Chất dẻo nguyên liệu : 4,8 tỷ USD Với những số liệu trên, năm 2012 Việt Nam xuất siêu 780 triệu USD Hình 1.2 : Cơ cấu hàng Nhập khẩu năm 2012 Vải các loại Sắt thép các loại Điện thoại c
Trang 1Chương 1 : Thị trường xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam
1.1 Khái quát về tình hình xuất khẩu của Việt Nam hiện nay:
Trong các năm trở lại đây, tuy kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng hoạt động xuất nhập khẩu vẫn đạt kết quả cao, vượt trội cả về quy mô xuất khẩu
và tốc độ tăng từng năm Tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng của nhập khẩu, nhập siêu đã giảm và về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2012 ước đạt 228 tỷ USD (tăng 12,1% so với năm 2011)
Xu ất khẩu:
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (KNXK) uớc đạt 114,6 tỷ USD, tăng 18,1% so với năm 2011 Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước chiếm tỷ trọng 44,1% đạt 50,6 tỷ USD Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55,9% đạt 64 tỷ USD
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trong năm 2012:
1 Hàng dệt may : 15,1 tỷ USD
2 Điện thoại và các linh kiện : 12,7 tỷ USD
4 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: 7,8 tỷ USD
5 Giày dép các loại : 7,2 tỷ USD
Máy vi tính, s/p điện tử và linh kiện Giày dép các loại
Hàng Thủy sản Máy móc, thiết bị, dung cụ phụ tùng khác
Gỗ và sản phẩm gỗ Phương tiện vận tải, phụ tùng
Cà phê Sản phẩm khác
Trang 2 Nh ập khẩu:
Với nhiều biện pháp tăng cường kiểm soát để hạn chế nhập khẩu những mặt hàng tiêu dung chưa cần thiết hoặc trong nước đã sản xuất được, nhiều mặt hàng có khối lượng nhập khẩu giảm so với năm 2010
Tổng kim ngạch nhập khẩu (KNNK) hàng hóa tính ước đạt 113,8 tỷ USD tăng 6,59%
so với cùng kỳ năm 2011, trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 60
tỷ USD, chiếm 52,7% tổng KNNK cả nước, tăng 22,95%; kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 53,8 tỷ USD, chiếm 47,3%, giảm 7,1% so năm
2011
Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của nước ta trong năm 2012
1 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác : 16 tỷ USD
2 Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện : 13,1 tỷ USD
3 Xăng dầu các loại : 8,9 tỷ USD
6 Chất dẻo nguyên liệu : 4,8 tỷ USD
Với những số liệu trên, năm 2012 Việt Nam xuất siêu 780 triệu USD
Hình 1.2 : Cơ cấu hàng Nhập khẩu năm 2012
Vải các loại Sắt thép các loại Điện thoại các loại Chất dẻo nguyên liệu Nguyên phụ liệu dệt Sản phẩm từ thép Sản phẩm khác
Trang 3Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Nhìn vào đồ thị cho thấy tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu đang có xu hướng giảm dần qua các năm và cụ thể là hết năm 2012 thì lần đầu tiên sau 20 năm cán cân thương mại thặng
dư 780 triệu USD Đây là một tín hiệu tích cực Tuy nhiên, cũng cần thận trọng trong việc nhìn nhận tình hình này bởi vì có thể giá xuất khẩu tăng khi nhu cầu thế giới hặc mức giá thế
Hình 1.4 : Kim ngạch XNK và cán cân thương mại của Việt Nam
năm 2008 - 2012
Hình 1.3 : Kim ngạch XNK của Việt Nam năm 2008 - 2012
0 20 40 60 80 100 120
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Trang 4giới tăng, nhưng nếu cấu trúc xuất nhập khẩu không thay đổi thì căn bản – chuyển dịch từ các mặt hàng nông lâm nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp sang các mặt hàng giá trị cao và vì thế là nền kinh tế sẽ liên tục chịu những cú sốc thất thường về giá trên thị trường thế giới
Cấu trúc cán cân thương mại của Việt Nam vẫn chưa có những thay đổi căn bản: Nhập siêu tập trung ở khu vực kinh tế trong nước Nhập siêu chủ yếu từ Trung Quốc và nhập siêu hàng hóa trung gian chiếm tỷ trọng lớn
Về cán cân thương mại phân theo khu vực kinh tế, khu vực kinh tế trong nước có mức thâm hụt tương đối Tính đến hết ngày 15/12/2012 nhập siêu của khu vực này là 3,1 tỷ USD Còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt thặng dư thương mại ước tính là 3,5 tỷ USD Như vậy để giải quyết vấn đề nhập siêu thì giải pháp phải hướng tới là nhằm khắc phục nhập siêu ở khu vực kinh tế trong nước
-14.5
-8.9
-3.1 -3.4
-1.9
-2.8
-11
3.5
NĂM 2008 NĂM 2009 NĂM 2010 NĂM 2011 NĂM 2012
Khu vực trong nước Khu vực FDI
Trang 5Về cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng nông lâm nghiệp, các mặt hàng thâm dụng lao động và các tài nguyên thiên nhiên chẳng hạn như dầu thô, than đá, gạo, xăng dầu … Nhập khẩu cũng tập trung và các mặt hàng làm đầy vào cho hoạt động sản xuất phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu chẳng hạn như xăng dầu, chất dẻo, vải, sắt thép, điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc thiết bj, dụng cụ, phụ tùng khác
1.2 Giới thiệu chung về thị trường xuất - nhập khẩu của Việt Nam
1.2.1 Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của Việt Nam qua các năm vẫn là:
EU, Hoa Kì, Nhật Bản, Úc, Trung Quốc , Nga và các nước thành viên trong ASEAN.Trong
đó Hoa Kì, EU và Nhật Bản luôn là đối tác xuất khẩu chủ lực của Việt Nam kể từ năm 2008 đến nay Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu qua các thị trường tăng mạnh qua các năm Cụ thể:
EU là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kết thúc năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 20 tỷ USD tăng 21,3% so với năm 2011 Tốc độ tăng trưởng nhanh , đạt 21,4% năm 2010, và 45% năm 2011 Mặt hàng chủ lực mà Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU vẫn là dệt may, gỗ và các sản phẩm về gỗ
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu Kết thúc năm 2012, kết quả xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khá khả quan, đạt khoảng
19 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng đạt 17%so với năm 2011 Với kết quả này, bước sang năm
2013 Hoa Kỳ vẫn là một trong số các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Nhật bản là thị trường Châu Á mà Việt Nam xuất siêu khá lớn trong các năm gần đây Tuy kim ngạch xuất khẩu giảm vào năm 2009, tuy nhiên tình hình đã khôi phục vào năm 2010
và tăng mạnh vào năm 2011,năm 2012 đạt 13,9 tỷ USD tăng 23,3%
ASEAN đạt 17,8 tỷ USD, tăng 28%; Trung Quốc đạt 14,2 tỷ USD, tăng 11,1%; Hàn Quốc đạt 7 tỷ USD, tăng 16,3% so với năm 201
Hình 1.5 : Đồ thị Cán cân thương mại phân theo khu vực kinh tế
năm 2008 - 2012
Trang 6Nội dung 2008 2009 2010 2011 11tháng năm 2012
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch Tỉ
trọng Hoa Kì 11868509 20.36 11355757 20.78 14238132 20.39 16927763 18.23 17893330 18.10
EU 10853004 18.62 9378294 17.17 11385478 16.31 16545277 17.81 18195826 18.01 Nhật Bản 8537938 14.65 6291810 11.52 7727660 11.07 10781145 11.61 11953485 12.69 Trung quốc 4535670 7.78 4909025 8.99 7308800 10.47 11125034 11.98 11237878 11.93 Singapore 2659728 4.56 2076253 3.80 2121314 3.04 2285653 2.46 2134138 2.17
Úc 4225188 7.25 2276716 4.17 2704004 3.87 2519098 2.71 2844211 2.62 Nga 671955.2 1.15 414892.1 0.76 829700.9 1.19 1287324 1.39 1447338 1.33 Các nước ASEAN (trừ
Singapore)
7535087 12.93 6515614 11.93 8229635 11.79 11297626 12.16 13555813 13.16
Các quốc gia khác 7394696 12.69 11416115 20.90 15275423 21.88 20111620 21.65 21040500 20.00 Tổng kim ngạch xuất khẩu 58281775 100.00 54634476 100.00 69820145 100.00 92880541 100.00 100302522 100.00
Bảng 1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008 - 11tháng năm 2012
Trang 71.2.2 Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2012 ước đạt 116 tỷ USD, tăng 0,8% so với năm
2011 Khu vực kinh tế trong nước đạt 53 tỷ USD, giảm 7,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 63 tỷ USD, tăng 24,3% Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN Trong đó:
Trung Quốc là quốc gia chiếm tỉ trọng lớn nhất trong kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 29,2 tỷ USD tăng 17,3% so với năm 2011 Trong đó, các mặt hàng
có kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD là điện thoại các loại linh kiện (đây cũng là mặt hàng
có kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến những năm gần đây); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ từng, sắt thép các loại, vải các loại
Các quốc gia khác
Các nước Asean
Nga Úc Singapore Trung Quốc Nhật Bản EU Hoa Kì
2012 2011 2010 2009 2008
Hình 1.7 : Thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2008 -
11tháng đầu năm 2012
Trang 8Hàn Quốc là quốc gia thứ hai chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 16,2 tỷ USD tăng 18,4% so với năm 2011 Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu từ Hàn quốc tăng nhanh qua các năm (ngoại trừ năm 2009, giảm 1,79% so với năm 2008), bình quân 35,8% qua các năm Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc là ô tô nguyên chiếc, điện thoại các loại và linh kiện, cao su, chất dẻo nguyên liệu
Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều từ các nước thành viên ASEAN, kết thúc năm đạt 22,3
tỷ USD, giảm 0,5%, và chiếm 20% năm 2011(trong đó Singapore là quốc gia mà Việt Nam có
tỉ lệ nhập khẩu lớn nhất Bốn mặt hàng có giá trị trên 1 tỷ USD nhập khẩu là:Xăng dầu các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và link kiện, máy móc, thiết bị, chất dẻo nguyên liệu.)
Tiếp đó là Nhật Bản đạt 13,7 tỷ USD, tăng 13,8%; EU đạt 10 tỷ USD, tăng 14,6%; Mỹ đạt 6,3 tỷ USD, tăng 5,6% so với 2011
Tóm lại, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu máy móc và thiết bị sản xuất ,các loại điện thoại
Từ biểu đồ thể hiện tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu, cho thấy Việt Nam vẫn chưa tận dụng được nguồn cung hàng hóa từ thị trường EU và Mỹ Đây là hai thị trường cung cấp máy móc có chất lượng và công nghệ tốt Ngược lại, việc nhập khẩu từ thị trường châu Á lại chiếm tỉ trọng khá lớn và đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây, nhất là thị trường Trung Quốc và ASEAN Tuy nhiên, có một số mặt hàng trong nước có khả năng sản xuất tốt tại nội địa như hàng nông sản, thủy sản, vải lại chiếm tỉ trọng nhập khẩu khá lớn Bên cạnh đó, vấn đề về chất lượng sản phẩm nhập khẩu cũng như kiểm soát hàng hóa qua con đường tiểu ngạch cũng đang là bài toán khó với cán bộ quản lý nhà nước
Trang 9Nội dung 2008 2009 2010 2011 11 tháng năm 2012
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch
Tỉ trọng
Kim ngạch Tỉ
trọng
Kim ngạch Tỉ
trọng Hoa Kì 2635288 3.36 3009392 4.33 3766911 4.52 4529215 4.33 14065866 4.48
EU 5445162 6.95 6417515 9.24 6361714 7.63 7747067 7.41 7933018 7.47 Nhật Bản 8240662 10.52 7468092 10.75 9016085 10.82 10400330 9.95 10604679 10.29 Trung quốc 15652126 19.99 16440952 23.67 20018827 24.01 24593719 23.53 26128312 24.88 Singapore 9392533 11.99 4248356 6.12 4101144 4.92 6390575 6.11 6297194 6.52
Bảng 2: Cơ cấu tỉ lệ nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2008- 6 tháng năm 2012
Trang 10Chương 2 : Giới thiệu về thị trường EU
2.1 Tổng quan về thị trường EU
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của EU:
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (European Union), viết tắt là EU, là một liên
minh kinh tế chính trị bao gồm 27 quốc gia thành viênthuộc Châu Âu Liên minh châu Âu được
thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu
Âu (EC)Với hơn 500 triệu dân,Liên minh châu Âu chiếm 30% (18,4 nghìn tỉ đô la Mỹ năm
2008) GDP danh nghĩa và khoảng 22% (15,2 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2008) GDP sức mua tương đương của thế giới
Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người,
0 5000000 10000000 15000000 20000000 25000000 30000000 Các quốc gia khác
Hàn quốc Các nước Asean
Nga Úc Singapore Trung Quốc Nhật Bản EU Hoa Kì
2012 2011 2010 2009 2008
Hình 1.8 :Thị trường nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2008-6 tháng năm 2012
Trang 11hàng hóa, dịch vụ và vốn EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư
tạo nên khu vực đồng Euro Liên minh châu Âu đã phát triển một vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G8, G-20 nền kinh tế
lớn và Liên hiệp quốc.Liên minh châu Âu đã thông qua việc bãi bỏ kiểm tra hộ chiếu bằng Hiệp ước Schengen giữa 22 quốc gia thành viên và 3 quốc gia không phải là thành viên Liên minh
châu Âu
Là một tổ chức quốc tế, Liên minh châu Âu hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp.Những thể chế chính trị quan trọng của Liên minh châu Âu bao gồm Ủy ban châu Âu, Nghị viện Châu Âu Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu và Ngân hàng Trung ương châu Âu
Liên minh châu Âu có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu từ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951 Từ đó cho đến nay, Liên minh châu Âu đã lớn mạnh hơn về số lượng cũng như chất lượng thông qua việc tăng cường thẩm quyền của Liên minh châu Âu
Lịch sử của Liên Minh Châu Âu bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 Có thể nói rằng nguyện vọng ngăn ngừa chiến tranh tàn phá tái diễn đã đẩy mạnh sự hội nhập châu
Âu Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950 Cũng chính ngày này là ngày
mà hiện nay được coi là ngày sinh nhật của Liên minh châu Âu và được kỉ niệm hàng năm là
"Ngày Châu Âu"
Ban đầu, Liên minh châu Âu bao gồm 6 quốc gia thành viên : Bỉ , Đức , Ý, Lucxembourg, Pháp, Hà lan Năm 1973, tăng lên thành gồm 9 quốc gia thành viên Năm 1981, tăng lên thành 10 Năm 1986, tăng lên thành 12 Năm 1995, tăng lên thành 15 Năm 2004, tăng lên thành 25 Năm 2007 tăng lên thành 27
Sau đây là danh sách 27 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp theo năm gia nhập
1951: Bỉ, Đức, Ý, Luxembourg, Pháp, Hà Lan
1973: Đan Mạch, Ireland, Anh
1981: Hy Lạp
Trang 12 1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
Ngày 1/5/2004: Séc, Hungary, Ba
Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia,Malta, Cộng hòa Síp
Ngày 1/1/2007: Romania, Bungary
1/7/2013: Croatia
Hiện nay, Liên minh châu Âu có diện tích là 4.422.773 km² với dân số là 492,9 triệu
người (2006) ; với tổng GDP là 11.6 nghìn tỉ euro (xấp xỉ 15.7 nghìn tỉ USD) trong năm 2007
Hầu hết các quốc gia châu Âu đều đang là thành viên của Liên minh châu Âu
Tính đến cuối năm 2010, có 4 quốc gia được đánh giá là ứng viên chính thức để kết nạp
thành viên Liên minh châu Âu đó là: Iceland,Macedonia, Montenegro và Thổ Nhĩ
Kỳ Albania, Bosnia và Herzegovina và Serbia là những ứng viên tiềm năng Kosovo cũng
được xếp vào danh sách những ứng viên tiềm năng gia nhập vào Liên minh châu Âu vì Ủy ban châu Âu và hầu như tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu khác đã thừa
nhận Kosovo như một quốc gia độc lập, tách biệt khỏi Serbia
Năm quốc gia Tây Âu không phải là thành viên Liên minh châu Âu nhưng đã có những thỏa thuận hợp tác nhất định kinh tế và pháp luật của Liên minh châu Âu đó là: Iceland (ứng viên gia nhậpLiên minh châu Âu), Liechtenstein và Na Uy, thành viên thị trường duy nhất thông
qua Khu vực kinh tế châu Âu, và Thụy Sĩ, tương tự như trường hợp của Na Uy nhưng thông
qua hiệp định song phương giữa nước này và Liên minh châu Âu Ngoài ra, đồng tiền chung
EURO và các lĩnh vực hợp tác khác cũng được áp dụng đối với các quốc gia thành viên nhỏ như Andorra,Monaco, San Marino và Vatican
Ba trụ cột chính của Liên minh châu Âu
Hiệp ước Maastricht - Trụ cột thứ nhất
Hiệp ước Maastricht hay còn gọi là Hiệp ước Liên minh Châu Âu (tiếng Anh,
"Treaty of European Union"), ký ngày 7 tháng 2 năm 1992 tạiMaastricht Hà Lan, nhằm mục đích:
Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đơn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập,
Trang 13 Thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và
an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp
Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa châu Âu và dẫn đến việc thành lập Cộng đồng châu Âu
Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu
Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã hội, nghiên cứu
Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư, quyền cư trú
và thị thực
Liên minh kinh tế và tiền tệ
Được chia làm 3 giai đoạn, từ 1 tháng 7 năm 1990 tới 1 tháng 1 năm 1999, và kết thúc bằng việc giải tán Viện tiền tệ châu Âu, thành lập Ngân hàng Trung ương châu
Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP;
Nợ công dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM);
Trang 14 Lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn từ 10 năm trở lên) không quá 2% so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất
Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg,Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài
là Anh, Đan Mạch và Thuỵ Điển Hiện nay, đồng Euro đang có tỉ giá hối đoái cao hơn đồng
đô la Mỹ
Hiệp ước Schengen
Ngày 19 tháng 6 năm 1990, Hiệp ước Schengen được thoả thuận xong Đến ngày 27 tháng 11 năm 1990, 6 nước Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ, Hà Lan vàÝ chính thức ký Hiệp ước Schengen Hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký ngày 25 tháng
6 năm 1991 Ngày 26 tháng 3 năm 1995, hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên Đối với công dân nước ngoài chỉ cần cóvisa của 1 trong 9 nước trên là được phép đi lại trong
toàn bộ khu vực Schengen Hiện nay, 14 trong 25 nước thành viên Liên minh châu Âu đã
tham gia khu vực Schengen (ngoại trừ cả Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland)
Hiệp ước Amsterdam - Trụ cột thứ hai
Hiệp ước Amsterdam còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, ký ngày 2
tháng 10 năm 1997 tại Amsterdam, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng
5năm 1999, đã có một số sửa đổi và bổ sung trong các vấn đề như:
1 Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử;
2 Tư pháp và đối nội;
3 Chính sách xã hội và việc làm;
4 Chính sách đối ngoại và an ninh chung
Hiệp ước Nice - Trụ cột thứ ba
Hiệp ước Nice được lãnh đạo các quốc gia thành viên châu Âu kí vào ngày 26 tháng
2 năm 2001 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2 năm 2003 Hiệp ước Nice là sự bổ sung
cho Hiệp ước Maastricht và Hiệp ước Rome Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể
Trang 15chế để đón nhận các thành viên mới theo chính sách mở rộng về phía Đông châu Âu, vốn ban
đầu là nhiệm vụ của Hiệp ước Amsterdam nhưng không được hoàn thành
Trong cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào tháng 6 năm 2001, các cử tri Ireland đã phản đối việc
thông qua Hiệp ước Nice Tuy nhiên, sau hơn một năm, kết quả đã bị đảo ngược
Ngày 1 tháng 12 năm 2009, Hiệp ước Lisbon chính thức có hiệu lực và đã cải tổ nhiều khía
cạnh của Liên minh châu Âu Đặc biệt, Hiệp ước Lisbon đã thay đổi cấu trúc pháp lý của Liên
minh châu Âu bằng cách sáp nhập cấu trúc 3 trụ cột thành một chính thể pháp lý duy nhất Hiệp ước là cơ sở pháp lý cho vị trí Chủ tịch thường trực Hội đồng Liên minh châu Âu, chức vụ mà ngàiHerman Van Rompuy đang nắm giữ, cũng như vị trí Đại diện cấp cao của Liên minh châu
Âu về ngoại giao và an ninh, chức vụ mà bà Catherine Ashton đang phụ trách
2.1.2 Mục tiêu, chính sách và quy định của EU
Mục tiêu
Ngay từ lúc mới thành lập, EU đã đặt ra mục tiêu trọng tâm là thiết lập một thị trường kinh tế duy nhất ở châu Âu bao gồm lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên Hiện tại, hệ thống tiền tệ chung đang được sử dụng ở 16 nước thuộc Liên minh châu Âu, thường biết đến với tên gọi khu vực đồng euro ("eurozone")
Chính sách
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, EU áp dụng những chính sách như sau:
Tăng cường tự do hóa thương mại giữa các thành viên bằng cách xóa bỏ những rào cản thương mại như thuế quan, hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu
Xây dựng biểu thuế quan chung chi các nước thành viên
Áp dụng các biện pháp thuận lợi hóa sự di chuyển lao động và vốn giữa các thành viên
Xây dựng chính sách phát triển chung về nông nghiệp , giao thông vận tải
Với những chính sách trên, EU đã đạt được những thành tựu nhất định:
1968, EU đã xây dựng xong đồng inh thuế quan giữa các nước hội viên
Thành lập một thị trường nông nghiệp chung
Từ 1/1/1993 thực hiện lưu thông con người, hàng hóa, dịch vụ, tư bản tự do giữa các nước
1/1/2002, đồng Euro chính thức được lưu hành
Trang 162.1.3 Quan hệ Việt Nam-EU
Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 28/11/1990 và ngày 17/7/1995 đã đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao Việt Nam
- EU với việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác, thiết lập các nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai bên
Phái đoàn Ủy ban châu Âu tại Việt Nam được thành lập và chính thức hoạt động từ năm
1996 Từ đó tới nay, quan hệ Việt Nam - EU đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt
là thương mại EU hiện trở thành một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam Trong vòng 11 năm (2000 – 2011), kim ngạch thương mại Việt Nam – EU đã tăng 5,9 lần, từ mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 24,29 tỷ USD năm 2011; trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào
EU tăng 5,9 lần lên 16,5 tỷ USD và nhập khẩu của Việt Nam từ EU tăng 5,9 lần lên 7,74 tỷ USD 3 tháng đầu năm 2012, xuất khẩu Việt Nam vào EU đạt 4,34 tỷ USD, tăng 25%; nhập khẩu từ EU đạt 1,8 tỷ USD, tăng 18%
EU có tổng vốn đầu tư nước ngoài FDI ra ngoài khối chiếm 47% FDI của toàn cầu Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 2009, EU tiếp tục là đối tác đầu tư vào Việt Nam lớn thứ hai sau Nhật Bản, chiếm khoảng 7 tỉ USD trong tổng số vốn FDI có tại Việt Nam Riêng năm 2008, EU đã đầu tư thêm 3 tỉ USD vào Việt Nam, tăng 76,9% so với năm 2007 Trong năm 2009, tổng số viện trợ EU cam kết dành cho Việt Nam là 716,21 triệu Euro (tương đương với 17,82% tổng số viện trợ nước ngoài), trong đó khoảng một nửa là viện trợ không hoàn lại (308 triệu Euro)
Những dự án tài trợ nổi bật nhất của EU dành cho Việt Nam phải kể đến Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên MUTRAP Ngoài ra, EU còn tài trợ cho Việt Nam nhiều dự án quan trọng trong lĩnh vực y tế, công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường và cung cấp nước sạch, hỗ trợ cải cách hành chính, xóa đói, giảm nghèo, văn hóa, giáo dục đào tạo…
Ngày 27/6/2012, nhận lời mời của Phó chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC), Đại diện cấp cao phụ trách an ninh và chính sách đối ngoại Liên minh châu Âu (EU) Catherine Ashton, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã thăm chính thức EU và ký chính thức Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - EU
Trang 17PCA được ký chính thức là một bước phát triển quan trọng, đưa quan hệ hai bên chuyển sang một giai đoạn mới với phạm vi và mức độ hợp tác rộng và sâu sắc hơn trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, phù hợp với ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của hai bên cũng như xu thế hợp tác và phát triển chung trên thế giới PCA tạo điều kiện thuận lợi, cho phép khai thác tốt hơn lợi thế so sánh và tính bổ sung cao về cơ cấu kinh tế của hai bên; tạo tiền đề quan trọng để hai bên bước vào đàm phán FTA, hợp tác hướng tới sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam
EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam Nếu như năm 2006 (trước khi Việt Nam gia nhập WTO), tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU chỉ đạt khoảng 10,22 tỷ USD thì năm 2011, con số này đã đạt 24,92 tỷ USD, tăng 144% so năm 2006 EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam Tính đến hết năm 2011, EU hiện có 1687 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 32,85 tỷ USD, thực hiện 13,07 tỷ USD Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tập trung nhiều nhất vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, các ngành dịch vụ
Ngày 26/06/2012, Việt Nam và EU chính thức khởi động vòng đàm phán “Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA)” Vòng đàm phán chính thức đầu tiên diễn ra vào tháng 10/2012 và dự kiến sẽ có 4 vòng đàm phán diễn ra từ này cho tới năm 2013 và đàm phán mong đợi được kết thúc vào năm 2014 Đối với VN, việc ký kết FTA với EU sẽ giúp các DN tiếp cận sâu hơn vào thị trường EU, ngoài ra hàng hóa từ EU cũng dễ dàng đến tay người tiêu dùng VN với giá rẻ hơn VN đồng thời cũng sẽ buộc phải tiến gần hơn đến tiêu chuẩn quốc tế
về các vấn đề pháp lý
2.1.4 Tình hình thương mại giữa Việt Nam và EU :
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan vừa công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm 2012 giữa Việt Nam và EU đạt khoảng 29,09 tỷ USD, tăng 19,77% so với năm 2011 Trong năm 2012, EU đã vượt qua Mỹ trở thành đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 20,31 tỷ USD, tăng 22,71%; giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ EU đạt 8,79 tỷ USD, tăng 13,48%
Trang 18Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang EU trong năm 2012 bao gồm: giày dép đạt khoảng 1,6 tỷ USD, dệt may đạt 2,4 tỷ USD, điện thoại và linh kiện đạt 5,3 tỷ USD, cà phê đạt 1,3 tỷ USD, hải sản đạt 1,25 tỷ USD, máy vi tính và linh kiện đạt 1,6 tỷ USD, gỗ và các sản phẩm từ gỗ đạt 698 triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu của An Giang qua thị trường EU chủ yếu là mặt hàng thủy sản chiếm 21% sau thị trường Chây Mỹ và Châu Á
Trong giai đoạn kinh tế thế giới đang gặp khó khăn, một số nước thành viên EU đang phải đối diện với khủng hoảng nợ công, việc kim ngạch hai chiều tiếp tục tăng trưởng và hai Bên chính thức tiến hành đàm phán Hiệp định Thương mại tự do là các tín hiệu tích cực, cho thấy sự hợp tác giữa EU và Việt Nam đang ngày càng phát triển
Bảng 3 : Tình hình kim ngạch Xuất khẩu -Nhập khẩu của Việt Nam – EU từ 2008-2012
Đơn vị tính: Triệu USD
Trang 19Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Nhìn chung tốc độ gia tăng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU cao hơn mức
độ gia tăng nhập khẩu vào Việt Nam nên gia tăng mức độ xuất siêu của thị trường này.Nhìn chung, mức độ xuất siêu của Việt Nam vào thị trường EU cũng có xu hướng tăng
Qua bảng biểu, ta thấy hầu hết với các quốc gia có trao đổi thương mại trong khối EU, Việt Nam đều có cán cân thương mại dương,trừ các quốc gia như Hung-ga-ry, Bun-ga-ry,Ai-LE,Phần Lan- nhập siêu trong cả ba năm Tuy nhiên tỉ lệ nhập siêu từ các nước này không lớn
2.2 Phân tích thị trường EU
2.2.1 Cung cầu thị trường
Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) vẫn cao, EU là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kết thúc năm 2012, kim ngạch xuất khẩu ước đạt
20 tỷ USD tăng 21,3% so với năm 2011 Tốc độ tăng trưởng nhanh , đạt 21,4% năm 2010, và 45% năm 2011 Trong năm 2011, kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực của các doanh nghiệp Việt Nam sang châu Âu như: Dệt may, giày dép, cà phê, thủy sản, hạt tiêu, hạt điều, đồ gỗ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao, khoảng hơn 25% so với năm 2010
Hiện nay, với tình trạng khủng hoảng kinh tế vẫn chưa có xu hướng hồi phục thì người dân ở các nước châu Âu có xu hướng sử dụng các mặt hàng có giá cả hợp lý Bên cạnh đó, hàng hóa Việt Nam có giá phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng ở mức thu nhập trung bình khá Hình 2.1 kim ngạch Xuất khẩu -Nhập khẩu của Việt Nam – EU từ 2008-2012
Trang 20trở lên, chất lượng sản phẩm ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu chuẩn kĩ thuật Việc gặp nhau giữa cung và cầu tạo nên một thị trường rộng mở và có đầy tiềm năng cho Việt Nam
và EU
2.2.2 Luật chống bán phá giá
Luật chống bán phá giá EU áp dụng cho tất cả các nước không phải là thành viên EU nhưng riêng các nước bị coi là chưa có nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quá trình chuyển đổi, EU áp dụng các điều khoản đặc biệt được quy định trong các hiệp định EU đã ký kết với các nước thứ ba
Luật chống bán phá giá của EU được hình thành trên cơ sở xem biện pháp chống bán phá giá là biện pháp phòng vệ thương mại nhằm đối phó với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào EU với giá thấp hơn giá thông thường (tức là giá bán hàng hóa tương tự như ở thị trường nước xuất khẩu) Khi nhận thấy sản phẩm nhập khẩu vào thị trưởng EU gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của EU thì Cơ quan có thẩm quyền của EU có thể quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (dưới hình thức thuế chống bán phá giá – một loại thuế bổ sung ngoài thuế nhập khẩu thông thường)
Sau đây là tóm tắt một số nét chính trong “Pháp luật chống bán phá giá của Cộng đồng Châu Âu”
Xác định việc bán phá giá: EU căn cứ vào 4 điều kiện sau để xác định việc chống bán phá giá: (i) mặt hàng đó đang bị bán phá giá (giá bán thấp hơn giá thương mại thông thường); (ii) ngành công nghiệp sản xuất mặt hàng đó đang bị đe dọa hoặc đang bị tổn thương vật chất; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu đó và tổn thương vật chất của ngành công nghiệp của EU; và (iv) việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá là vì lợi ích của Liên minh
EU
Chủ thể yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá: Có thể là một thể nhân, một pháp nhân, một hiệp hội hoặc một liên đoàn đại diện cho tối thiểu 25% tổng sản lượng mặt hàng đó tại các nước EU
2.2.3 Rào cản thương mại
Trang 21Xuất khẩu hàng hóa vào Liên minh châu Âu (EU) trong những năm tới sẽ gặp nhiều khó khăn do những rào cản phi thuế quan như an toàn thực phẩm, các vấn đề xã hội mà thị trường này đặt ra
Hiện Việt Nam đang được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU, với mức thuế giảm trung bình 3,5 điểm phần trăm, tỷ trọng mặt hàng đang được hưởng GSP vào khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, thách thức mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu vào thị trường này là những rào cản phi thuế quan như an toàn thực phẩm, sức khỏe người tiêu dùng, môi trường đang được dựng lên ngày càng nhiều
Ngoài việc yêu cầu những mặt hàng gỗ phải thực hiện luật nghề rừng (FLEGT), hải sản phải theo quy định IUU thì phía EU cũng đưa ra những yêu cầu về kỹ thuật, vệ sinh và chất lượng sản phẩm rất cao nên không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được
EU có chế độ quản lý nhập khẩu chủ yếu dựa trên các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch không nhiều, nhưng lại sử dụng khá nhiều biện pháp phi quan thuế (rào cản kỹ thuật) Do vậy, hàng xuất khẩu của ta muốn vào được thị trường này thì phải vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU Rào cản kỹ thuật chính là qui chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU, được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phẩm: chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động
Đối với tiêu chuẩn chất lượng: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các nước đang phát triển Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển Châu Á và Việt Nam, hàng của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000 thâm nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn nhiều so với hàng hoá của các doanh nghiệp không có giấy chứng nhận này
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm: Các công ty chế biến thực phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ Về phương diện này, việc áp dụng hệ thống HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) là rất quan trọng và gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các xí nghiệp chế biến thủy hải sản của các nước đang phát triển muốn xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU
Trang 22Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quan trọng trong việc lưu thông hàng hoá trên thị trường EU Các sản phẩm có liên quan tới sức khoẻ của người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo qui định của EU Ví dụ: CE bắt buộc có ký mã hiệu đối với đồ chơi, thiết bị điện áp thấp, thiết bị y tế, nguyên vật liệu xây dựng,v.v
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (Good agricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng được phổ biến, chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trường tốt Ngoài ra, các công ty phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các bộ luật mang tính xã hội về đạo đức Tiêu chuẩn The Social Accountability
8000 sẽ càng trở nên quan trọng trong những năm tới
Đối với tiêu chuẩn về lao động: Uỷ ban Châu Âu (EC) đình chỉ hoạt động của các xí nghiệp sản xuất nội địa ngay khi phát hiện ra những xí nghiệp này sử dụng lao động cưỡng bức
và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà quá trình sản xuất sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như lao động tù nhân, lao động trẻ em đã được xác định trong các Hiệp ước Geneva ngày 25/9/1926 và 7/9/1956 và các Hiệp ước Lao động Quốc tế số 29 và 105
2.2.4 Tình hình cạnh tranh của một số mặt hàng chủ lực
Năm sản phẩm dẫn đầu xuất khẩu vào EU của Việt Nam gồm: giầy dép: 4,5 tỷ, dệt may: 2,3 tỷ, cà phê: 1,4 tỷ, thủy hải sản: 1,1 tỷ và đồ nội thất: 1 tỷ), chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu vào EU năm 2008 Cũng trong năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu diễn ra (65% năm 2009), vì thế xuất khẩu sang EU dễ phải hứng chịu những cú sốc đối với một số ngành công nghiệp như đã thấy khi xuất khẩu từ VN sang thị trường này giảm 15% năm 2009 (giầy dép: -20%, cà phê: -26%, đồ nội thất: -20%, dệt may giảm 10%)
Mức thuế quan trung bình EU áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Việt Năm trong năm
2009 khoảng 4,1% (giảm từ 4,5% năm 2005) Tuy nhiên, mức thuế quan bình quân gia quyền (có tính đến mức độ thương mại) lên tới 7%, có nghĩa là EU đang áp mức thuế tương đối cao hơn đối với các sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam (ví dụ dệt may: 11,7%, thủy sản: 10,8% và giầy dép: 12,4%) và mức thuế cao nhất (hơn 57%) Điều này cũng có nghĩa là việc cắt giảm thuế đối với hầu hết các sản phẩm trong khuôn khổ FTA sẽ mang lại những ích lợi
Trang 23quan trọng cho Việt Nam khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh tại thị trường EU Tuy nhiên, trong tất cả các danh mục kể trên ngoại trừ máy bay, có rất nhiều dòng thuế cao (từ 10% đối với dược phẩm đến 90% đối với ngành ô tô)
Trong những năm gần đây, chính sách của EU đối với Việt Nam dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn kém ưu đãi hơn chính sách dành cho các nước ACP (Africa, Caribbean, Pacific), các nước chậm phát triển, những quốc gia nhận GSP (ưu đãi thuế quan) với mức thuế 0% ở hầu hết các mặt hàng.Thậm chí, so với các nước khu vực ASEAN, EU vẫn dành nhiều
ưu đãi cho 5 nước phát triển nhất là Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines (những nước được EU công nhận là có nền kinh tế thị trường)
Vì vậy, thị trường EU sẽ khó còn là “miền đất hứa” đối với DN Việt Nam Năm 2011, Hội Dệt May Việt Nam, Hội Da giày Việt Nam, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, Phòng Thương mại châu Âu (Eurocham) tại Việt Nam cũng đã tiến hành nhiều cuộc họp bàn đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào EU
Dệt may
Năm 2012, thị trường EU có mức sụt giảm nghiêm trọng về doanh số bán lẻ, trong đó kim ngạch XK NK hàng dệt may vào thị trường này giảm khoảng 8% so với năm 2011 Tất cả các thị trường NK chính của EU đều có sự suy giảm so với năm trước
Kim ngạch XK hàng dệt may của Việt nam và EU trong năm 2012 cũng giảm 13,51%
so với năm 2011 Mặc dù vậy, trong những tháng cuối năm 2012, hoạt động XK dệt may của Việt Nam sang thị trường EU đã có dấu hiệu hồi phục
Dự báo trong năm 2013, đà suy giảm của kim ngạch XK dệt may Việt Nam vào EU sẽ chậm lại với mức giảm gần 3% so với năm 2012 Trong đó thị trường Đức vẫn là thị trường
XK lớn của Việt Nam trong khối EU Năm 2012 mặc dù tình hình khủng hoảng nợ công vẫn lan rộng nhưng kim ngạch XK dệt may của Việt Nam sang Đức vẫn tăng khoảng 8% so với với năm 2011
Thách thức lớn nhất khi doanh nghiệp dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU chính là sự cạnh tranh gay gắt với các đối thủ lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc Trung Quốc với những điểm mạnh và lợi thế như: khả năng chủ động được nguồn nguyên liệu, nhân công
Trang 24lao động dồi dào có trình độ cao và quan trọng là khả năng đáp ứng nhiều chủng loại hàng hóa… là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt nam hiện nay
Bên cạnh đó, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng gặp phải khó khăn khi các nhà nhập khẩu EU có xu hướng chuyển dần những đơn hàng từ Việt Nam (nhằm tránh mức thuế nhập khẩu 10%) sang các nước bạn hàng khác như Campuchia, Lào và Bangladesh do các nước này được hưởng tiêu chuẩn Tối huệ quốc (MFN) với mức thuế suất nhập khẩu 0% của EU
Giày dép
Xuất phát từ nội tại sản xuất nhiều năm qua, ngành da giày Việt Nam còn nhiều tồn tại chưa được khắc phục Dù là nước xuất khẩu lớn, nhưng các doanh nghiệp ngành da giầy Việt Nam chủ yếu sản xuất và xuất khẩu theo phương thức gia công, không chủ động được nguồn nguyên liệu, bị hạn chế về vốn và công nghệ Khoảng 60% nguyên vật liệu, hóa chất vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài Trong khi đó, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, đã xây dựng được ngành công nghiệp hỗ trợ như ngành sản xuất nguyên phụ liệu và các trung tâm phát triển mẫu mốt nằm cạnh các khu công nghiệp sản xuất giầy dép, rất thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu triển khai mẫu mã mới của khách hàng Với những thuận lợi đó, Trung Quốc hiện đang chiếm lĩnh thị phần thống trị tại các thị trường lớn như 83,5% tại Mỹ, hơn 64% tại EU Đây thực sự là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp ngành giầy Việt Nam
Bên cạnh đó, cạnh tranh về giá luôn diễn ra gay gắt giữa các nước sản xuất và xuất khẩu giầy trên thế giới mà điển hình là tại các nước Châu Á, nơi có tiềm năng lớn nhất về công nghiệp sản xuất giầy Trung Quốc xuất khẩu những sản phẩm có giá trị thấp được hưởng nhiều
ưu đãi từ các nước thành viên sau khi gia nhập WTO Hiện nay, dù Việt Nam đã là thành viên của WTO, ngành da giày Việt Nam vẫn chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan… do họ có ưu thế hơn về vốn, công nghệ, đặc biệt
là chủ động về nguồn nguyên liệu
Trang 25Liên tục trong những năm qua, nhóm hàng đồ gỗ xuất khẩu (XK) của Việt Nam luôn đứng trong nhóm hàng XK có tốc độ tăng trưởng cao nhất, với mức tăng trưởng trung bình trên 30% Năm 2006, kim ngạch XK của đồ gỗ Việt Nam đã xấp xỉ 2 tỷ USD, năm 2007 xuất khẩu được 2,4 tỷ USD, đến năm 2008 xuất khẩu 2,8 tỷ USD
Mặt hàng đồ gỗ XK đã có sự phát triển vượt bậc Hiện đồ gỗ đã trở thành mặt hàng XK chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản Sự phát triển này
đã đưa Việt Nam vượt Indonesia và Thái Lan trở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực và Trung Quốc
Trong năm 2012, xuất khẩu thủy sản sang các nước thuộc khối EU còn gặp nhiều khó khăn không chỉ do tác động của khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà còn do những rào cản phi thuế của các thị trường này Giá trị xuất khẩu sang khối thị trường này giảm mạnh, trong đó Đức giảm 26,4%, Hà Lan giảm 10,9%, Italy giảm 16,3% so với cùng kỳ năm 2011 các doanh nghiệp XK tôm đang phải đối phó với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước đối thủ như Thái Lan, Ấn Độ trên các thị trường tiêu thụ chính Giá xuất khẩu tôm Việt Nam hiện nay đang cao hơn 25-35% so với giá tôm các nước khác, trong khi đó giá thành sản xuất trong nước quá cao
Người tiêu dùng EU đang có xu hướng tiến tới các sản phẩm có tính bền vững và thân thiện với môi trường Do đó, sản phẩm thủy sản của Việt Nam muốn giữ vững vị thế trên thị trường EU nói riêng, quốc tế nói chung cần được định hướng theo mục tiêu phát triển, nâng cao chất lượng ngay từ khu vực sản xuất nguyên liệu, đó là quản lý khai thác kết hợp bảo vệ nguồn lợi, quản lý chất lượng môi trường nuôi thủy sản theo các tiêu chuẩn quốc tế, nhất là đối với hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là tôm và cá tra
Chương III : Tình hình Xuất nhập khẩu của Việt nam sang EU
Trang 263.1 Tình hình xuất khẩu chung của Việt Nam sang EU
Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu chiếm 69% GDP năm 2008 (64% năm 2009), trong
đó kim ngạch xuất khẩu sang EU chiếm 16% GDP (năm 2008) và chiếm khoảng 17% tổng xuất khẩu của Việt Nam (tỷ lệ này giữ ổn định kể từ năm 2005).Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Việt Nam luôn thặng dư thương mại so với EU trong giai đoạn 2008 đến tháng
11 năm 2012
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU liên tục tăng trong những năm qua Do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước EU năm 2009 đã giảm 14% so với năm 2008, xuống còn 9.38 tỷ USD Sau năm
2009, kim ngạch xuất khẩu sang EU đã tăng trở lại với 11.39 tỷ USD (năm 2010) và 16.55 tỷ USD (năm 2011), tương ứng với tốc độ tăng 21% và 45%
Trong năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 114,5 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước Nếu ngoại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu
năm ước tính đạt 52,9 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, EU là thị trường lớn thứ hai (sau Hoa Kỳ) với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,23 tỷ USD, tăng 22,4%
so với cùng kỳ năm trước