Hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Trang 1Lời mở đầu
Hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội pháttriển cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có ViệtNam, song các quốc gia này cũng đứng trước những khó khăn và thách thức
to lớn, trước hết đó là phải đối mặt với những vấn đề kinh tế xã hội của một
xã hội toàn cầu đầy biến động và có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt ViệtNam cũng không nằm ngoài sự cạnh tranh đó Trong công cuộc đổi mới củaViệt Nam những năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo đượcnhiều việc làm cho xã hội, nhưng nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng trởnên gay gắt hơn Trước tình hình đó, cùng với các giải pháp giải quyết việclàm trong nước là chính, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế xã hộicần được đẩy mạnh nhằm phát triển nguồn nhân lực, tạo thu nhập và nâng caotay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăngcường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước
Năm 2006, cả nước đưa được hơn 78.000 lao động đi làm việc ở nướcngoài, vượt chỉ tiêu đề ra, trong đó lớn nhất là Malaysia với 37.950 lao động,tiếp theo là Đài Loan (Trung Quốc) với 14.120 lao động Bộ LĐTB&XHcũng dự báo, năm 2007, thị trường xuất khẩu lao động tiếp tục phát triểnmạnh, mục tiêu đạt khoảng 80.000 lao động ra nước ngoài trong nămTổng sốlao động đang làm việc tại Malaysia có khoảng trên 100 nghìn người, thunhập bình quân của người lao động đạt 2 đến 3 triệu đồng/người/tháng, một
số ngành nghề có kỹ thuật đạt trên dưới 10 triệu đồng/người/tháng.Với ýnghĩa to lớn về mặt kinh tế cũng như để giải quyết việc làm cho người lao
động trong nước, em đã chọn đề tài nghiên cứu:”Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang malaysia thực trạng và giải pháp thúc đẩy”
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian và kiến thức có hạn nênbài viết này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu xót Em mong được
sự góp ý của cô để em có thể hoàn thiện bài viết này tốt hơn
Trang 2NỘI DUNG
I: Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động
1.1 Khái niệm và vai trò của xuất khẩu lao động
1.1.1 Khái niệm
Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà chúng ta có thể có các quan niệmkhác nhau về xuất khẩu lao động Cụ thể là:
Xét theo phương diện kinh tế :
Xuất khẩu lao động(XKLĐ) là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, hàng hoá xuất khẩu ở đây là sức lao động, người mua là các chủ thể nước ngoài.
Xét theo phương diện địa lý:
XKLĐ là hình thức di dân quốc tế, tức là lao động của quốc gia này di
chuyển vượt ra khỏi biên giới của quốc gia mình sang một quốc gia khác.
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu lao động
Giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nước và giảm thời gian lao động nhàn dỗi trong nông nghiệp Đối với các nước kém phát triển và đang phát triển thì vấn
đề thất nghiệp đang là một trong những khó khăn của các quốc gia này Ví dụ:
Để giải quyết công ăn việc làm cho một người lao động Việt Nam thì chínhphủ Việt Nam cần phaỉ bỏ ra trung bình khoảng 102.000USD để đầu tư xây
dựng chỗ làm( Tạp chí kinh tế phát triển số 27 năm 1998, Trường ĐH Kinh
Tế Quốc Dân, trang 20) Khi tạo được việc làm cho người lao động thì thu
nhập của họ cũng chỉ bằng hoặc thấp hơn so với lao động làm việc tại nướcngoài trong cùng ngành Nếu làm phép tính so sánh chúng ta có thể thấy việcxuất khẩu lao động sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các nước kém pháttriển và đang phát triển Hoạt động xuất khẩu lao động sẽ giúp cho người laođộng trong nước có việc làm mà chính phủ của các quốc gia này không phải
bỏ vốn đầu tư xây dựng chỗ làm mới cho lao động, giảm được gánh nặng chongân sách nhà nước Nhờ hoạt động xuất khẩu lao động mà tỉ lệ thất nghiệpcủa Việt Nam trong những năm gần đây liên tục giảm
Trang 3Tạo ra thu nhập cho người lao động Thu nhập là mục tiêu hàng đầu của
người lao động XKLĐ là điều tất yếu khi nền kinh tế toàn cầu phát triển Laođộng có xu hướng di chuyển từ nơi có thu nhập thấp đến nơi có thu nhập cao.Việc di chuyển này không những giúp cho lao động của các nước kém pháttriển và đang phát triển có được việc làm mà nó còn giúp cho người lao động
có thể tích luỹ được một lượng vốn Ví dụ như: khi XKLĐ sang Đài Loan, ítnhất một người lao động cũng có thể tích luỹ được hơn 6000USD/năm, ở HànQuốc khoảng 14.000USD/năm Với số tiền tích luỹ được như vậy thì XKLĐkhông chỉ giúp cho người lao động xoá đói giảm nghèo mà họ còn có thể trởthành những ông chủ khi họ về nước đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất
Tạo ra thu nhập cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Các tổ chức
và các doanh nghiệp hoạt động cung ứng lao động ra nước ngoài sẽ thu đượclợi ích từ việc đưa lao động ra làm việc tại nước ngoài theo qui định của nhànước Thông thường, khi hoàn thành dịch vụ của mình, tổ chức xuất khẩu laođộng nhận được một khoản phí dịch vụ(theo quy định của Việt Nam phí dịch
vụ không quá 12% tiền lương cơ bản của lao động và 18% thuyền viên) Phầnphí thu được từ hoạt động xuất khẩu lao động sẽ được sử dụng để chi trả chohoạt động của doang nghiệp và tiền lương cho cán bộ quản lý của doanhnghiệp
1.2 Các hình thức và phương thức xuất khẩu lao động
1.2.1 Hình thức
1.2.1.1 Xuất khẩu lao động di chuyển
Theo hình thức này thì người lao động được đưa ra nước ngoài làm việctrên cơ sở các hiệp định song phương, thông qua các doanh nghiệp xuất khẩulao động của Việt Nam ký hợp đồng cung ứng lao động cho các công ty tạinước ngoài, thông qua các doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu các công trìnhxây dựng tại nước ngoài
1.2.1.2 Xuất khẩu lao động tại chỗ
Trang 4Là hình thức các tổ chức cung ứng lao động của Việt Nam cung cấp laođộng cho các tổ chức kinh tế nước nước ngoài làm việc tại Việt Nam, baogồm: Các khu công nghiệp, các khu chế suất, các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, các tổ chức quốc tế làm việc tại Việt Nam
1.2.2 Phương thức
1.2.2.1 Người lao động tự tìm được việc làm ở nước ngoài
Theo phương thức này thì người lao động tự tìm được việc làm ở nướcngoài hoặc trong các tổ chức, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài ở trongnước thông qua các hợp đồng lao động giữa người tuyển dụng nước ngoài vớingười lao động Ngoài ra người lao động trong nước còn kết hôn với ngườinước ngoài sau đó ra nước ngoài định cư và làm việc
1.2.2.2 Thông qua các doanh nghiệp tổ chức xuất khẩu lao động
Theo phương thức này thì người lao động sẽ đi làm việc cho các tổchức cũng như cho các doanh nghiệp nước ngoài theo hợp đồng mà ngườicung ứng lao động đã ký với các tổ chức và các doanh nghiệp nước ngoài
1.3 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế
Tiền công của người lao động khi làm việc ở nước ngoài cũng tuân theoquy luật cung cầu của thị trường sức lao động nước ngoài Người lao độngluôn mong muốn có mức lương cao còn người sử dụng lao động thì luôn cốgắng giảm chi phí tiền công Do vậy, hoạt động xuất khẩu lao động đã giảiquyết được cả hai vấn đề này Những công việc mà người lao động ở cácnước đang phát triển không muốn làm do tiền công thấp hoặc do điều kiệnlàm việc quá khắc nghiệt thì lao động ở các nước kém phát triển và đang pháttriển lại sẵn sàng làm Sở dĩ có điều này vì: mức thù lao của cùng một côngviệc ở các nước phát triển có thấp so với thị trường đó thì vẫn cao hơn rấtnhiều so với các nước kém phát triển và đang phát triển Sự chênh lệch nàylàm cho người lao động ở các nước nghèo sẵn sàng làm những công việc màlao động ở các nước giàu không muốn làm Hoạt động xuất khẩu lao động sẽ
Trang 5giúp cho các nước XKLĐ thu được ngoại tệ từ những người lao động làmviệc ở nước ngoài khi họ gửi tiền về nước.
Xuất khẩu lao động là hoạt động mang tính chất xã hội
Xuất khẩu lao động và chuyên gia thực chất là xuất khẩu sức lao độngkhông tách rời khỏi người lao động Do vậy, mọi chính sách, pháp luật tronglĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với các chính sách xã hội: Phải đảmbảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động như cam kết tronghợp đồng lao động, cũng như đảm bảo các hoạt động công đoàn bảo vệ quyềnlợi cho người lao động
- Mặt khác, người lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn, dovậy cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họhoàn thành hợp đồng lao động nước ngoài trở về nước để họ có thể tiếp tụcdụng sức lao động của mình để tham gia vào quá trình sản xuất trong nướcnâng cao hiệu quả lao động Giúp đỡ người lao động kiếm tìm việc làm saukhi họ trở về nước, giảm thiểu thất nghiệp, tránh lãng phí về nguồn lao động
có tay nghề này
Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hoà giữa quản lý vĩ mô cuả nhà nước
và các tổ chức kinh tế làm nhiệm vụ cung ứng lao động.
Hoạt động XKLĐ được thực hiện trên cơ sở các hiệp định mà chính phủhai quốc gia đã ký kết với nhau Nguyên tắc của hoạt động XKLĐ là dựa trênhợp đồng cung ứng lao động và sử dụng lao động giữa doanh nghiệp cungứng lao động của quốc gia này với doanh nghiệp sử dụng lao động của quốcgia kia Vai trò của nhà nước trong hoạt động XKLĐ chỉ mang tính chấtnguyên tắc thông qua các hiệp định song phương đã ký Cơ quan đại diện chonhà nước để quản lý các hoạt động xuất khẩu lao động là các Bộ ngành, Điạphương và Ban quản lý lao động ở nước ngoài Sự quản lý của các cơ quannày chỉ mang tính chất vĩ mô, tức là chỉ thực hiện công việc giám sát chứkhông thực thi Do vậy, các doanh nghiệp thực hiện cung ứng lao động phải
tự tổ chức tuyển chọn lao động, đào tạo lao động và tìm đối tác ở nước ngoài
Trang 6để ký kết hợp đồng cung ứng lao động Các doanh nghiệp phải hoàn toàn chịutrách nhiệm trước pháp luật về hoạt động xuất khẩu lao động của mình.
Xuất khẩu lao động cũng diễn ra trong một môi trường cạnh tranh gay gắt.
Hoạt động XKLĐ cũng phải tuân theo quy luật cung cầu của thị trường sứclao động Hoạt động XKLĐ là một hoạt động mang lại lợi ích kinh tế cao Dovậy, các doanh nghiệp XKLĐ phải cạnh tranh nhau để giành lấy cho mìnhnhiều hợp đồng cung ứng lao động cho nước ngoài Sự cạnh tranh này khôngchỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với cácdoanh nghiệp của các nước khác Sự cạnh tranh này cũng giống như sự cạnhtranh của các loại hàng hoá khác đó là: sự cạnh tranh về giá(giá nhân công),
sự cạnh tranh về chất lượng(trình độ tay nghề) Ngoài ra hàng hoá sức laođộng còn có thể cạnh tranh ở yếu tố văn hoá, tính kỷ luật trong lao động Dohoạt động XKLĐ có tính cạnh tranh nên các doanh nghiệp XKLĐ phải đầu tưnhiều cho chương trình Maketing, đào tạo cán bộ quản lý
Xuất khẩu lao động là một hoạt động đầy biến đổi
Hoạt động XKLĐ phụ thuộc rất nhiều vào nước tiếp nhận lao động Chínhsách tiếp nhận lao động của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ là khác nhau Dovậy, để hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao thì các doanh nghiệp XKLĐphải nghiên cứu thị trường nước ngoài thật kỹ và có một chiến lược lâu dàitrong việc đào tạo nguồn lao động cũng như trong việc tuyển chọn lao động
Xuất khẩu lao động là hoạt động mang đầy rủi ro.
Khi lao động của quốc gia này sang làm việc tại quốc gia khác sẽ phải đốimặt với rất nhiều khó khăn như: sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hoá, phápluật Nhưng điều khó khăn lớn nhất vẫn là sự thiếu thông tin về môi trườnglàm việc tại nước ngoài Nhiều lao động khi đi làm việc tại nước ngoài đãphải về nước trước khi hết hợp đồng do doanh nghiệp bên nước ngoài bị phásản Một số lao động do không am hiểu về pháp luật của nước sở tại nên đã bị
bắt do vi phạm pháp luật Đây là những rủi ro rất hay gặp trong XKLĐ
Trang 7II Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Malaysia
đặc điểm xuất khẩu lao động của việt nam
Không kể thời kỳ quan hệ kinh tế mật thiết với các nước Đông Âu, xuất
khẩu lao động của VN tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang cácnước Đông Á, nhất là Ma-lai-xia, Đài Loan và Hàn Quốc Gần đây, thị trườngxuất khẩu lao động mở rộng sang Trung Đông, Tây Âu và Mỹ Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 70.000 lao động được đưa đi ra nước ngoài Hiện nay
có hơn 400.000 lao động VN làm việc tại 40 nước và lãnh thổ, trong đó riêng tại Malaysia có hơn 100.000 người, chíếm độ 10 % tổng số lao động nhập khẩu của nước nầy
Với hơn 80 triệu dân, trong đó có hơn 40 triệu lao động, nước ta đượcđánh giá là nước có nguồn lao động trẻ,có tính cần cù, thông minh, tiếp thunhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới.Tuy nhiênlao động qua đào tạo của nước ta vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về chấtlượng, cơ cấu trình độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo còn bất hợp lý
Đó chính là một trở ngại rất lớn khi chúng ta tham gia thị trường xuất khẩulao động
đặc điểm thị trường lao động Malaysia
Malaysia có diện tích khoảng 330.400 Km², dân số khoảng 24 triệu người,bao gồm 50% là người Mã Lai, khoảng 30% là người Hoa, 10% người ấn, cònlại là các dân tộc thiểu số khác GDP bình quân đầu người của Malaysiakhoảng 4.000 USD/năm Như vậy, so với Việt Nam thì Malaysia có diện tíchtương đương, dân số thì chỉ bằng khoảng 1/3 dân số Việt Nam nhưng GDPbình quân lại gấp 10 lần GDP bình quân của Việt Nam
Malaysia là nước có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài lớn, hiện cókhoảng gần 2 triệu người nước ngoài đang làm việc ở Malaysia.Ngay từnhững năm đầu của thập kỷ 70, Malaysia đã sử dụng lao động nước ngoài.Laođộng nước ngoài tập trung chủ yếu vùng Penusular đặc biệt ở vùng thành thị
Trang 8và các khu công nghiệp ở thung lũng Kelang, thủ đô Kuala Lumpur, trungtâm công nghiệp, thương mại và hành chính là mục tiêu chủ yếu của lao độngnhập cư Số lao động nước ngoài ở đây chiếm gần 70% tổng số lao động nướcngoài trên toàn lãnh thổ Malaysia Bang Sabah cũng vậy, ở một vài huyệntrong bang như bờ biển phía Đông, số lượng lao động nước ngoài vượt quá cả
số dân địa phương Riêng bang Sarawak, số lượng lao động nhập cư tươngđối thấp.Chính phủ Malaysia chỉ cho phép nhận lao động của các nước làInđônêsia, Thái Lan, Philippin, Bangladesh, Pakistan và Việt Nam Song laođộng của các quốc gia khác cũng được phép nhập cư trên cơ sở lựa chọn tuỳtheo yêu cầu của công việc
Hiện tại Malaysia đang phải đối phó với sự thiếu hụt lao động trong một sốlĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng trọt và xây dựng đặc biệt từsau chiến dịch truy lùng và bắt giữ lao động trái phép hồi tháng 8/2002 vàtháng 3/2005 đã buộc hàng trăm nghìn người, chủ yếu là từ Indonesia, phảichạy khỏi Malaysia để tránh bị bắt giữ, đánh đập và bị phạt
Để đối phó với tình hình này, Malaysia đã ra một số chính sách cởi mởhơn nhằm thu hút lao động nước ngoài, như cấp giấy phép tiếp nhận lao độngtrong ngày cho các chủ lao động thay vì phải chờ ít nhất vài tuần như trướcđây.Do đặc điểm của lao động Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông, trình
độ tay nghề thấp, lực lượng lao động khá dồi dào và được đánh giá là cần cùthông minh, giá thuê lao động rẻ nên việc thiếu hụt lao động của Malaysia sẽ
là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong thời gian tới So với một số thịtrường khác trong khu vực cũng như một số thị trường truyền thống của ViệtNam thì thị trường Malaysia là thị trường phù hợp với lao động Việt Nam hơncả
Để cân đối việc sử dụng lao động nước ngoài và lao động trong nước, Chínhphủ Malaysia đã điều chỉnh tăng mức lệ phí tuyển lao động đối với một sốlĩnh vực như lâm nghiệp, dịch vụ Riêng khu vực sản xuất công nghiệp, xâydựng vẫn giữ nguyên mức phí cũ.Nhưng việc điều chỉnh này không ảnh
Trang 9hưởng nhiều đến lao động Việt Nam, vì lệ phí tăng ở những lĩnh vực ViệtNam không khuyến khích đưa lao động đi làm việc Điểm khó duy nhất trong chính sách của Malaysia đối với lao động nướcngoài nói chung và Việt Nam nói riêng là việc bắt buộc phải có chứng chỉngoại ngữ (tiếng Anh hoặc tiếng Malaysia) do cơ quan chức năng củaMalaysia phối hợp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động đào tạo và cấp.
2.3 thực trạng lao động Việt Nam tại Malaysia
2.3.1 xuất khẩu lao động Việt Nam sang Malaysia giai đoạn 2002-2005
Kể từ đầu năm 2002 đến nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam và Malaysia
ký kết Bản ghi nhớ (MoU) về cung ứng lao động Việt Nam sang làm việc tạiMalaysia (01.12.2003), 82 doanh nghiệp Việt Nam được Bộ LĐ-TB-XH cấpphép đã xuất khẩu sang thị trường này gần 71.000 lao động Đây là một con
số kỷ lục khi so sánh với các thị trường lao động khác như Hàn Quốc, NhậtBản và điều đáng mừng là mặc dù mức thu nhập hàng tháng của lao độngViệt Nam tại đây thấp nhưng phần lớn họ đều có công ăn việc làm ổn định,đặc biệt là lao động trong khu vực nhà máy
năm 2002 Việt Nam mới chính thức đưa lao động sang làm việc tạiMalaysia trên cơ sở “bản thoả thuận hợp tác giữa hai chính phủ được ký năm2002”.Nếu đầu tháng 4 năm 2002 chúng ta mới chỉ đưa được 43 lao độngViệt Nam đầu tiên sang Malaysia cuối năm 2003 Việt Nam đã đưa được trên59.000 lao động,riêmg năm 2006 cả nước đưa được
37.950 lao động và chỉ tính 10 tháng đầu năm 2007 chúng ta đã đưa được đi
là 23.515 người sang thị trường này Lao động Việt Nam đã hoà nhập nhanhchóng vào cuộc sống và môi trường làm việc tại nước bạn Thu nhập hàngtháng tương đối ổn định, mỗi tháng có thể tiết kiệm được khoảng 140USD đểgửi về nước Nhiều người có mức thu nhập cao từ 250 - 350USD/tháng Mặc
dù thị trường Malaysia là một thị trường mới của Việt Nam song nó lại là mộtthị trường đầy tiềm năng Điều này được thể hiện trong bảng 2.1
Trang 10Bảng 2.1: Số lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang một số thị trường chính giai đoạn 1998 - 2005
Đơn v tính: Ngị tính: Người ườii
Năm
Nước 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Hết 6/2005
Tổng cộng Lào 455 833 7.900 5.072 4.143 5.632 6.791 4.200 35.062 Malaysia 7 1 51 0 19.965 40.000 15.889 12.361 88.274
Đài Loan 197 309 8.500 21.809 13.191 30.000 29.980 15.759 119.745 Hàn Quốc 1.500 4.513 6.940 5.484 1.190 4.326 5.959 3.275 33.187 Nhật Bản 1.896 1.811 1.355 1.798 2.202 2.400 2.840 1.769 16.071 Khác 8.048 14.363 6.640 1.725 5.052 2.642 5.875 5.636 27.570 Tổng
đã Xuất khẩu được 40.000 lao động sang thị trường này lớn gấp 2 lần năm
2002 Năm 2002, 2003, thị trường Malaysia là thị trường XKLĐ lớn nhất củaViệt Nam Sự gia tăng nhanh chóng này cho thấy Malaysia là một thị trườnglớn của Việt Nam Lao động Việt Nam dễ dàng thích nghi với môi trường làmviệc và xã hội tại Malaysia Lao động Việt Nam làm việc ở hầu hết trong cácngành của Malaysia Trong đó, lao động làm việc trong ngành xây dựng làlớn nhất Cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam làm việc tại Malaysiađược thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia giai đoạn 2002-2005
n v tính: Ng iĐơn vị tính: Người ị tính: Người ười
Trang 11Nghề
Năm
Sản xuất chế tạo
Điện tử Dệt may Xây dựng Khác Tổng
Bảng 2.2 cho thấy lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia chủ yếu tậptrung vào các ngành có trình độ tay nghề thấp(lao động phổ thông) Có thểnói đây là một trong những yếu tố giúp cho lao động Việt Nam dễ dàng thíchnghi tại thị trường Malaysia Bên cạnh những yếu tố về yêu cầu trình độ taynghề thấp thì phí xuất khẩu lao động sang Malaysia cũng khá thấp so với cácthị trường khác Để sang làm việc tại Malaysia thì mỗi người lao động phảiđóng phí bình quân khoảng 1.200USD Trong khi đó, để sang làm việc tại thịtrường Nhật Bản hoặc Hàn Quốc thì mỗi người lao động phải đóng một mứcphí khoảng 2.300USD Những đặc điểm này khá phù hợp với lao động ViệtNam vì lao động Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông từ nông thôn và đa
số là các hộ gia đình nghèo Đây là yếu tố thúc đẩy việc đưa lao động ViệtNam sang làm việc tại Malaysia Nhờ có những yếu tố thuận lợi này mà trongvòng 2 năm 2002, 2003 lao động Việt Nam được đưa sang làm việc tạiMalaysia liên tục tăng và Malaysia trở thành thị trường lớn thứ hai của ViệtNam sau Đài Loan
Sang đến năm 2003, nền kinh tế Malaysia có nhiều biến động nhưng lượnglao động của Việt Nam được đưa sang Malaysia vẫn liên tục tăng và duy trì ởmức cao(khoảng từ 3.000- 4.000 người/tháng) Trong năm 2003, Việt Nam đãđưa được 40.000 lao động sang làm việc tại Malaysia Đã vượt kế hoạch đã đề
ra là đưa được 30.000 lao động sang làm việc tại Malaysia năm 2003
Trang 12Nhưng đến năm 2004, do sự thay đổi về chính sách đầu tư cũng như sựbiến động về tình hình kinh tế nên Malaysia đã ngừng tiếp nhận lao độngtrong một số ngành nghề đặc biệt trong ngành xây dựng Sự thay đổi này đã
có tác động không nhỏ đối với Việt Nam Số lượng lao động Việt Nam sanglàm việc tại Malaysia vào năm 2004 đã giảm đáng kể Năm 2004 Việt Namchỉ đưa được 15.889 lao động sang làm việc tại Malaysia, không bằng mộtnửa năm 2003 và không đạt mức chỉ tiêu đã đề ra là 25.000 lao động sang thịtrường này Không chỉ có sự giảm sút về số lượng mà ngay cả những lao độngđang là việc tại Malaysia cũng gặp phải rất nhiều khó khăn Tình trạng laođộng bị đuổi việc, nợ lương, trừ lương diễn ra phổ biến Năm 2004 có thể coi
là một năm không thuận lợi đối với những người lao động làm việc trongngành xây dựng tại Malaysia Không chỉ có lao động Việt Nam mà cả laođộng của các quốc gia khác nữa Trong năm 2004, Việt Nam có khoảng 700lao động bị mất việc làm trong ngành xây dựng tại Malaysia Nguyên nhâncủa sự việc này có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.Nguyên nhân khách quan đó là: năm 2004, chính phủ Malaysia áp dụng chínhsách kinh tế mới cộng với giá thép và giá nguyên vật liệu tăng cao đã dẫn đếnnhiều công trường xây dựng lâm vào tình cảnh phá sản và buộc phải đóngcửa Chính phủ Malaysia đã chuyển hướng xây dựng từ các công trình lớnmang tính chiến lược sang xây dựng các công trình nhỏ Sự chuyển hướngnày đã khiến cho một số công trình ở nông thôn buộc phải đóng cửa Ngoàinhững nguyên nhân khách quan kể trên thì còn một số nguyên nhân chủ quan
từ phía người lao động và từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu lao động củaViệt Nam Lao động Việt Nam đã không cố gắng và không kiên trì, đặc biệtcòn tự phát đình công trái pháp luật dẫn đến tự đẩy mình từ thế đúng sang thếsai
Nhìn chung, trong giai đoạn 2002-2004, tình hình lao động của Việt Nam
ở Malaysia là khá ổn định Thu nhập của người lao động tuy không cao bằngthu nhập ở các thị trường khác nhưng bù lại đây là một thị trường dễ tính,