vốn, ngân sách quốc gia đầu tư cho công nghiệp cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp, đặc biệt là những nước đangphát triển như Việt Nam Nguồn vốn trong nước không chỉ tính ở việc đầu tư trựctiếp cho các ngành công nghiệp, mà nó còn thể hiện ở việc đầu tư để xây dựng hệ

Trang 37

thống điện nước… đầu tư cho việc đào tạo cán bộ quản lí, công nhân lành nghềcho công nghiệp.

Ngoài ra, sự phát triển của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp và dịch

vụ cũng tác động đến sự phân bố và tổ chức lãnh thổ công nghiệp Ở nước ta sựphát triển của hai vùng nông nghiệp trọng điểm là Đồng bằng sông Hồng và Đồngbằng sông Cửu Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt các ngành côngnghiệp đi kèm: Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp cơ khísửa chữa, công nghiệp hóa chất phân bón… Đây là hạt nhân cho sự hình thành cáckhu công nghiệp tập trung, khu chế xuất để hình thành vùng công nghiệp trongđiểm phía Nam nước ta

1.2 Nguồn lực bên ngoài

Nguồn lực bên ngoài được hiểu là các yếu tố ảnh hưởng với tư cách là nguồnlực bên ngoài lãnh thổ công nghiệp

1.2.1 Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp tác liên vùng, quốc tế

Có tác dụng thúc đẩy quá trình tổ chức lãnh thổ nhanh hay chậm các lĩnhvực hợp tác chủ yếu là: sự hỗ trợ vốn đầu tư, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ,chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lí

Hỗ trợ vốn đầu tư từ các nước có nền kinh tế phát triển

Quá trình đầu tư làm xuất hiện ở các nước đang phát triển một vài ngành côngnghiệp mới , các khu công nghiệp tập trung , khu chế xuất và mở mang ngành nghềtruyền thống Điều đó dẫn tới sự thay đổi tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo cả 2chiều hướng tích cực và tiêu cực Nếu tận dụng tốt nguồn vốn này, sẽ góp phầnkhông nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển công nghiệp nóiriieng, đặc biệt là ở các khu công nghiệp hay trung tâm công nghiệp Ngược lại,nếu sử dụng không hợp lí sẽ dễ dàng dẫn đến những khoản nợ làm chậm sự pháttriển của công nghiệp và việc hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ côngnghiệp là rất ít khả năng

Trang 38

Chẳng hạn ở nước ta, một quốc gia đang phát triển thì nguồn vốn bên ngoài là

rất quan trọng Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh

tế Việt Nam Đó vừa là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, vừa là một cách để chuyểngiao công nghệ, kinh nghiệm quản lí cũng là một giải pháp tạo việc làm và thunhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế…

Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện dưới 04 hình thức chính:(1) Đầu tư trực tiếp (FDI); (2) Đầu tư gián tiếp (FII); (3) Tín dụng quốc tế (chủ yếuthu hút qua hình thức thu hút vốn ODA); (4) Nguồn kiều hối gửi về Việt Nam hàngnăm Trong đó, quan trọng nhất là nguồn vốn FDI – vốn đầu tư nước ngoài Theo

số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết tháng11/2012, cả nước có 14.198 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là hơn208,1 tỷ USD

Chuyển giao kĩ thuật và công nghệ

Chuyển giao kĩ thuật và công nghệ cũng là một trong những hướng quan trọng

Kĩ thuật và công nghệ hiện đại có ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh

tế Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, phương hướng , phân bố cũng như cáchình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, và bộ mặt kinh tế của đất nước nói chungcũng như các vùng nói riêng Việc chuyển giao công nghệ sẽ giúp ích rất lớn chocác nước đang phát triển và kém phát triển đẩy mạnh công nghiệp, từ đó dễ dànghình thành các hình thức tổ chức công nghiệp; đặc biệt là khu công nghiệp, vì hầuhết các quốc gia này đã – đang và sẽ thực hiện quá trình công nghiệp hóa, mà trongcông nghiệp thì khu công nghiệp chính là sản phẩm của công nghiệp hóa, nó là sựphát triển đi lên của các điểm công nghiệp có quy mô nhỏ ở các nước này

Nước ta, một số công nghệ mới cũng được tăng cường trong các ngành bưu chính– viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, lắp ráp ôtô, xe máy, hóa chất, chế biến

Trang 39

Nhiều dự án đã có vai trò nhất định trong sự nghiệp công nghiệp hóa đấtnước (xi măng Ching Fong, Nghi Sơn, Hoàng Mai, xe ô tô Mê Công )

Chuyển giao kinh nghiệm, tổ chức quản lí

Chuyển giao kinh nghiệm, tổ chức quản lí đến các nước đang phát triển đã

và đang trở thành yêu cầu cấp thiết Kinh nghiệm quản trị giỏi không chỉ giúp chotừng doanh nghiệp làm ăn phát đạt, mà còn mở ra cho họ cơ hội hợp tác chặt chẽvới nhau, tạo nên sự liên kết bền vững trong một hệ thống sản xuất kinh doanhthống nhất

Chính sự liên kết đó là tiền đề để hình thành các không gian công nghiệpcũng như các hình thức Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

1.2.2 Thị trường bên ngoài

Bên cạnh thị trường trong nước, việc mở rộng quan hệ kinh tế với khu vựcĐông Nam Á, với các nước láng giềng và với thị trường thế giới vừa tạo ra cơ hộimới, vừa đặt ngành công nghiệp của nước ta vào thế cạnh tranh Vị thế của sảnphẩm trước thị trường mở rộng đòi hỏi phải có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, giáthành hạ Đây là một trong những thách thức lớn mà ngành công nghiệp phải vượtqua

Thị trường bên ngoài có ảnh hưởng đến việc lựa chọn xí nghiệp, hướngchuyên môn hóa, ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ Ở trong nước, các đô thị lớnngoài chức năng trung tâm – hạt nhân công nghiệp còn là thị trường quan trọng,khuyến khích sự phát triển của sản xuất Thị trường quốc tế cũng rất quan trọng, vìsản phẩm công nghiệp trong nước luôn nhằm thỏa mãn thị trường trong nước vàhội nhập với thị trường quốc tế Đây là nhân tố rất quan trọng vì nó quyết định đầu

ra cho sản phẩm công nghiệp Chẳng hạn, một nhà đầu tư khi muốn hoạch định xâydựng khu công nghiệp ở vùng nào đó trong hoặc ngoài nước, thì luôn cần tìm hiểunhu cầu của thị trường ở quốc gia đó và cả nước ngoài để đảm bảo đầu ra cho cácsản phẩm Thị trường ngoài nước còn quan trọng hơn nữa đối với khu chế xuất,

Ngày đăng: 10/05/2014, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, 2004. Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế - xã hội đại cương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm HàNội
[2] Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, 2002. Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa líkinh tế - xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
[3] Lê Thông (Chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, 2004. Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm HàNội
[4] Bộ môn kinh tế và quản lí môi trường. Giáo trình Địa lí kinh tế Việt Nam, Trường Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lí kinh tếViệt Nam
[5] Phan Huy Xu, Mai Phú Thanh, 2006. Tìm hiểu Địa lí kinh tế Việt Nam để giảng dạy trong nhà trường, Nxb Giáo dục.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Địa lí kinh tế ViệtNam để giảng dạy trong nhà trường
Nhà XB: Nxb Giáo dục.Website

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến TCLT công nghiệp - Tổ chức lãnh thổ công nghiệp (TCLTCCN)
Sơ đồ c ác nhân tố ảnh hưởng đến TCLT công nghiệp (Trang 21)
Hình ảnh công nhân có tay nghề làm việc trong nhà máy của hãng Samsung - Tổ chức lãnh thổ công nghiệp (TCLTCCN)
nh ảnh công nhân có tay nghề làm việc trong nhà máy của hãng Samsung (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w