Quan điểm lãnh thổ Trong lãnh thổ có sự phân hóa về dân cư, kinh tế,..nghiên cứu sự khác biệtnày nhằm phát hiện các mối liên hệ hữu cơ bên trong một tổng thể nhất định.Nghiên cứu tổ chức
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốcdân; trình độ và tính chất phát triển ngành công nghiệp là thước đo đánh giátrình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và được coi là nền tảng, là cơ sởcủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong thực tiễn, công nghiệp hóa và hiện đại hóa không phải là một quátrình đơn chiếc Đi kèm theo nó, thậm chí có khi đi trước, là quá trình đô thịhóa Hai quá trình này bổ sung cho nhau, phụ thuộc lẫn nhau góp phần quantrọng tạo nên bộ mặt của nền kinh tế Để thực hiện thành công sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tổ chức lãnh thổ nói chung và tổ chức lãnhthổ công nghiệp nói riêng có ý nghĩa cực kì to lớn
Thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung Ương, nằm ở trung tâmđồng bằng sông Cửu Long, trên trục giao thương giữa vùng tứ giác Long Xuyên,bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười và thành phố Hồ Chí Minh Thành phố CầnThơ là cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm kinh tế, văn hóa,giáo dục – đào tạo, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vậnquốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước Câu ca dao: “CầnThơ gạo trắng nước trong, ai đi tới đó lòng không muốn về” phần nào nói về mộtvùng đất trù phú, sầm uất, được gọi là Tây Đô từ cuối thế kỷ XIX, vấn đề còn lại
là Cần Thơ cần tạo dựng những „trung tâm“ đủ mạnh làm đầu mối cho các tỉnhtrong vùng
Những năm gần đây, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở Thành phốCần Thơ phát triển khá nhanh Đây là tín hiệu cho thấy cơ cấu kinh tế của thànhphố Cần Thơ, đã và đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp Các khu– cụm công nghiệp mọc lên nếu được phân bố hợp lí sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
Trang 2cao trong việc khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên và lợi thế của thành phố CầnThơ, điều đó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cho mỗi địa phương, mà còn gópphần giải quyết việc làm cho người dân Thế nhưng, một số điểm công nghiệp vàkhu – cụm công nghiệp ở đây hiện nay vẫn trong tình trạng phân bố còn nhiều bấtcập và hình thành một cách tự phát, gây mất cân đối về trình độ phát triển giữacác địa phương và đặc biệt là vấn đề môi trường bị đe dọa nghiêm trọng Như vậy,làm thế nào để tổ chức lãnh thổ công nghiệp hợp lí, tiến tới một nền công nghiệpthành phố ngày càng bền vững là vấn đề cần đặt lên hàng đầu.
2 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1 Các quan điểm nghiên cứu
2.1.1 Quan điểm lãnh thổ
Trong lãnh thổ có sự phân hóa về dân cư, kinh tế, nghiên cứu sự khác biệtnày nhằm phát hiện các mối liên hệ hữu cơ bên trong một tổng thể nhất định.Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp Thành phố Cần Thơ việc sử dụng quanđiểm này là hết sức cần thiết Bởi vì trong một vùng, một khu vực thì không phảinơi nào cũng có điều kiện giống nhau để thành lập, bố trí khu công nghiệp Vìvậy, dựa vào quan điểm lãnh thổ xác định tìm ra các đặc trưng quan trọng nhất để
tổ chức lãnh thổ công nghiệp phù hợp với cấu trúc lãnh thổ trong một thể tổnghợp, sao cho mang lại hiệu quả tối ưu nhất
2.1.2 Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí nói chung và Địa lí kinh tế xã hội nói riêng, việcvận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các vấn đề của tổchức lãnh thổ công nghiệp Thành phố Cần Thơ là vô cùng phong phú và đa dạng,chúng có quá trình hình thành và phát triển trong mối liên hệ nhiều chiều giữa bảnthân các hiện tượng đó với nhau và giữa chúng với các hiện tượng khác Để việc
tổ chức lãnh thổ công nghiệp khách quan và khoa học, nhất thiết phải sử dụngquan điểm tổng hợp
Trang 32.1.3 Quan điểm lịch sử
Mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế xã hội đều tồn tại trong một thời gian nhấtđịnh Nói cách khác các quá trình này có quá trình phát sinh, phát triển và suyvong, Khi xem xét đánh giá cần thiết phải đứng trên quan điểm lịch sử nghiêncứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp Thành phố Cần Thơ đòi hỏi phải nhìn nhận từquá khứ để lí giải ở một mức độ nhất định ở hiện tại và dự báo tương lai Nếu táchrời quá khứ khỏi hiện tại thì khó có thể giải thích thỏa đáng sự phát triển ở thờiđiểm hiện tại và nếu không chú ý đến tương lai thì tổ chức lãnh thổ công nghiệpmất khả năng dự báo
2.1.4 Quan điểm kinh tế
Trong nghiên cứu Địa lí kinh tế xã hội, việc vận dụng quan điểm kinh tếthường được coi trọng là lẽ tự nhiên, trong việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp phảitính đến lợi ích kinh tế tuy nhiên phải tránh xa xu hướng có thể gặp là phải đạtmục tiêu kinh tế bằng mọi giá Điều đó thật nguy hiểm vì nếu thiếu nhìn xa trôngrộng thì những món lợi trước mắt về kinh tế sẽ không thể bù đắp được những tổnthất to lớn lâu dài gây ra từ chính những món lợi đó
2.1.5 Quan điểm về phát triển bền vững
Cả hai thuật ngữ “Bền vững” và “Phát triển bền vững” đã trở thành thuậtngữ quen thuộc đối với tất cả những ai quan tâm đến môi trường và phát triển.Hiện nay, hai quan niệm được sử dụng rộng rãi nhất về phát triển bền vững là:
“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hôm nay
mà không gây hại đến khả năng thỏa mãn những nhu cầu của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ” của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (Báo casoBrundtland-1987)
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải bền vững cả về bamặt: kinh tế, xã hội, môi trường Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Thành phố CầnThơ phải chú ý đến cả ba mặt trên thì mới bền vững
Trang 42.2 Các phương pháp nghiên cứu chính
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống , Việc nghiêncứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp Thành phố Cần Thơ không thể mang tính chínhxác nếu thiếu tính kế thừa, thiếu sự tích lũy những thành tựu của quá khứ
Các nguồn tài liệu về tình hình phát triển công nghiệp, các khu công nghiệp, điểmcông nghiệp của thành phố Cần Thơ Các nguồn tài liệu này dưới nhiều dạngkhác nhau, đã được xuất bản hay chưa xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ vànhững vấn đề nghiên cứu riêng trên thực địa, tài liệu trên mạng Internet
Tuy nhiên đối với bản thân khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ công nghiệpThành phố Cần Thơ, đã quan tâm đến các dạng thông tin sau đây
Trình bày bằng văn bản: sách, báo, tạp chí, địa chí
Số liệu thống kê
Các bản đồ, ảnh
Các dạng khác: thực địa, điều tra, phỏng vấn, Internet
2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Sau khi đã thu thập được tài liệu về công nghiệp Cần Thơ, bước tiếp theo là
xử lí theo mục tiêu của việc nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu tổ chức lãnhthổ công nghiệp Thành phố Cần Thơ sau khi thu thập tài liệu đã tiến hành phântích tổng hợp “ làm sạch” tài liệu, đặc biệt là các số liệu, tiếp theo tài liệu đượcphân tích tổng hợp đối chiếu làm cơ sở cho việc đưa ra nhận định hoặc kết luậncủa mình
2.2.3 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ đây là phương pháp rất đặc trưng của Địa lí kinh tế xãhội, bởi vì mọi nghiên cứu về Địa lí điều mở đầu bằng bản đồ và kết thúc cũngbằng bản đồ
Trang 53 Mục đích - Nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Cần Thơ: đánh giá hiệntrạng phát triển và tổ chức lãnh thổ ngành công nghiệp, nguyên nhân và đề ra giảipháp để tổ chức lãnh thố công nghiệp thành phố Cần Thơ thật hợp lí, góp phầnthúc đẩy ngành công nghiệp thành phố Cần Thơ phát triển nhanh và bền vững;nhằm xây dựng thành phố Cần Thơ xứng tầm là trung tâm công nghiệp lớn nhấtđồng bằng sông Cửu Long
3.2 Nhiệm vụ
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn tổ chức lãnh thổ công nghiệp, đi sâu nghiêncứu tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố Cần Thơ bao gồm những hình thức tổchức lãnh thổ công nghiệp nào, hiện trạng phân bố và đề ra giải pháp hợp lí
4 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu sâu vào tổ chức lãnh thổ công nghiệp thành phố
Cần Thơ trên các mặt:
Lịch sử phát triển đô thị Cần Thơ;
Những nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến tổ chức lãnh thổ côngnghiệp;
Những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn;
Nguyên nhân, hiện trạng và giải pháp tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở thànhphố Cần Thơ
Về không gian: nghiên cứu tập trung trên phạm vi toàn bộ thành phố Cần
Thơ
5 Những đóng góp của đề tài
Về mặt lí luận: đề tài đã làm rõ những cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ
chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn: nghiên cứu và phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ công
Trang 6nghiệp ở thành phố Cần Thơ, những giải pháp để hướng tới một tổ chức khônggian lãnh thổ công nghiệp ở thành phố Cần Thơ độc đáo và bền vững.
Trang 7Để thực hiện các mục tiêu nói trên, sự phát triển kinh tế của đất nước phảiđược bền vững và ổn định Tính công bằng xã hội là một định hướng lớn của các
kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội, đảm bảo những cơ hội ngang bằng nhau chotừng vùng, từng địa phương và ngay cả cho từng người dân nhằm đạt được nhữngmục tiêu nhất định Nếu tính công bằng xã hội không được đảm bảo thì tính ổnđịnh sẽ bị ảnh hưởng, nhất là tính ổn định xã hội và ngược lại Cả hai sẽ ảnhhưởng đến tính bền vững Ở nước ta, hệ thống cấu trúc lãnh thổ cần phải giúp đạtđược sự cân đối giữa các yếu tố cấu thành (xem sơ đồ)
SƠ ĐỒ MÔ HÌNH HỆ THỐNG CẤU TRÚC LÃNH THỔ
-Môi trường được bảo vệ
TÍNH CÔNG BẰNGGiảm chênh lệch
Trang 8Trong suốt thời gian dài, hình như chưa có sự thống nhất về khái niệm, nộidung, phương pháp tổ chức lãnh thổ và cũng từ sự không thống nhất đó dẫn đếnnhững nhận định đôi khi đồng nhất quy hoạch tổng thể một vùng, một tỉnh là tổchức lãnh thổ hoặc cho rằng “chờ đến những năm 90 hướng tổ chức lãnh thổ mớithực sự hình thành”, hoặc “cho đến 1994 thì phương hướng tổ chức lãnh thổ mớiđược thử nghiệm ở Việt Nam”…
Trên thế giới, đặc biệt ở Châu Âu tổ chức lãnh thổ ra đời từ thế kỷ XIX và
đã trở thành một khoa học quản lý lãnh thổ
Ở Liên Xô (cũ) người ta định nghĩa : Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp, bố trí
( phân bố) và phân phối các đối tượng có mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư, nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường.
Đúng như tác giả Jean Pean Paul De Gaudemar (1920) đã viết: “Tổ chức
lãnh thổ được hiểu là nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả”.
1.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.2.1 Khái niệm
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất theo lãnh thổ trên cơ sở sử dụng hợp lí nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên vật chất lao động nhằm đạt hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
1.2.2 Đặc điểm của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Trong tổ chức lãnh thổ công nghiệp, các ngành (phân ngành) và lãnh thổ cómối quan hệ mật thiết với nhau Một mặt, nếu thiếu hiểu biết về những đặc trưngkinh tế- kĩ thuật và đặc điểm phân bố của từng ngành thì không thể xác định đúngđắn dù chỉ một kết hợp không gian của các xí nghiệp ở bất kì hình thức nào Mặtkhác, đến lượt mình, mỗi ngành (phân ngành) lại được xem xét dưới hai góc độ:
Trang 9xuyên qua lăng kính của tất cả các ngành công nghiệp (và cả nền kinh tế nóichung) và sự kết hợp của các ngành khác nhau trên cùng một lãnh thổ.
1.2.3 Nhiệm vụ của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Để đạt được mục tiêu đề ra, tổ chức lãnh thổ công nghiệp phải thực hiệnđược các nhiệm vụ chính sau đây:
- Sử dụng hợp lí, có hiệu quả nhất các nguồn lực của lãnh thổ (điều kiện tựnhiên và tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực về kinh tế, xã hội…)
- Giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan, đặc biệt là các vấn đề việc làmcho một bộ phận lao động của lãnh thổ
- Giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các địa phương trongvùng và giữa các vùng trong phạm vi cả nước thông qua quá trình lựa chọn vàphân bố công nghiệp
- Bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, môi trường nhằm đảm bảo cho sự phát triểnbển vững, kết hợp phát triển công nghiệp với an ninh, quốc phòng
1.2.4 Các nguồn lực ảnh hưởng tới việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.2.4.1 Vị trí địa lí
Vị trí địa lí bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông, chính trị Vị tríđịa lí tác động rất lớn tới việc lựa chọn địa điểm xây dựng xí nghiệp cũng nhưphân bố các ngành công nghiệp và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Vị trí địa lí thuận lợi hay không thuận lợi tác động mạnh tới việc tổ chứclãnh thổ công nghiệp, bố trí không gian các khu vực tập trung công nghiệp Vị tríđịa lí càng thuận lợi thì mức độ tập trung công nghiệp càng cao, các hình thức tổchức lãnh thổ công nghiệp càng đa dạng và phức tạp Ngược lại, những khu vực
có vị trí địa lí kém thuận lợi sẽ gây trở ngại cho việc xây dựng và phát triển côngnghiệp cũng như việc kêu gọi vốn đầu tư ở trong và ngoài nước
Trang 101.2.4.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chấtkhông thể thiếu được để phát triển và phân bố công nghiệp Nó ảnh hưởng rõ rệtđến việc hình thành và xác định cơ cấu ngành công nghiệp Một số ngành côngnghiệp như khai khoáng, luyện kim, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biếnnông- lâm- thuỷ hải sản phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên Số lượng,chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ có ảnh hưởng rõ rệt đếntình hình phát triển và phân bố của nhiều ngành công nghiệp
mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp
- Khí hậu và nguồn nước:
+ Nguồn nước có ý nghĩa rất lớn đối với các ngành công nghiệp Mức độthuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp hoặc thoát nước là điều kiện quantrọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp Nhiều ngành công nghiệp thườngđược phân bố gần nguồn nước như công nghiệp luyện kim (đen và màu), côngnghiệp dệt, công nghiệp giấy, hoá chất và chế biến thực phẩm… Những vùng cómạng lưới sông ngòi dày đặc, lại chảy trên những địa hình khác nhau tạo nênnhiều tiềm năng cho công nghiệp thuỷ điện
+ Khí hậu cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố công nghiệp Đặcđiểm của khí hậu và thời tiết tác động không nhỏ đến hoạt động của các ngànhcông nghiệp khai khoáng Trong một số trường hợp, nó chi phối cả việc lựa chọn
kỹ thuật và công nghệ sản xuất Chẳng hạn, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm chomáy móc dễ bị hư hỏng Điều đó đòi hỏi lại phải nhiệt đới hoá trang thiết bị sản
Trang 11xuất Ngoài ra, khí hậu đa dạng và phức tạp làm xuất hiện những tập đoàn câytrồng vật nuôi đặc thù Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biếnlương thực- thực phẩm.
- Các nhân tố tự nhiên khác có tác động tới sự phát triển và phân bố công
nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật biển
+ Về mặt tự nhiên, đất ít có giá trị đối với công nghiệp Suy cho cùng,
đây chỉ là nơi để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, các khu vực tập trung côngnghiệp Quỹ đất dành cho công nghiệp và các điều kiện về địa chất công trình ítnhiều có ảnh hưởng tới qui mô hoạt động và vốn kiến thiết cơ bản
+ Tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển cũng có tác động tới sản xuấtcông nghiệp Rừng và hoạt động lâm nghiệp là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng(gỗ, tre, nứa…), nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy, chế biến gỗ và cácngành tiểu thủ công nghiệp (tre, song, mây, giang, trúc…), dược liệu cho côngnghiệp dược phẩm Sự phong phú của nguồn thuỷ, hải sản với nhiều loại động,thực vật dưới nước có giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp chếbiến thuỷ hải sản
1.4.2.2 Các nhân tố kinh tế- xã hội
Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển
và phân bố công nghiệp, được xem xét dưới hai góc độ sản xuất và tiêu thụ
Nơi nào có nguồn lao động dồi dào thì ở đó có khả năng để phân bố và pháttriển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt- may, giày- da, côngnghiệp thực phẩm Những nơi có đội ngũ lao động kỹ thuật cao và đông đảo côngnhân lành nghề thường gắn với các ngành công nghiệp hiện đại, đòi hỏi hàmlượng công nghệ và chất xám cao trong sản phẩm như kỹ thuật điện, điện tử- tinhọc, cơ khí chính xác
Trang 12Quy mô, cơ cấu và thu nhập của dân cư có ảnh hưởng lớn đến quy mô và cơcấu của nhu cầu tiêu dùng Đó cũng là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp.Khi tập quán và nhu cầu tiêu dùng thay đổi sẽ làm biến đổi về quy mô và hướngchuyên môn hoá của các ngành và xí nghiệp công nghiệp Từ đó dẫn đến sự mởrộng hay thu hẹp của không gian công nghiệp cũng như cơ cấu ngành của nó
Tiến bộ khoa học- công nghệ.
Tiến bộ khoa học- công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng mới về sảnxuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỉ trọng của chúng trongtổng thể toàn ngành công nghiệp, làm cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên vàphân bố các ngành công nghiệp trở nên hợp lý, có hiệu quả và kéo theo nhữngthay đổi về quy luật phân bố sản xuất, mà còn làm nảy sinh những nhu cầu mới,đòi hỏi xuất hiện một số ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến và mở ra triểnvọng phát triển của công nghiệp trong tương lai
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghiệp
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ công nghiệp có ý nghĩanhất định đối với sự phân bố công nghiệp Nó có thể là tiền đề thuận lợi hoặc cảntrở sự phát triển công nghiệp Số lượng và chất lượng của cơ sở hạ tầng (giaothông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước…) góp phần đảm bảo cácmối liên hệ sản xuất, kinh tế, kỹ thuật giữa vùng nguyên liệu với nơi sản xuất,giữa các nơi sản xuất với nhau và giữa nơi sản xuất với địa bàn tiêu thụ sản phẩm.Hiện nay trong quá trình công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển, việctập trung đầu tư cơ sở hạ tầng trên một lãnh thổ đã tạo tiền đề cho sự hình thànhcác khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất
Đường lối phát triển công nghiệp.
Đường lối phát triển công nghiệp ở mỗi quốc gia qua các thời kỳ lịch sử cóảnh hưởng to lớn và lâu dài tới sự phát triển và phân bố công nghiệp, tới địnhhướng đầu tư và xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp
Trang 13Nguồn lực bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài được hiểu là các yếu tố ảnh hưởng với tư cách nhưnguồn lực bên ngoài lãnh thổ công nghiệp (các vùng khác trong nước và ngoàinước) Trong một số trường hợp cụ thể nguồn lực bên ngoài chi phối mạnh mẽ vàthậm chí có ý nghĩa quyết định đối với tổ chức lãnh thổ công nghiệp của vùnglãnh thổ đó
Thị trường
Thị trường (bao gồm thị trường trong nước và quốc tế) đóng vai trò như
chiếc đòn bẩy đối với sự phát triển, phân bố và cả sự thay đổi cơ cấu ngành côngnghiệp Nó có tác động mạnh mẽ tới việc lựa chọn vị trí xí nghiệp, hướng chuyênmôn hoá sản xuất và chi phối trực tiếp tới tổ chức lãnh thổ công nghịêp
1.2.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam
1.2.5.1 Điểm công nghiệp
Điểm công nhiệp là một lãnh thổ không lớn, có ranh giới ước lệ và cũng đượcxác định bởi một văn bản pháp lí, có qui mô nhỏ hơn cụm công nghiệp được bố trítập trung một số ít cơ sở công nghiệp Điểm công nghiệp thường gắn với địa bàn xãhoặc liên xã, hạt nhân để phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn
Ở đây cần phân biệt điểm công nghiệp và xí nghiệp công nghiệp Điểm côngnghiệp là một trong những hình thức trung tâm lãnh thổ công nghiệp Trong khi
đó, xí nghiệp công nghiệp là hình thức tổ chức sản xuất, là đơn vị cơ sở của sựphân công lao động về mặt địa
1.2.5.2 Cụm công nghiệp
Một lãnh thổ có ranh giới ước lệ nhưng được xác định bởi văn bản pháp lívới qui mô nhỏ hơn khu công nghiệp và được bố trí một số cơ sở sản xuất thuần túy
Cụm công nghiệp thường gắn với lãnh thổ cấp huyện, hoặc liên huyện, hạt nhânthực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn ở cấp huyện Việt Nam
Trang 14Đặc điểm cụm công nghiệp:
Lãnh thổ nhỏ với một vài xí nghiệp công nghiệp
Có các mối liên hệ giữa các xí nghiệp công nghiệp đơn giãn, thiếu chặt chẽ.Không có ranh giới rõ ràng và ban quản lí chung
1.2.5.3 Khu công nghiệp tập trung
Khu công nghiệp tập trung là khu vực tập trung các doanh nghiệp chuyên sảnxuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranhgiới xác định, không có dân cư sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủthành lập (nghị định CP số 34/CP ngày 24/4/99)
Khu công nghệ cao là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuậtcao và các đơn vị phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm nghiên cứu, triểnkhai khoa học - công nghệ đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới xác định
do thủ tướng hoặc chính phủ thành lập
Khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung Ởnước ta đang xây dựng 2 khu công nghệ cao là Linh Trung ( Hồ Chí Minh) và HòaLạc ( Hà Tây- Hà Nội)
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyênsản xuất công nghiệp có ranh giới địa lí xác định không có dân cư sinh sống dochính phủ hay thủ tướng chính phủ thành lập, trong khu công nghiệp có thể códoanh nghiệp chế xuất
Khái niệm khu chế xuất
Ở các nước đang phát triển với chiến lược phát triển kinh tế hướng ra xuấtkhẩu trên cơ sở thu hút vốn đầu tư công nghệ, trình độ quản lí từ nước ngoài đãhình thành và phát triển các khu công nghiệp với một số tên gọi khác nhau (khucông nghiệp tập trung, khu chế xuất)
Thực chất khu chế xuất là sự hợp tác sản xuất công nghiệp tạo ra hàng côngnghiệp xuất khẩu giữa Việt Nam và các nhà đầu tư công nghiệp nước ngoài Việt
Trang 15Nam góp vốn dưới dạng cho thuê đất, thuê mặt bằng, cung cấp nước ngọt, điện,xây dựng đường xá, bến cảng, bãi đỗ, nhà kho, giá cả thỏa thuận giữa hai bên đốitác Qui mô cho thuê đất có thể là 20 ha đến hàng trăm ha Địa điểm cho thuêphải có cảng sông hoặc cảng biển, có sân bay, địa điểm không xa quá khu dân cư
để thuận tiện cho việc thuê mướn lao động
Các chủ đầu tư nước ngoài phải bỏ ngoại tệ để xây dựng nhà máy, muathiết bị công nghệ, vật tư kĩ thuật, cung cấp nhân viên quản trị kĩ thuật, quản líxuất nhập khẩu, quản lí nhân sự, phải có trách nhiệm thanh toán tiền thuê đất, tiềnđiện nước, thuế sử dụng giao thông
Nhà đầu tư được quyền tuyển mộ nhân công theo hợp đồng với mức lươngtối thiểu được thỏa thuận với chính phủ Việt Nam, phải đáp ứng một số quyền lợicủa người lao động, người lao động không được mang hàng hóa vào kể cả đồ ănthức uống
Hàng hóa làm ra không để “ Made in Việt Nam” mà có thể có mác củaNhật hay nước khác do người đầu tư quy định Hàng hóa làm ra toàn bộ để xuấtkhẩu Một đôi giày làm ra tại khu chế xuất Việt Nam nhưng đôi khi đóng mác làItalia rồi xuất sang Nhật Việt Nam có khi nhập giầy của ý nhưng chính lại đượclàm ở khu chế xuất Việt Nam
Các nhà đầu tư sẽ lợi dụng nguồn nhân công rẻ, điện rẻ của Việt Nam, ViệtNam lợi dụng những kỹ thuật máy móc và khỏi cần phải lo tới thị trường tiêu thụ,khỏi lo tới lỗ và lãi Trong kinh doanh buôn bán ở đây tương đối giống người cónhà mặt tiền cho thuê sản xuất buôn bán, ngồi hưởng lợi mà không lo nghĩ gì cả
Tuy nhiên các khu chế xuất phải đóng một khoảng thuế nhất định cho nhànước vì phải đóng cho các dịch vụ bảo vệ an ninh cho khu chế xuất và cho ngườilao động
Các loại hình khu công nghiệp, khu chế xuất
Trang 16Trong quá trình hình thành phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất tùy điềukiện hình thành và các nguồn lực tự nhiên, kinh tế xã hội của các vùng mà khucông nghiệp, khu chế xuất phát triển theo các loại hình sau:
Loại hình thứ I:
Khu công nghiệp, khu chế xuất hình thành trên khuôn viên đã có một số doanhnghiệp công nghiệp đang hoạt động, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển khu côngnghiệp khu chế xuất theo đúng quy định mới, đồng thời tạo ra hạ tầng kỹ thuậtphục vụ tốt việc phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, có điều kiện xử lí chấtthải với những thiết bị hiện đại
Loại hình thứ II
Các khu công nghiệp, khu chế xuất hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu di dời cácnhà máy xí nghiệp trong nội thành các đô thị lớn do nhu cầu chỉnh trang đô thị vàbảo vệ môi trường, mô sinh phải di chuyển vào khu công nghiệp, khu chế xuất.việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất phục vụ nhu cầu di dời là yêucầu khách quan của quá trình đô thị hóa, kết quả tất yếu của quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa
Loại hình thứ III
Các khu công nghiệp, khu chế xuất có qui mô nhỏ gắn với nguồn nguyên liệu nônglâm thủy sản được hình thành ở một số địa điểm thích hợp nơi có nguồn nguyênliệu nông sản hàng hóa nhưng công nghiệp chế biến chưa phát triển
Loại hình thứ IV
Các khu công nghiệp, khu chế xuất hiện đại xây dựng hoàn toàn, Các khu côngnghiệp, khu chế xuất này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh và chấtlượng hạ tầng cao có hệ thống xử lí chất thải tiên tiến, đồng bộ
Trong 4 loại hình này thì loại hình thứ IV cần quan tâm cân nhắc thận trọnghơn, đây là những khu công nghiệp, khu chế xuất hoàn toàn cả trong phát triển hạtầng, việc phát triển hạ tầng lẫn thu hút đầu tư công nghiệp, nếu loại này thất bại sẽ
Trang 17gây thiệt hại lớn, việc xây dựng hạ tầng phải đồng bộ đạt tiêu chuẩn, việc thu hútđầu tư nên tập trung vào những khu vực có công nghệ nguồn sản phẩm phải cótính cạnh tranh cao
1.2.5.4 Trung tâm công nghiệp
Là khu vực tập trung công nghiệp gắn với các đô thị vừa và lớn, mỗi trungtâm công nghiệp có thể gồm một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp với những
xí nghịệp hạt nhân có sức thu hút các lãnh thổ lân cận, các hạt nhân này thường là
cơ sở cho việc hình thành trung tâm công nghiệp
Vai trò của trung tâm công nghiệp là:
Hạt nhân, vệ tinh
Giá trị sản xuất công nghiệp cao
Tính chất chuyên môn hóa
1.2.5.5 Dãy công nghiệp
Sự phân bố đan xen các điểm công nghiệp và cả các khu công nghiệp dọc theotrục giao thông
Là khu vực tương đối rộng lớn, trên phạm vi nhiều tỉnh có điều kiện thuận lợi vềmặt vị trí địa lí, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực kinh tế xã hội có khả năng bố trítập trung công nghiệp nhằm đạt hiệu quả và nhịp độ phát triển công nghiệp caothúc đẩy và kéo theo sự phát triển kinh tế của cả vùng nói riêng và cả nước nóichung
1.2.5.6 Địa bàn (vùng) công nghiệp trọng điểm
Là khu vực tương đối rộng lớn trên phạm vi nhiều tỉnh có điều kiện thuận lợi vềmặt vị trí địa lí, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, kinh tế xã hội có khả năng bố trítập trung công nghiệp nhằm đạt hiệu quả và nhịp độ phát triển công nghiệp caothúc đẩy và kéo theo sự phát triển của cả vùng nói riêng và cả nước nói chung
Đặc điểm của địa bàn công nghiệp trọng điểm:
Trang 18Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ côngnghiệp, nhưng ranh giới chỉ mang tính ước lệ không rõ ràng về mặt pháp lí.
Có thể bao gồm tất cả các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp từ thấp đếncao (điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghiệp, trung tâm côngnghiệp, dải công nghiệp), hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức
tổ chức lãnh thổ công nghiệp nào đó
Không có bộ máy quản lí riêng để chỉ đạo phát triển công nghiệp của địabàn
độ tăng trưởng cao, thúc đẩy và bảo đảm sự phát triển của các vùng khác và của cảnước
Trang 19Chương II
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
1 Khái quát về thành phố Cần Thơ
1.1 Cần Thơ qua các thời kì lịch sử
Vùng đất Cần Thơ về mặt địa chất được hình thành cách nay khoảng 2000–
2500 năm cùng với sự hình thànhcủa đồng bằng châu thổ sông CửuLong Sau giai đoạn phát triển rực
rỡ của vương quốc Phù Nam và vănhóa Óc-Eo kéo dài 6 thế kỷ đầuCông nguyên, do hoàn cảnh lịch sửđặc biệt và những biến động địa lýkhắc nghiệt thời đó, vùng đồngbằng này trở nên hoang vu, dân cư thưa thớt trong một thời gian dài
Năm 1698 Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn cử vào Namkinh lí đã lập ra phủ Gia Định ở miền Đông Nam Bộ Lúc nà khu vực miền TâyNam Bô vẫn còn là vùng hoang vắng
Thời gian này, Mạc Cửu (Người Trung Quốc di cư đến) mới mộ dân khaiphá một vùng đất nhỏ từ Hà Tiên đến Cà Mau và thành lập 7 xã thôn Năm 1708,Mạc Cửu dâng phần đất khai phá của mình cho Chúa Nguyễn và được ChúaNguyễn phong cho chức Tổng binh chấn Hà Tiên để tiếp tục khai phá vùng HậuGiang (Tây Nam Bộ)
Năm 1735 Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ kế nghiệp cha caiquản đất Hà Tiên Từ Hà Tiên, ông đẩy mạnh công cuộc khai mở về vùng đấtthuộc hữu ngạn sông Hậu và đến 1739 lập ra Trấn Giang (Cần Thơ ngày nay)
Trang 20Năm 1757, công cuộc khai phá vùng Nam Bộ căn bản hoàn thành, ChúaNguyễn cho thành lập 4 dinh và một trấn : trấn Biên Dinh (Biên Hòa), Phiên Trấndinh ( Sài Gòn), Trấn Định dinh ( Mỹ Tho), Vĩnh Trấn dinh (Vĩnh Long) và HàTiên trấn Lúc này trấn Hà Tiên vẫn cai quản toàn miền Hậu Giang.
Ngày 23/02/1876, Pháp cho thành lập hạt Cần Thơ, vớitỉnh lị là Cần Thơ, Trà Ổn trở thành quận lị Lúc này hạt Cần Thơ có 5 quận: ChâuThành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Trà Vinh, Cầu Kè
Năm 1889, các hạt được đổi thành tỉnh Tỉnh Cần Thơ gồm 9 tổng, 94 xã và
3 trạm hành chính là Cầu Kè, Ô Môn và Rạch Gòi Các Trung tâm thương mại làCái Răng, Bình Thủy, Phụng Hiệp, Trà Ôn…
Từ 1900 đến 1930 Pháp thựchiện nhiều chương trình khai phá
ở Nam Kì như đào nhiều kênhrạch, xây dựng nhiều tuyến đường
ô tô trong vùng Nhờ vậy mà CầnThơ mau chóng trở thành trungtâm sản xuất lúa gạo và lưu thônghàng hóa của miền Tây Nam Bộ
và được mệnh danh là “Tây Đô”
Sau cách mạng tháng 8.
Năm 1945 cách mạng tháng 8 thành công Đến tháng 11 năm 1945, Hồ ChủTịch kí sắc lệnh thành lập các chiến khu toàn quốc Miền Tây Nam Bộ được gọi làkhu 9, gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên,Châu Đốc, Bạc Liêu, Rạch Giá và Hà Tiên
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Trang 21Sau 30/ 04/1975, ta hủy bỏ hệ thống hành chính cũ của chính quyền SàiGòn, thành lập tỉnh Cần Thơ, bao gồm tỉnh Phong Dinh và một phần tỉnh ChươngThiện Thành phố Cần Thơ vẫn là đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh.
Trong kì họp thứ 10 quốc hội khóa VIII nước ta đã quyết định tách tỉnh HậuGiang ra làm 2 tỉnh là Cần Thơ và Sóc Trăng
Năm 2004, thực hiện nghịquyết 22/2003/QH11 củaquốc hội kì họp thứ 4 khóa
XI về việc chia và điềuchỉnh địa giới hành chínhmột số tỉnh Tỉnh Cần Thơchia tách: thành phố CầnThơ trực thuộc trung ương
và thành lập tỉnh Hậu
Giang Vai trò của thành phố Cần Thơ càng được khẳng định “ là vị trí trung tâm
và là đô thị lớn nhất trong hệ thống các đô thị đồng bằng sông Cửu Long”
Ngày 24/06/ 2009 Thành phố Cần Thơ trở thành đô thị loại I
Như vậy, trong suốt quá trình tồn tại, tên gọi “Cần Thơ” luôn gắn bó vớivùng đất này, mặc dù có những tên gọi khác nhau như Phong Dinh, Hậu Giang.Ngày nay trở về với tên gọi “ Cần Thơ” vốn có của nó, chắc chắn Cần Thơ sẽngày càng xứng đáng với tên gọi Cần Thơ- “Tây Đô” một thành phố quan trọng
về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ của vùng đồng bằng sông Cưu Long
1.2 Vị trí địa lí
Cần Thơ là một thành phố thuộc vùng đồng bằng Nam Bộ, ở vị trí trungtâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, bên bờ hữu ngạn sông Hậu, cách thủ đô HàNội 1888km đường bộ, cách thành phố Hồ Chí Minh 169km đường bộ
Tọa độ địa lí:
Trang 22Từ 9o55’08’’ đến 10o19’38’’ vĩ Bắc
Từ 105013’ 38’’ đến 105o50’ 35’’kinh Đông
Với vị trí trên, thành phố Cần Thơ nằm hoàn toàn trong khu vực nội chítuyến Bắc bán Cầu, có kiểu khí hậu cận xích đạo
Ranh giới, diện tích:
Về ranh giới hành chính, thành phố Cần Thơ giáp 5 tỉnh: Bắc giáp tỉnh AnGiang, nam giáp tỉnh Hậu Giang, tây giáp tỉnh Kiên Giang, đông giáp tỉnh VĩnhLong và tỉnh Đồng Tháp
Diện tích 1389,6km2 (theo số liệu của bộ Tài nguyên và Môi trường vàTổng cục thống kê, 2004) Thành phố Cần Thơ chiếm 0,42% diện tích cả nước,tương ứng 3,5% diện tích đồng bằng
Bản đồ vị trí Thành phố Cần Thơ trong vùng Tam giác tăng trưởng kinh tế Đông Nam Á
Trang 251.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.3.1 Địa mạo, địa hình, địa chất
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng lũ nửa mở, bao gồm 3 dạng địa mạo:
Đê tự nhiên ven sông Hậu hình thành dải đất cao và các cù lao ven sông Hậu Đồng bằng lũ nửa mở thuộc vùng tứ giác Long Xuyên, chịu ảnh hưởng lũ trựctiếp hàng năm
Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều là chính, cùng với một số tác độngtương tác của lũ cuối vụ
Độ cao trung bình từ +0,8m - 1,0m, có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc sang TâyNam
Về địa chất: địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển
và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50m có hai loại trầm tích:Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ)
Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông,ngư nghiệp và việc tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp thuận lợi
1.3.2 Thuỷ văn
Sông Hậu là con sông lớnnhất với tổng chiều dài chảy quathành phố là 65 km Tổng lượngnước sông Hậu đổ ra biển khoảng
200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổnglượng nước của sông Mê Kông),
Trang 26lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ là 14.800 m3/giây Tổng lượng phù sa củasông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa sông Mê Kông)
Sông Cần Thơ dài 16 km, đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông CầnThơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa cótác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông
Bên cạnh đó, Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, cho nước ngọtsuốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thuỷ lợi và cải tạo đất
Chế độ thủy văn tại Cần Thơ cũng như một số tỉnh khác của Nam Bộ làchịu ảnh hưởng lũ của hệ thống sông Cửu Long Mùa lũ thường bắt đầu vào tháng
8 kéo dài tới tháng 11 hàng năm, gây ngập úng và khó khăn cho việc thoát nướccủa đô thị vào mùa mưa
1.3.3 Khí hậu
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa với các đặc trưng sauđây: Nhiệt độ không khí: nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,8 o C, lượng mưatrung bình năm: 1600 mm (năm 2000 khoảng 1.911, năm 2004 khoảng 1.416mm)
1.3.4 Tài nguyên đất và khoáng sản
Cần Thơ có nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ, nhất là khu vực phù sa ngọtđược bồi đắp thường xuyên, thích hợp cho canh tác lúa, cây hoa màu, cây lươngthực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả đặc sản nhiệt đới, tạo điều kiệnthuận lợi để Cần Thơ phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện
Là vùng đồng bằng trẻ, tài nguyên khoáng sản của Cần Thơ không nhiều,chủ yếu là sét (gạch, ngói), sét dẻo, than bùn và cát sông Sét (gạch, ngói) có màuxám, tuy không có mỏ lớn nhưng phổ biến ở tầng gần mặt đất, dày 1 - 2 m, phân
bố rộng khắp Bên cạnh đó, sét dẻo nằm cách mặt đất 1 - 2 m, vỉa dày từ 5m đến
Trang 276m, chứa nhiều khoáng vật và rất mịn, có thể dùng trong các ngành tiểu thủ côngnghiệp Ngoài ra, Cần Thơ còn có nhiều than bùn với nhiều mỏ nhỏ, vỉa dày trên 1
m, rộng 15 - 30 m, kéo dài khoảng 30 km, trữ lượng 30 - 150 nghìn tấn
1.3.5 Tài nguyên sinh vật
Thảm thực vật của Cần Thơ tập trung trên vùng đất phù sa ngọt, gồm cácloại cỏ, rong tảo, trâm bầu, cò ke, sung vả, dừa nước, rau má, rau dền lửa, rau sam
và các loại bèo, lục bình, rong đuôi chồn, bình bát, Trên vùng đất phèn chủ yếu
có các loài tràm, chà là nước, mây nước, bòng bong, bồn bồn, bình bát, điên điển,lúa ma, sen, bông súng, Về động vật, trên cạn có các loài như: gà nước, le le,trích nước, giẻ giun, trăn, rắn, rùa, Dưới nước có các loại cá như cá lóc, cá rô, cásặc rằn, cá trê, cá bống, cá linh, cá ba sa, cá chép, cá đuống, cá mè, cá lăng, tômcàng xanh, tép bạc, tép cỏ, tép đất,…
1.4 Điều kiện kinh tế xã hội
1.4.1 Về mặt hành chính
Thành phố Cần Thơ hiện nay bao gồm:
5 Quận: Ninh Kiều, Ô Môn, Cái Răng, Bình Thủy, Thốt Nốt
4 Huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai
1.4.2 Hiện trạng dân số và lao động
Cần Thơ có qui mô dân số vào loại trung bình của nước ta Năm 2008 dân
số Cần Thơ là 1.184.120 người, chiếm 1,4% dân số cả nước So với các thànhphố cả nước So với các thành phố trực thuộc trunh ương, qui mô dân số Cần Thơđứng sau Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và đứng trên Đà Nẵng Quy mô đó làmột điều kiện thuận lợi cho phép Cần Thơ xây dựng và vươn lên để xứng tầmtrung tâm khu vực và là một cực trong hệ thống kinh tế xã hội quốc gia
Tổng số lao động của thành phố Cần Thơ năm 2008 là 748073 người, trong
đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 542.000 người; lao động dự trữ
211176 người
Trang 28Cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế tại thành phố nhìn chung giai đoạn 2000-2005 chuyển dịch không đáng kế.Tại Cần Thơ có một lực lượng lao động dựtrữ khá dồi dào trong đó đang đi học có khoảng 51.000 người, lao động chưa có việc làm chính thức 53.000 người, lao động nội trợ có khoảng 11.000người.
Tuy nhiên năm 2008 tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trên tổng số lao động chỉ mới chiếm 22,65%, tỷ lệ lao động đào tạo nghề khoảng 35,27%, tỷ lệ lao động thất nghiệp trên tổng số lao động 5,53% Đây là thách thức lớn của thành phố Cần Thơtrên đường phát triển mà động lực là công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 291.5 Hiện trạng hạ tầng kĩ thuật
1.5.1 Về giao thông
Cần Thơ là nơi quy tụ nhiều đầu mối giao thông quan trọng Trong đó:
Đường bộ: Thành phố hiện có 114.533km quốc lô chạy qua, gồm quốc lộ 1A
đoạn chạy qua thành phố Cần Thơ dài 40
km là tuyến giao thông huyết mạch nốiCần Thơ với thành phố Hồ Chí Minh, cáctỉnh, thành phố trong vùng và cả nước;quốc lộ 91 dài 30 km nối cảng Cần Thơ,sân bay Trà Nóc, Khu công nghiệp TràNóc với quốc lộ 1A Cùng với đó, thànhphố cũng đang xúc tiến xây dựng cầu CầnThơ (nối Cần Thơ với thành phố Hồ Chí
Trang 30Minh và các tỉnh, thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long), dự kiến hoànthành vào năm 2010
Đánh giá: Mạng lưới đường bộ trên địa bàn thành phố Cần Thơ tuy đã trải
rộng khắp địa bàn nhưng về mật độ phân bố và chất lượng đường còn chưa đồngđều, đường tốt tập trung các trục chính, các tuyến quốc lộ mang tính chất đốingoại và các tuyến đường trong các trung tâm đô thị hiện hữu Mật độ phân bốđường chủ yếu tập trung ở các đô thị hiện hữu và vùng dọc theo sông Hậu còn cácvùng sâu trong nội đồng hầu như chưa được phát triển, trong thời gian qua tuy cótập trung đầu tư nhưng chủ yếu là đường xe hai bánh
Đường thuỷ: Thành phố Cần Thơ có ưu thế về giao thông đường thủy do vị trí
nằm bên bờ sông Hậu, một bộ phận của sông Mê-kông chảy qua 6 quốc gia, đặcbiệt là phần trung và hạ lưu chảy qua Lào, Thái Lan và Campuchia Thành phốCần Thơ có 3 bến cảng phục vụ cho việc xếp nhận hàng hóa dễ dàng: Cảng CầnThơ diện tích 60.000m2, có thể tiếp nhận tàu biển 10.000 tấn, hiện là cảng lớn nhấtĐồng bằng sông Cửu Long; Cảng Cái Cui đang trong giai đoạn xây dựng, với qui
mô thiết kế phục vụ cho tàu từ 10.000 - 20.000 tấn, khối lượng hàng hóa thôngqua cảng là 4,2 triệu tấn/năm, cảng Trà Nóc có diện tích 16 ha,
Đường hàng không: Cần Thơ có sân bay Trà Nóc đang được nâng cấp, mở rộng
để mở đường bay tới các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong tương lai, sân bayTrà Nóc sẽ mở rộng đường bay đến các nước trong khu vực ASEAN
1.5.2 Về thông tin liên lạc
Cần Thơ xây dựng được hệ thống thông tin đại chúng, bưu chính - viễnthông hiện đại, tạo điều kiện tốt nhất cho giao thương giữa thành phố với các tỉnh,thành phố trong cả nước và các nước trên thế giới
1.5.3 Về điện, nước
Hệ thống điện, nước của thành phố Cần Thơ có khả năng đáp ứng nhu cầucủa các nhà đầu tư với các Nhà máy nhiệt điện Trà Nóc, công suất 200 MW; Nhà
Trang 31máy nhiệt điện Ô Môn đang được xây dựng, công suất 600 MW (giai đoạn I) và1.200 MW (giai đoạn II); hai nhà máy cung cấp nước sạch, công suất 90 nghìn m3/ngày đêm
1.6 Hiện trạng ngành công nghiệp ở Thành phố Cần Thơ.
Trang 321.6.1 Tình hình phát triển công nghiệp
Công nghiệp là thế mạnh quan trọng, giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế vàđược coi là nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Thành phốCần Thơ Quy mô về giá trị sản xuất công nghiệp đang đứng đầu vùng Đồng bằngsông Cửu Long và đứng thứ 12 trong cả nước, với nhịp độ tăng trưởng bình quân19%/năm, đóng góp gần 32%/năm vào GDP thành phố Một số lĩnh vực côngnghiệp lớn của thành phố như: Chế biến lương thực, thực phẩm và đồ uống, sảnxuất phân bón hoá chất, cơ khí, may mặc, vật liệu xây dựng,
Sản xuất công nghiệp phát triển theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, quy
mô sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng các hệ thống quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO, GMP, SQF,… đã nâng cao hàm lượng giátrị gia tăng sản phẩm công nghiệp; nhiều ngành hàng, sản phẩm có lợi thế, có thịtrường, khả năng cạnh tranh cao được quan tâm đầu tư phát triển, nhất là các sảnphẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Quy mô sản xuất công nghiệp của thànhphố ngày càng phát triển, giá trị sản xuất công nghiệp từ 8.218,5 tỷ đồng năm
2005 lên 15.060 tỷ đồng năm 2008, tăng bình quân 22,4%/năm trong thời kỳ 2006
- 2008 (Kế hoạch 2006 - 2010 tăng 20,1%); riêng năm 2008, tăng trưởng kinh tếước đạt 23,3% Thành phố đã huy động được nhiều nguồn lực để phát triển côngnghiệp, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng và đóng góp của khu vực côngnghiệp ngoài quốc doanh (tăng trưởng bình quân 37,47%/năm, chiếm tỷ trọng70% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp)
Trang 33Các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu,tạo ra nhiều giá trị gia tăng và thu hút nhiều lao động, đồng thời gắn với phát triểnnông nghiệp, dịch vụ và bảo vệ môi trường được tập trung đầu tư phát triển Cácsản phẩm công nghiệp xuất khẩu chủ lực của thành phố như: thủy hải sản đônglạnh, gạo, thực phẩm chế biến, hàng may mặc, da giày, dược phẩm, nhựa dândụng, thức ăn gia súc, có sản lượng và giá trị xuất khẩu tăng dần qua từng năm.Một số đơn vị đã xây dựng thương hiệu, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc
Trang 34(Nguồn niên giám thống kê Thành phố Cần Thơ)
Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng caotrong cơ cấu GDP của thành phố, ngành công nghiệp Thành phố Cần Thơ đangchuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiên đại hóa
Cơ cấu GDP của thành phố Năm 2006 Năm 2007 Năm
2008
+ Khu vực I (Nông nghiệp) 17,1% 15,2% 16,74%
+ Khu vực II (Công nghiệp,
xây dựng)
Trang 35+ Khu vực III (Thương
mại-dịch vụ)
Biểu đồ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành Phố Cần Thơ các năm2006-2008
Hiện nay, toàn thành phố có 6.313 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp thu hút 65.919 lao động Ngành nghề ngày càng đa dạng, tập trungvào các ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, may mặc, giày da,hoá chất, dệt, dược, công nghiệp cơ khí,tập trung chủ yếu ở Ô Môn, Ninh Kiều,Thốt Nốt, Bình Thủy
1.6.2 Những cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển công nghiệp Cần Thơ
Trang 36Với sự tăng trưởng nhanh về giá trị, tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế, ngành côngnghiệp đã tạo ra việc làm ổn định cho hơn 50 nghìn lao động, góp phần giảm tỉ lệthất nghiệp và tăng mức thu nhập cho người lao động.
Kết quả này thật đáng phấn khởi nhưng để giữ vững sự tăng trưởng và bềnvững thì không đơn giản Trong tiến trình vươn lên xứng tầm với vị thế thành phốđộng lực của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, công nghiệp Cần Thơ đangđứng trước nhiều cơ hội và thách thức
Là Thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm khu vực đồng bằng sông CửuLong, có hệ thống hạ tầng kĩ thuật khá đồng bộ Cần Thơ nói chung, ngành côngnghiệp nói riêng đang đứng trước cơ hội lớn trên bước đường hội nhập Thêmnữa, Nghị quyết 45/NQ-TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị về xây dựng vàphát triển Thành phố Cần Thơ trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chỉ
rõ “Cần Thơ phải phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự
nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa để trở thành đô thị loại I trước 2010 và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước 2020, là một cực phát triển đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của toàn vùng”, một lần nữa khẳng
định cơ hội “vàng” để ngành công nghiệp thành phố vươn xa, mạnh và bền vững
trong những năm tới
Bên cạnh những tiềm năng và lợi thế, ngành công nghiệp Cần thơ cũng gặpnhững thách thức không nhỏ Sự phát triển của ngành công nghiệp Thành phố CầnThơ trong những năm qua chưa thất sự bền vững, chủ yếu là phát triển côngnghiệp chế biến, còn công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vàxuất khẩu còn ít, quy mô nhỏ Tốc độ tăng trưởng còn phụ thuộc vào biến độngcủa thị trường, nguồn nguyên liệu,
Một thách thức phải kể tới là hệ thống kết cấu hạ tầng của thành phố, tuyđược coi là khá đa dạng nhưng một số công trình trọng điểm cầu Cần Thơ, cảngCái Cui,…vẫn chưa được đưa vào khai thác, tốc độ thi công còn chậm, hệ thống
Trang 37giao thông vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa.
Một thách thức khác mà ngành công nghiệp Thành phố Cần Thơ đang đối mặt
đó là tình trạng ô nhiễm môi trường nước do các khu, cụm công nghiệp thải ra.Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên do các khu công nghiệp trên địa bànthành phố đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Mặt khác, hầu hết cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp trên địa bàn thành phố đều cóquy mô vừa và nhỏ, thiết bị công nghệ lạc hậu,
Để khắc phục hạn chế, tồn tại trên, Thành phố Cần Thơ cần điều chỉnh quyhoạch phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành, sản phẩm có giá trịtăng lớn, hàm lượng tri thức và khoa học công nghệ cao Bên cạnh ưu tiên côngnghiệp chế biến để giải quyết lao động vẫn phải quan tâm phát triển công nghiệpsản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp điện tử, tin học,… Đặc biệt, các doanhnghiệp Cần Thơ cần năng động sáng tạo và nhạy bén với thị trường, tăng cườngđổi mới thiết bị công nghệ tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ
có lợi thế cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Thành phố cần đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực, kịp thờiban hành các cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế trong vàngoài nước tích cực tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh Mặt khác, Thành phốCần Thơ cần đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt
là Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằmkhai thác, phát huy các lợi thế phát triển của vùng
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗilĩnh vực kinh tế Không nằm ngoài xu hướng đó, ngành công nghiệp Cần Thơcũng đang hòa mình vào tiến trình hôi nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, để ngànhcông nghiệp Cần Thơ phát triển nhanh đồng bộ cần có những nỗ lực của doanhnghiệp
Trang 381.6.3 Một số ngành công nghiệp chủ yếu
1.6.3.1 Công nghiệp năng lượng
Năng lượng có vai trò rất quan trọng và được đầu tư xây dựng từ rất sớm Năm
1973 nhà máy nhiệt điện Trà Nóc được xây dựng với công suất thiết kế 35MWnhằm cung cấp điện cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay, nhiệtđiện Trà Nóc đã nâng lên 200MW và dự kiến sẽ nâng công suất lên cao hơn nữa.Ngoài ra, Cần Thơ còn có nhiệt điện Ô Môn công suất 600MW, dự kiến nângcông suất lên 1200MW Nguồn điện này được hòa vào mạng lưới điện quốc gia
để cung cấp cho các địa phương trong vùng
Hệ thống truyền tải điện ở Cần Thơ cũng khá phát triển, bao gồm đường dâytải điện 220KV Hóc Môn- Trà Nóc dài 164,4 km, đường dây 66KV từ Trà Nóc điSóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau; từ Trà Nóc đi Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, đểcấp điện cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Tại Cần Thơ có 2 trạm biến áp khu vực Trạm Bình Thủy cấp điện chủ yếu chokhu công nghiệp Trà Nóc và phía Bắc thành phố; trạm Ninh Kiều chủ yếu cungcấp cho khu vực trung tâm và phía nam thành phố Mạng lưới điện trung thế15KV có tổng chiều dài 1.241km, mạng lưới điện hạ thế 0,4KV, có tổng chiều dài1.835Km
Nhìn chung mạng lưới điện hạ thế và hệ thống chiếu sáng khá tốt nhưng chưađạt tiêu chuẩn quy định, sản lượng điện cung cấp 2007 là 214.181 ngàn KWh, cơcấu sử dụng điện như sau: Công nghiệp 48%, nông nghiệp 0,8%, phi nông nghiệp15%, giao thông vận tải 0,4%, sinh hoạt 35,8%, tỉ lệ hộ dân sử dụng điện 90,2%.Trong đó hộ nông thôn đạt 86,5%
Trang 391.6.3.2 Công nghiệp cơ khí
Công nghiệp cơ khí ở Cần Thơ được chia thành 3 nhóm ngành chủ yếu: Sảnxuất kim loại và các sản phẩm từ phi kim loại, sản xuất thiết bị máy móc,ngành kĩ thuật điện-điện tử
Công nghiệp cơ khí có 803 cơ sở, tập trung chủ yếu ở các quận Bình Thủy,Ninh Kiều, Ô Môn Tuy nhiên, tỉ trọng của công nghiệp cơ khí chưa xứng vớitiềm năng và vị trí của Cần Thơ ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long
Các sản phẩm chủ yếu như thùng suốt lúa, dàn cày chảo, nông cụ cầm tay,các phụ tùng thay thế máy móc nông nghiệp như trục khủy máy kéo, sữa chữamáy cày…
1.6.3.3 Công nghiệp hóa chất
Ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỉ trọng gần 13% giá trị sản xuất côngnghiệp Ngành này có 57 cơ sở , chủ yếu tập trung trong khu công nghiệp Trà Nócvới các xí nghiệp lớn và khá hiện đại như nhà máy phân bón hóa chất, nhà máyhơi kĩ nghệ, nhà máy cao su, bột giặt Ngoài ra còn có kĩ nghệ hơi, kĩ nghệ tiêudùng…
1.6.3.4 Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 40Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng sản xuất các sản phẩm như xi măng,gạch ngói, bê tông đúc sẵn, tấm lợp fibro xi măng,… Cần Thơ có xí nghiệp liêndoanh với xí nghiệp xi măng Hà Tiên 2 đặt tại Ô Môn, xí nghiệp cấu kiện bêtôngBình Thủy, xí nghiệp tấm lợp tại Ninh Kiều, xí nghiệp gạch ngói tại MỹKhánh Với nhu cầu xây dựng dân dụng và công nghiệp ngày càng gia tăng,ngành sản xuất vật liệu xây dựng Cần thơ đang phát triển mạnh nhaừm đáp ứngnhu cầu của sản xuất và đời sống.
1.6.3.5 Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
Nằm giữa vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm Cần Thơ có tiềm năng
to lớn để phát triển ngành chế biến lương thực, thực phẩm Hiện nay, các thếmạnh này cũng đang được phát huy Ngành này chiếm khoảng 80% giá trị sảnxuất công nghiệp Các sản phẩm chủ yếu là xay xát gạo, đường mía, bia, nước giảikhát, thủy sản chế biến…
1.6.3.6 Công nghiệp dệt - may, da
Ngành dệt may ở Cần Thơ có bước phát triển mạnh, nhất là ngành may mặc.Cần Thơ có công ty may Tây Đô, Công ty may liên doanh Meko và nhiều cơ sởmay mặc khác Sản phẩm dệt của Cần thơ chủ yếu là bao PP, dệt chiếu, thảm