1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp

70 385 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý đấu thầu Thực trạng và Giải pháp
Tác giả Tác giả: Ts. Ngô Minh Hải
Trường học Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương
Chuyên ngành Quản lý dự án, Quản lý kinh tế, Quản lý đấu thầu
Thể loại Nghiên cứu chuyên sâu
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 465,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, đấu thầu là một lĩnh vực tương đối mới đối với Việt Nam, trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những lúng túng, thậm chí sai lầm gây thất thoát tài lực của Nhà nước, đòi hỏ

Trang 1

viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung −ơng

Quản lý đấu thầu

Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện

các dự án đầu t− và hoạt động mua sắm công tại Việt Nam

Tác giả: ts.ngô minh hải

hà nội - 2004

Trang 2

Lời nói đầu

Cơ chế kinh tế kinh tế thị trường xuất hiện cùng với công

cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam đã được trên 10 năm Nhờ đó

nền kinh tế Việt Nam đã thu được những thành tựu bước đầu

quan trọng, tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức độ tương đối

cao trong một thời gian dài Hoạt động đấu thầu mới được áp

dụng rộng rãi trong thời gian vài năm qua, nhưng đã đóng góp

một phần không nhỏ vào những thành tích này Tuy vậy, đấu

thầu là một lĩnh vực tương đối mới đối với Việt Nam, trong quá

trình thực hiện không tránh khỏi những lúng túng, thậm chí sai

lầm gây thất thoát tài lực của Nhà nước, đòi hỏi Nhà nước phải

có sự nghiên cứu, cập nhật, đổi mới phương thức phù hợp trong

quản lý và điều hành công tác đấu thầu nói chung

Đại hội đảng lần thứ IX đã thông qua một số văn kiện quan

trọng và đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong những

năm đầu của thiên niên kỷ mới, thực hiện “chiến lược đẩy mạnh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, xây

có những đổi mới cơ bản về chất, thay đổi phương thức điều hành nền kinh tế nhằm đáp ứng với những thách thức mới, thích ứng một cách linh hoạt những biến động của môi trường trong nước cũng như môi trường quốc tế

Đấu thầu là phạm trù kinh tế tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi Nhà nước phải nắm bắt và vận dụng có hiệu quả trong quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân Trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động đấu thầu là một mắt xích vô cùng quan trọng trong toàn bộ quá trình mua sắm của Chính phủ nói chung và trong việc thực hiện các

dự án đầu tư nói riêng Vì vậy, nghiên cứu hoàn thiện chính sách

về đấu thầu là việc làm hết sức cần thiết nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta

Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu với các hình thức khác nhau (đề tài, dự án) về việc khảo sát, đánh giá, xây dựng cơ chế chính sách về đấu thầu ở Việt Nam Đáng chú ý nhất là các dự án xây dựng Quy chế Đấu thầu và Pháp lệnh

Đấu thầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì (hiện đang thực hiện) Ngoài ra còn có một số luận án, chuyên đề nghiên cứu về công tác đấu thầu ở một số ngành và địa phương

Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện

và tổng thể với mục tiêu đánh giá một cách khách quan tình hình

Trang 3

thực hiện công tác đấu thầu trong thời gian qua để xây dựng một

chính sách tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ cho công tác này

Mục tiêu của đề tài này là nghiên cứu thực trạng công tác đấu

thầu ở Việt Nam hiện nay, cũng như kinh nghiệm đấu thầu của

một số tổ chức và quốc gia trên thế giới để từ đó đề xuất một số

giải pháp nhằm hoàn thiện một bước cơ chế quản lý đấu thầu

phục vụ cho quá trình hội nhập, đồng thời góp phần lành mạnh

hoá môi trường đầu tư, chống thất thoát vốn Nhà nước

Nội dung đề tài gồm 3 phần:

Phần 1 bao gồm những nội dung mang tính lý thuyết về công

tác đấu thầu và nội dung kinh tế của công tác đấu thầu như: Các

khái niệm, thuật ngữ liên quan đến công tác đấu thầu, phân loại

đấu thầu và vai trò quản lý nhà nước về đấu thầu của Chính phủ

Phần 2 mô tả thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam hiện

nay, những vướng mắc thường gặp, một số bài học kinh nghiệm

quốc tế, bao gồm các nội dung sau:

- Sự ra đời và hình thành hệ thống các văn bản quy phạm

pháp luật về đấu thầu ở Việt Nam hiện nay

- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đấu thầu, quy

trình đấu thầu chung

- Thực trạng hoạt động đấu thầu ở Việt Nam, kết quả và

những tồn tại thực tế

- Một số vấn đề phát sinh thường gặp trong công tác đấu

thầu Những vướng mắc cơ bản và phổ biến trong công tác đấu

thầu ở Việt Nam

- Kinh nghiệm quản lý đấu thầu ở một số tổ chức và quốc gia

- Cải cách bộ máy quản lý nhà nước về đấu thầu

- Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ điều hành trực tiếp công tác đấu thầu

Phần kết luận nhắc lại những nội dung hết sức cơ bản của đề tài, đó là:

- Tầm quan trọng của công tác đấu thầu trong nền kinh tế thị trường Những đóng góp của việc áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Những bài học thực tế trong công tác đấu thầu ở Việt Nam cũng như công tác quản lý đấu thầu ở một số tổ chức và quốc gia trên thế giới để từ đó đề xuất những biện pháp thiết thực cho công việc quản lý đấu thầu mua sắm công

Đề tài có sử dụng thông tin trong các báo cáo về công tác đấu thầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong các năm từ 1998 đến

2002 và bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Việt Hùng, Vụ trưởng Vụ Quản lý đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trang 4

Chương 1

Sự cần thiết khách quan của đấu thầu trong nền kinh tế

thị trường và Vai trò của chính phủ trong việc quản lý

nhà nước về đấu thầu

1.1 Một số khái niệm về đấu thầu và nội dung công tác

đấu thầu

1.1.1 Đấu thầu (trường hợp cung > cầu)

Trong nền kinh tế hàng hoá, hầu như không tồn tại sự độc

quyền cung cấp cho bất kỳ một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó

(trừ một vài loại hàng hoá đặc biệt dùng cho các dịch vụ công,

chẳng hạn như phòng thủ đất nước) Có nhiều nhà sản xuất, nhà

cung cấp cho cùng một loại hàng hoá và dịch vụ Trong cơ chế

kinh tế thị trường người tiêu dùng (bao gồm các nhà đầu tư - sau

đây gọi chung là người mua) luôn mong muốn có được hàng hoá

và dịch vụ tốt nhất với chi phí thấp nhất Vì vậy, mỗi khi có nhu

cầu mua sắm một hàng hoá hay dịch vụ nào đó, họ thường tổ

chức các cuộc đấu thầu để các nhà thầu (bao gồm các nhà cung

cấp hàng hoá và dịch vụ) cạnh tranh nhau về kỹ thuật, công

nghệ, chất lượng và giá cả Trong các cuộc đấu như vậy, nhà

thầu nào đưa ra được mẫu hàng hoá và dịch vụ phù hợp với yêu

cầu của người mua và với giá cả thấp nhất sẽ được người mua

chấp nhận trao hợp đồng Không phải lúc nào người mua cũng

yêu cầu chất lượng hàng hoá và dịch vụ tốt nhất Tuỳ theo nhu

cầu sử dụng, người mua sẽ đưa ra các thông tin cơ bản về yêu cầu chất lượng hàng hoá, điều kiện thanh toán và các yêu cầu khác của hợp đồng Nhà thầu căn cứ vào nội dung yêu cầu ghi trong đề nghị chào hàng để gửi hồ sơ dự thầu đến cho người mua Trong trường hợp có 2 hoặc nhiều đơn dự thầu đều có chất lượng chào hàng đáp ứng các yêu cầu của người mua, thì nhà thầu nào (trong số các chào hàng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng) có giá dự thầu thấp nhất sẽ được chọn trao hợp đồng Như vậy, đấu thầu là cuộc chơi do người mua tổ chức và người chơi là những nhà thầu Nếu có luật chơi tốt (công bằng và minh bạch)

sẽ thu hút được nhiều người chơi, làm cho tính cạnh tranh cao hơn Trong trường hợp đó, người mua sẽ có nhiều cơ hội chọn mua được hàng hoá và dịch vụ thoả mãn yêu cầu của mình với giá cả thấp nhất có thể

Tóm lại, Đấu thầu là phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh

tế thị trường Trong đó, người mua đóng vai trò tổ chức để các nhà thầu (những người bán) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng với chi phí thấp nhất Mục tiêu của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hoá hoặc dịch

vụ đó với giá cả đủ bù đắp các chi phí đầu vào đồng thời đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể

1.1.2 Đấu giá (trường hợp cung < cầu)

Ngược với đấu thầu, đấu giá là cuộc đấu do người bán đứng ra

tổ chức Có những loại hàng hoá ngoài giá trị về vật chất còn chứa đựng các giá trị tiềm tàng khác, nhiều khi không thể đo

đếm được, hoặc có những loại hàng hoá do có số lượng ít mà

Trang 5

nhu cầu của người mua lại lớn hơn nhiều Trong trường hợp này

người bán phải tổ chức cho những người có nhu cầu mua đấu giá

với nhau Tại thời điểm cuộc chơi có hiệu lực, người nào trả giá

cao nhất sẽ mua được hàng hoá đó

Như vậy, Đấu giá là phạm trù kinh tế tồn tại trong nền kinh

tế thị trường Trong đó, người bán đóng vai trò tổ chức để những

người mua cạnh tranh với nhau về giá một cách công khai tại

một thời điểm nhất định Người mua nào có giá đề nghị cao nhất

sẽ là người chiến thắng và giành được quyền mua hàng hoá đó

1.1.3 Nhà thầu (trong đấu thầu)

Tất cả các tổ chức, cá nhân khi tham gia đấu thầu để giành

quyền ký kết và thực hiện hợp đồng đầu tư, cung cấp hàng hoá

và dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ tư vấn, xây lắp ) cho bên mời

thầu hoặc chủ đầu tư đều gọi là nhà thầu Tuỳ theo tính chất của

nguồn vốn, người ta có thể quy định tư cách hợp lệ của nhà thầu

theo các chỉ tiêu cụ thể khác nhau Nhưng nhà thầu đều phải

đảm bảo đáp ứng các nguyên tắc tối thiểu có tính pháp lý Nhà

thầu có thể tham gia dự thầu độc lập hoặc liên danh với một

hoặc nhiều nhà thầu khác để liên danh dự thầu

Như vậy, Nhà thầu là các tổ chức kinh tế, cá nhân độc lập về

tài chính có năng lực pháp luật dân sự (nếu là tổ chức) hoặc

năng lực hành vi dân sự (nếu là cá nhân) để ký kết và thực hiện

hợp đồng theo các quy định của pháp luật

1.1.4 Bên mời thầu

Theo nghĩa thông thường, bên mời thầu là bên đứng ra tổ

chức đấu thầu Các chủ dự án, chủ đầu tư hoặc đại diện của họ tổ

chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện một phần hoặc toàn bộ dự án Bên mời thầu thường là chủ sở hữu vốn (nguồn để chi trả cho nhà thầu theo giá trị hợp đồng) và là một bên đứng ra

ký kết hợp đồng với nhà thầu Tuy nhiên, trong trường hợp đại diện của chủ dự án, chủ đầu tư đứng ra tổ chức đấu thầu, thì họ

có thể không phải là một bên đứng ra ký kết hợp đồng với nhà thầu Trong trường hợp đấu thầu để lựa chọn đối tác đầu tư, bên mời thầu chỉ đóng vai trò chủ dự án, khi đó nhà thầu trúng thầu

sẽ là chủ đầu tư

Như vậy, Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ dự án, chủ đầu tư đứng ra tổ chức đấu thầu 1.1.5 Hồ sơ mời thầu

Trước khi tổ chức đấu thầu, bên mời thầu phải tập hợp toàn

bộ các yêu cầu của gói thầu (về chất lượng, số lượng, kỹ thuật, các điều kiện hợp đồng, tài chính, thương mại ) thành một bộ tài liệu thống nhất và không thay đổi trong suốt quá trình đấu thầu để làm căn cứ cho nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu, đồng thời làm cơ sở để bên mời thầu đánh giá các hồ sơ dự thầu và

xem xét, quyết định nhà thầu trúng thầu Hồ sơ mời thầu là toàn

bộ tài liệu do bên mời thầu lập, bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu được dùng làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu

1.1.6 Hồ sơ dự thầu

Trên cơ sở nghiên cứu các yêu cầu của bên mời thầu nêu trong hồ sơ mời thầu, cũng như kết quả khảo sát thực địa và các thông tin liên quan khác, nhà thầu lập bộ hồ sơ dự thầu bao gồm

Trang 6

toàn bộ các tài liệu về kỹ thuật, tài chính, thương mại liên quan

đến gói thầu để nộp cho bên mời thầu trong thời gian có hiệu lực

(trước thời điểm đóng thầu) Nhà thầu có hồ sơ dự thầu hợp lệ,

đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu và có giá đánh giá thấp

nhất sẽ được xem xét, đề nghị trúng thầu

Hồ sơ dự thầu là các tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu

của hồ sơ mời thầu

1.1.7 Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu phổ biến được

áp dụng cho mọi lĩnh vực (lựa chọn đối tác, mua sắm hàng hoá,

chọn nhà thầu xây lắp, chọn nhà tư vấn và nhà cung cấp các dịch

vụ khác) Đây là hình thức tận dụng triệt để học thuyết bàn tay vô

hình trong cơ chế kinh tế thị trường Để cuộc cạnh tranh giữa các

nhà thầu được bình đẳng, công khai, minh bạch, bên mời thầu

phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng

về các điều kiện, thời gian tổ chức đấu thầu và tham dự thầu Tuỳ

theo tính chất và quy mô của gói thầu, việc thông báo phải được

thực hiện trước khi tổ chức đấu thầu một thời gian thích hợp đủ để

các nhà thầu tiếp nhận đủ thông tin và kịp xử lý các thông tin cần

thiết cho việc quyết định tham gia dự thầu

Đấu thầu rộng rãi là hình thức không hạn chế số lượng nhà

thầu tham gia

1.1.8 Đấu thầu hạn chế

Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ

cho phép một số lượng nhất định các nhà thầu tham dự thầu Đây

là hình thức được sử dụng khi cần tranh thủ thời gian đánh giá

hồ sơ dự thầu, bởi vì người ta đã biết chắc chắn rằng chỉ có một

số nhà thầu cụ thể có khả năng thực hiện gói thầu Vì vậy bên mời thầu chỉ mời các nhà thầu được coi là có đủ năng lực tham gia dự thầu Tuy nhiên, cần cân nhắc kỹ các trường hợp phải áp dụng hình thức này, vì rằng càng hạn chế số lượng nhà thầu tham gia, tính cạnh tranh càng giảm, làm cho tính hiệu quả của công tác đấu thầu sẽ giảm theo

Đấu thầu hạn chế là hình thức lựa chọn nhà thầu thông qua

sự cạnh tranh của một số nhà thầu nhất định được bên mời thầu cho phép tham dự thầu

1.1.9 Hiệu quả trong đấu thầu

Thực hiện đấu thầu nhằm tận dụng lợi thế của các quy luật kinh tế khách quan trong cơ chế kinh tế thị trường là việc làm

mà không một nhà đầu tư nào được phép bỏ qua Bởi vì, thông qua đấu thầu, chủ đầu tư sẽ có nhiều cơ hội hơn hết để chọn

được hàng hoá và dịch vụ đảm bảo chất lượng mong muốn với giá cả hợp lý nhất có thể Mặt khác, cũng thông qua đấu thầu mà các nhà thầu phải luôn tìm tòi, sáng tạo để không ngừng cải tiến quy trình, công nghệ sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh Như vậy, đấu thầu không những đem lại lợi ích kinh tế cho các bên tham gia, mà còn có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển,

đồng thời ngày càng hoàn thiện về pháp lý một sân chơi công bằng, bình đẳng cho các nhà thầu

Hiệu quả của đấu thầu là đem lại lợi ích kinh tế cho bên mời thầu, đồng thời không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho các nhà thầu trong sự hoàn thiện về pháp lý của các quy định trong đấu thầu

Trang 7

1.1.10 Nội dung của công tác đấu thầu

Công tác đấu thầu ở nước ta thực chất là hoạt động lựa chọn

nhà thầu (lựa chọn người bán) trong công việc mua sắm trên cơ sở

tuân theo 1 quy định chung Quy định mua sắm được ban hành

dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật theo các hình thức khác

nhau, có thể là hình thức kiểu như Nghị định do Chính phủ ban

hành như ở nước ta hoặc thông thường nhất là ban hành dưới hình

thức Luật Đấu thầu Trên cơ sở quy định pháp luật, người mua

(Bên mời thầu) tổ chức các cuộc lựa chọn người bán (là các nhà

thầu) phù hợp nhất đáp ứng các yêu cầu của mình, dưới sự giám

sát của các cơ quan có trách nhiệm liên quan và của công luận

Như vậy, nói một cách tổng quát, hoạt động đấu thầu (công

tác lựa chọn nhà thầu trong mua sắm công) được hình thành từ 4

thành tố sau:

1.1.10.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu

Một hệ thống văn bản hoàn chỉnh có thể sẽ bao gồm từ Luật,

Pháp lệnh, cho đến Nghị định hướng dẫn hoặc là một Bộ luật

thống nhất và các mẫu chuẩn về đấu thầu (bao gồm mẫu hồ sơ

mời thầu, mẫu hợp đồng ) Hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật về đấu thầu là cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động đấu

thầu, nó quy định các đối tượng phải áp dụng, quy định về quy

trình, thủ tục thực hiện quá trình lựa chọn nhà thầu Đồng thời

đây cũng là cơ sở để xử lý các sai phạm trong quá trình thực hiện

đấu thầu từ phía người mua đến các nhà thầu cũng như các cá

nhân và tổ chức liên quan Thông qua việc thực hiện theo các

quy định pháp luật về đấu thầu, các mục tiêu cơ bản của hoạt

động đấu thầu là sự cạnh tranh công bằng, công khai, minh bạch

và hiệu quả kinh tế sẽ có cơ hội cao nhất để đạt được

1.1.10.2 Đơn vị thực hiện mua sắm (Bên mời thầu) và các cơ quan liên quan của Chính phủ:

Các đơn vị thực hiện việc mua sắm là các đơn vị được Chính phủ giao cho trách nhiệm thực hiện công việc của Bên mời thầu trong việc sử dụng các nguồn tiền của Nhà nước sao cho đạt

được các yêu cầu đặt ra với chi phí thấp nhất Các đơn vị này là

đối tượng đầu tiên, trực tiếp cần thông hiểu và quán triệt các quy

định pháp luật về đấu thầu Họ cần phải có đủ năng lực và trách nhiệm trước công việc được giao Bởi vì các đơn vị này tham gia vào tất cả các khâu của quá trình đấu thầu, bắt đầu từ khi xây dựng kế hoạch đấu thầu mua sắm, xây dựng các yêu cầu trong

hồ sơ mời thầu (bao gồm cả tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu),

đánh giá hồ sơ dự thầu và trình duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu Tiếp đó, đơn vị thực hiện mua sắm còn có trách nhiệm thương thảo hoàn thiện hợp đồng với nhà thầu trúng thầu Sự thành công của một cuộc đấu thầu đứng về phía người mua là phụ thuộc vào chất lượng của đơn vị thực hiện mua sắm Tính khách quan (không thiên vị) của đơn vị này (nói đúng hơn là các thành viên của đơn vị mua sắm) cũng là 1 yếu tố cấu thành chất lượng của

đơn vị mua sắm

1.1.10.3 Các nhà thầu:

Nếu các đơn vị thực hiện mua sắm là đối tượng đầu tiên chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động đấu thầu thì các nhà thầu được coi là đối tượng quan trọng thứ 2 Thiếu sự tham gia của các nhà thầu thì sẽ không có các cuộc đấu thầu Sự cạnh

Trang 8

tranh của các nhà thầu trong các cuộc đấu thầu là yếu tố quan

trọng nhất mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể thực hiện mua

sắm, đồng thời là động lực phát triển của toàn xã hội Tuỳ từng

lĩnh vực mua sắm mà sự cạnh tranh của các nhà thầu có những

đặc điểm riêng

1.1.10.4 Cộng đồng xã hội:

Hoạt động đấu thầu không chỉ dành cho các đơn vị mua sắm

và các nhà thầu, mà bởi vì nó liên quan tới việc sử dụng các

nguồn tiền của Nhà nước, của toàn xã hội, nó lại phải tuân thủ

các quy định pháp luật về đấu thầu nên nó không thể tách rời sự

giám sát cuả cộng đồng xã hội

áp lực của cộng đồng xã hội có tác dụng làm cho các đối

tượng tham gia trong các hoạt động đấu thầu phải thực hiện theo

đúng những điều đã quy định Với hệ thống các phương tiện

thông tin đại chúng như: Các tờ báo của Trung ương, địa phương,

các tạp chí chuyên ngành, các chương trình phát thanh, truyền

hình luôn phản ảnh đầy đủ các thắc mắc, khiếu nại của công dân

trong hoạt động đấu thầu Điều đó có tác dụng rất lớn trong việc

hướng các công việc diễn ra trong quá trình đấu thầu được thể

hiện một cách rõ ràng, minh bạch và theo đúng quy định

Trong một số trường hợp, thực tế do công luận nêu ra chính là

cơ sở để hoàn thiện các quy định pháp luật về đấu thầu Vì vậy,

việc hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung, nâng cấp một quy định pháp

luật về đấu thầu luôn luôn là yêu cầu khách quan và chính đáng

1.2 Sự cần thiết khách quan của đấu thầu trong nền kinh

tế thị trường

Ngay từ năm 1776 Adam Smith đã nói rằng “bàn tay vô hình” sẽ xác định việc sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai

“Bàn tay vô hình” như Adam Smith nói chính là biểu thị đặc

điểm phương thức hoạt động của thị trường

Trên đất nước có nền kinh tế thị trường hoàn hảo, không có một cá nhân, tổ chức cụ thể nào quyết định được việc phải sản xuất bao nhiêu sản phẩm hàng hoá cụ thể nào đó, mà chính thị trường sẽ quyết định điều đó Chẳng hạn mặt hàng ô tô, hàng triệu cá nhân phát đi tín hiệu về ước muốn có một chiếc ô tô của

họ qua các cuộc viếng thăm các gian trưng bày và việc mua ô tô của họ sẽ bật đèn xanh cho các nhà sản xuất, những người thấy

được tiềm năng thu được lợi nhuận nhiều hơn Làm như vậy họ

sẽ tăng được sản lượng ô tô Nếu khách hàng không còn tiếp tục mua ô tô thì sẽ không có lợi nhuận nữa Các nhà sản xuất sẽ phản ứng bằng cách giảm sản lượng, sa thải công nhân và thậm chí sẽ đóng cửa xí nghiệp Mối liên hệ tương hỗ giữa khách hàng

và nhà sản xuất rút cục sẽ quyết định vấn đề sản xuất bao nhiêu

ô tô Nếu khách hàng yêu cầu thêm ô tô, hỗn hợp sản lượng sẽ gồm nhiều ô tô và ít hàng hoá khác hơn Nếu sản xuất ô tô giảm xuống, các công nhân sản xuất ô tô bị sa thải sẽ chuyển sang sản xuất hàng hoá và dịch vụ khác Tình huống đó sẽ thay đổi hỗn hợp sản lượng theo hướng ngược lại

Bàn tay vô hình của Adam Smith ngày nay được gọi là cơ chế thị trường Cơ chế thị trường không đòi hỏi bất kỳ một sự tiếp xúc trực tiếp nào giữa khách hàng và nhà sản xuất Sự tiếp xúc giữa họ là gián tiếp thông qua giá cả thị trường và việc bán hàng Bởi vì đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường là tín hiệu giá cả

Trang 9

Một khi bạn muốn gì và nếu bạn có thu nhập vừa đủ, bạn có thể

mua nó Nếu có đủ dân cư cùng hành động như vậy, tổng sản

phẩm bán ra sẽ tăng lên và có lẽ giá cả cũng tăng theo Các nhà

sản xuất khi nhận thấy việc mua bán và giá cả tăng lên, sẽ muốn

khai thác tiềm năng lợi nhuận này Để làm được điều này, họ sẽ

cố gắng giành được phần lớn hơn các nguồn lực sẵn có và sử

dụng chúng để sản xuất các hàng hoá mà xã hội mong muốn

Hoàn toàn không cần có sự tiếp xúc trực tiếp giữa khách hàng và

nhà sản xuất Việc bán hàng và giá cả thị trường sẽ phát tín hiệu

và định hướng cho thị trường, giống như một bàn tay vô hình

Cơ chế thị trường cũng giải quyết vấn đề sản xuất cho ai Thị

trường sẽ phân phối hiệu quả hàng hoá tới người chào giá cao

nhất Các cá nhân sẵn sàng và có năng lực trả tiền nhiều nhất cho

một hàng hoá sẽ có xu hướng tham gia vào một nền kinh tế thị

trường thuần nhất

Tính tối ưu của kết quả trên thị trường là một lý lẽ rất thuyết

phục cho việc thả nổi thị trường Thực chất học thuyết thả nổi thị

trường công nhận rằng các thị trường riêng rẽ không chỉ hoạt

động hiệu quả, mà còn giúp mỗi người có thể đạt được sự hài

lòng tối đa Trong khung cảnh này, sự can thiệp của Chính phủ

được xem như một sự đe doạ cho việc đạt được hỗn hợp sản

lượng đúng và những mục đích kinh tế khác Tính hiệu quả rõ

ràng của cơ chế thị trường trong việc phân phối số nguồn lực

hiếm hoi có vẻ phủ nhận sự can thiệp của Chính phủ Kể từ khi

Adam Smith phát triển khái niệm thả nổi thị trường (năm 1776),

học thuyết này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cách hoạt động của

nền kinh tế và đến những quyết định của Chính phủ

Cơ chế thị trường sẽ hoạt động tốt nhất trong hoàn cảnh khi

có sự co lại của lợi nhuận và giá cả Việc tồn tại lợi nhuận kinh

tế chỉ ra rằng người tiêu dùng đánh giá cao một sản phẩm nào đó

và sẽ sẵn lòng trả một giá tương đối cao để có thứ sản phẩm đó Giá và lợi nhuận cao gửi thông tin này đến các nhà doanh nghiệp háo lợi nhất và họ sẽ nhanh chóng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng Như vậy, lợi nhuận cao ở một ngành cụ thể chỉ ra rằng người tiêu dùng muốn có một sự thay đổi trong tỷ trọng sản lượng (nhiều thêm sản phẩm của ngành đó) Việc lợi nhuận co lại một cách tương đối chỉ ra rằng những nguồn lực đang được

bố trí lại để cho ra một tỷ trọng mong muốn Trong một thị trường cạnh tranh, người tiêu dùng sẽ được một số hàng hoá nhiều hơn với giá hạ hơn

Khi sức ép cạnh tranh lên giá cả đạt đỉnh điểm, sản phẩm

được làm ra với mức chi phí sản xuất thấp nhất, đó là một khía cạnh khác của hiệu quả kinh tế Điều này có thể được chứng minh thông qua quá trình chuyển từ cân bằng ngắn hạn sang cân bằng dài hạn Một khi cân bằng dài hạn được xác lập, xã hội sẽ nhận được nhiều nhất từ những nguồn lực (khan hiếm) sẵn có Với cân bằng dài hạn, tất cả các lợi nhuận kinh tế bị thủ tiêu

Điều đó không có nghĩa là các nhà sản xuất sẽ trắng tay Lý do thứ nhất là tình trạng lợi nhuận bằng không hiếm khi xảy ra bởi vì các sản phẩm mới được đưa vào thị trường một cách liên tiếp, nhu cầu người tiêu dùng thay đổi và các quy trình sản xuất hữu hiệu hơn được phát hiện Thực tế, quá trình cạnh tranh tạo ra một áp lực lớn cho việc đổi mới sản phẩm và công nghệ Trong thị trường cạnh tranh câu châm ngôn “trâu chậm uống nước đục” thật là xác

Trang 10

đáng Chẳng hạn, trong thị trường máy tính, những hãng đầu tiên

nhận biết và đáp ứng cái lợi tiềm năng của việc sản xuất máy tính

chính là những người kiếm được nhiều lợi nhuận nhất

Thứ tự các sự kiện thường xảy ra trong thị trường cạnh tranh

bao gồm:

- Giá cả và lợi nhuận cao đánh tín hiệu về nhu cầu có một sản

lượng lớn hơn từ phía người tiêu dùng

- Lợi nhuận kinh tế hấp dẫn thêm các nhà cung cấp

- Một cân bằng mới đạt được trong đó sản lượng của sản

phẩm có nhu cầu gia tăng và giá giảm đi Chi phí sản xuất trung

bình nằm tại điểm tối thiểu (hay gần đó), sản phẩm được sản

xuất và tiêu thụ nhiều hơn và lợi nhuận kinh tế tiến gần đến

không

- Trong suốt quá trình, các nhà sản xuất luôn phải đối phó với

áp lực của việc suy giảm lợi nhuận bằng cách giảm chi phí sản

xuất đổi mới sản phẩm và đổi mới công nghệ

Một điều cốt yếu cần lưu ý về quá trình cạnh tranh là mối đe

dọa tiềm tàng của việc mở rộng sản xuất của những hãng đã có

mặt và sự tham gia của các hãng mới làm cho các hãng trong thị

trường luôn phải cảnh giác Thậm chí những hãng thành đạt

cũng không thể tự mãn Để tiếp tục tham gia trò chơi, các hãng

cạnh tranh phải thường xuyên cải tiến công nghệ, sản phẩm và

giảm chi phí

Tuy nhiên, không thể để cho cơ chế thị trường ra mọi quyết

định Một trong những điều mà Karl Marx lưu ý là những người

giàu sẽ nắm phần lớn sản phẩm xã hội khi cơ chế thị trường xử

lý các vấn đề sản xuất cho ai Karl Marx cho rằng Chính phủ phải can thiệp để uốn nắn sự bất công này Bởi vì, trong khi bàn tay vô hình xây dựng lâu đài cho các triệu phú nhưng đã bỏ mặc hàng ngàn người vô gia cư Thị trường phân phối phần lớn các nguồn lực cho tiêu dùng hữu hình, trong khi lại bỏ qua các nhu cầu xã hội về cán bộ và vốn Marx cho rằng các nhà lập kế hoạch trung ương có thể sản xuất ra một hỗn hợp sản phẩm đáng mong muốn hơn

Như vậy, có thể nói bàn tay vô hình của Adam Smith và bàn tay hữu hình của cơ chế kế hoạch hoá tập trung là hai cách giải quyết kinh tế cơ bản khác nhau Không có quốc gia nào chỉ dựa hoàn toàn vào một cơ chế Thay vào đó, hầu hết các nền kinh tế

đều sử dụng một sự phối hợp giữa các tín hiệu thị trường và sự

điều tiết của Chính phủ để lựa chọn hiệu quả kinh tế Những thoả hiệp do đó được gọi là các nền kinh tế hỗn hợp

Có những sự khác biệt lớn trong những hỗn hợp cụ thể được lựa chọn Chẳng hạn Hoa Kỳ dựa vào các tín hiệu thị trường nhiều hơn so với Vương quốc Anh ở Nga, cơ chế thị trường mới chỉ thay thế được một phần cơ chế kế hoạch hoá tập trung Điều tiết tập trung vẫn còn bộc lộ rõ trong khi giải quyết các vấn đề sản xuất gì? Như thế nào? Và cho ai? Singapore là một nền kinh

tế thị trường đang lên, nhưng Chính phủ cũng điều tiết nhiều ứng

xử của người tiêu dùng (chẳng hạn như cấm kẹo cao su) ở Châu

Mỹ Latinh, các xí nghiệp Nhà nước vẫn kiểm soát những ngành công nghiệp then chốt ở nhiều quốc gia cho dù các thị trường tư nhân khá phát triển

Trang 11

Việc các nước trên thế giới không muốn dựa hẳn vào hoặc là

các tín hiệu thị trường hoặc là sự điều tiết của Chính phủ là do

nhận thức được cả hai loại cơ chế này đều tiềm ẩn sự thất bại bất

cứ lúc nào

Mục đích của mọi xã hội là đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu

nhất có thể, một lỗn hợp sản phẩm đáng mong muốn nhất và một

sự phân phối thu nhập công bằng Như chúng ta đã thấy, các tín

hiệu của thị trường có khả năng trả lời cơ bản câu hỏi này

Nhưng những câu trả lời này không thể là tối ưu nhất Nếu điều

đó sảy ra thì chúng ta nói rằng cơ chế thị trường đã thất bại nói

một cách cụ thể hơn thì sự thất bại của thị trường có nghĩa là bàn

tay vô hình đã không đạt được hiệu quả tối ưu Nếu thị trường

thất bại, chúng ta sẽ không thu được một hỗn hợp sản phẩm tối

ưu Vì sẽ có quá nhiều người thất nghiệp, không khí bị ô nhiễm,

hoặc phân phối thu nhập không công bằng

Chẳng hạn, trong một nền kinh tế theo định hướng thị trường,

các nhà sản xuất sẽ lựa chọn các phương pháp sản xuất dựa trên

cơ sở chi phí Song các quyết định sản xuất dựa vào chi phí có

thể dẫn một xí nghiệp tới việc làm môi trường ô nhiễm hơn là sử

dụng những phương thức sản xuất sạch nhưng lại tốn kém hơn

Hậu quả của ô nhiễm có thể xấu tới mức xã hội phải trả giá đắt

do sản xuất quá mức Trong trường hợp này chúng ta cần đến sự

can thiệp của Chính phủ để buộc phải có những giải pháp tốt hơn

cho các vấn đề sản xuất cái gì và như thế nào

Sự can thiệp của Chính phủ có thể dẫn chúng ta đến gần mục

tiêu kinh tế Như vậy thì sự hỗn hợp giữa tín các hiệu thị trường

và sự điều tiết của Chính phủ sẽ là một sự cải thiện so với một

nền kinh tế hướng thị trường thuần tuý Song sự can thiệp của Chính phủ cũng có thể thất bại Sự thất bại của Chính phủ xảy ra khi sự can thiệp của Chính phủ không cải thiện được hiệu quả thị trường hay thực tế còn làm cho nó xấu hơn Sự sụp đổ của hàng loạt quốc gia Đông Âu cho thấy sự điều tiết của Chính phủ có thể thất bại đến mức nào Nhưng sự thất bại của Chính phủ cũng xảy ra theo những cách ít ngoạn mục hơn Ví dụ, Chính phủ có thể can thiệp để buộc ngành công nghiệp phải làm sạch môi trường Song, sự điều tiết của Chính phủ có thể gây ra mức chi phí cao đến mức ngành công nghiệp ấy phải đóng cửa và sa thải công nhân Việc cắt giảm sản lượng ở mức nhất định có thể là thích hợp, nhưng cũng có khi là quá đáng Chính phủ cũng có thể yêu cầu sử dụng những công nghệ kiểm soát môi trường quá

đắt hoặc thậm chí đã lỗi thời Nếu thực tế có như vậy thì sẽ làm cho hiệu quả kinh tế tồi tệ hơn

Chính phủ còn có thể thất bại nếu nó gây trở ngại cho giải pháp của thị trường đối với vấn đề sản xuất cho ai? Nếu Chính phủ tăng thuế đối với tầng lớp giàu để trang trải phúc lợi cho người nghèo, thì cả người giàu lẫn người nghèo đều không nhận thấy mục đích làm việc để làm gì Trong trường hợp này, cố gắng giành cho mọi người một phần công bằng trong chiếc bánh

có thể làm giảm kích thước của chiếc bánh Nếu điều đó xảy ra, xã hội sẽ trở nên tồi tệ hơn

Chúng ta đều mong muốn không có bất kỳ thất bại nào trong

số này xảy ra, nhưng chúng vẫn có thể xảy ra Sự thách thức đối với xã hội là phải tối thiểu hoá những thất bại bằng cách lựa chọn sự cân bằng hợp lý giữa các tín hiệu thị trường và sự điều

Trang 12

tiết của Chính phủ Đây hoàn toàn không phải là công việc dễ

dàng Nó đòi hỏi chúng ta là phải tìm hiểu thị trường sẽ vận

động ra sao, cũng như đôi lúc tại sao nó lại bị trục trặc Chúng ta

cũng cần phải biết xem Chính phủ cần lựa chọn chính sách nào

và cần thực thi những chính sách ấy ra sao và khi nào

Theo lý thuyết về thị trường, hàng hoá tư nhân là hàng hoá

hay dịch vụ được tiêu thụ loại trừ khả năng tiêu thụ nó của người

khác Ví dụ như khi xem xét việc bạn ăn một món bánh, bạn sẽ

có sự thoả mãn với mùi vị và với cái dạ dày đã no hơn - đó là,

bạn đã có được một lợi ích cá nhân Chẳng có ai hưởng lợi gì từ

việc bạn thưởng thức món bánh đó; món bánh mà bạn mua ở thị

trường là để bạn ăn một mình; đó là hàng hoá tư nhân Với lô gíc

như vậy, hàng hoá công là hàng hoá và dịch vụ được một người

tiêu thụ không loại trừ việc tiêu thụ nó của người khác Nếu bạn

mua tàu ngầm nguyên tử để tuần tra Thái Bình Dương, không có

cách nào để bạn ngăn cản không cho các nước láng giềng được

hưởng sự bảo vệ do tàu ngầm nguyên tử của bạn tạo nên Hoặc

là, những kẻ ngăn chặn tàu ngầm là những kẻ tấn công, hoặc

không phải Trong trường hợp đầu cả bạn và các nước láng giềng

được sống mãi trong hạnh phúc Trong trường hợp sau tất cả đều

bị tan tành Như vậy, bạn và các nước láng giềng của bạn được

hưởng hoặc không được hưởng lợi ích bảo vệ của tàu ngầm

nguyên tử cùng nhau Việc sử dụng phòng thủ nguyên tử là hành

động chung không phụ thuộc vào việc ai thanh toán chúng Do

vậy quốc phòng được coi như hàng hoá công hay sản phẩm

công, trong chừng mực mà tiêu thụ hàng hoá công cộng bởi một

người không ngăn cản việc tiêu thụ cùng loại hàng hoá đó bởi

người khác

Bản chất chung của hàng hoá công cộng dẫn đến một hoàn cảnh khó xử thực sự Nếu nói cả tôi và bạn đều hưởng lợi từ việc phòng thủ hạt nhân, ai trong số chúng ta sẽ mua tàu ngầm nguyên tử? Tôi thích bạn mua nó, bằng cách ấy cung cấp cho tôi

sự bảo vệ mà không phải trả phí trực tiếp Do vậy tôi có thể bày

tỏ một sự không mong muốn có tàu ngầm nguyên tử, thầm hy vọng có được cuộc chơi miễn phí (free ride) trên việc mua sắm ở thị trường của bạn Nhưng thật không may mắn là bạn cũng có một động cơ để che dấu mong muốn của bạn trong việc phòng thủ quốc gia Kết quả là chẳng có ai trong chúng ta đứng ra để mua tàu ngầm nguyên tử trên thị trường

Sự khác nhau giữa hàng hoá công và hàng hoá tư dựa trên sự xem xét về kỹ thuật, chứ không phải là triết lý chính trị câu hỏi cơ bản là liệu chúng ta có đủ khả năng kỹ thuật để loại trừ những người không trả tiền hay không Trong trường hợp quốc phòng hoặc ngăn lũ, chúng ta đơn giản là không có khả năng đó

Để liệt kê các hàng hoá công chúng ta có thể cộng thêm việc thực thi công lý, các quy định về buôn bán, và xử lý các quan hệ

đối ngoại Các dịch vụ này có giá trị nhiều tỷ đô la và sử dụng hàng ngàn lao động - cung cấp lợi ích cho tất cả mọi người, không kể đến việc ai sẽ thanh toán Trong mọi trường hợp việc loại trừ những người không thanh toán cho các dịch vụ được hưởng là không thể

Những cuộc chơi miễn phí gắn với hàng hoá công làm đảo lộn thực tiễn theo thông lệ của việc thanh toán cái mà bạn mua Vì mắt xích thường gặp giữa thanh toán và tiêu dùng bị phá vỡ, hàng hoá công không thể được bán ra trên thị trường Người ta

Trang 13

miễn cưỡng mua thứ gì có thể tự do có được Đó là một phản ứng

hoàn toàn chừng mực cho một người tiêu dùng có mức thu nhập

được sử dụng có hạn Do vậy, hàng hoá công được mua như

hàng hoá tư, mọi người sẽ chờ ai đó trả tiền Kết cục có thể là sự

thiếu hụt hoàn toàn các dịch vụ công Đây là hoàn cảnh khó sử

mà Robert Heibroner bận tâm khi ông nói về “cái tai điếc” của

thị trường

Khái niệm hàng hoá công ở đây chỉ liên quan tới hàng hoá và

dịch vụ được tiêu thụ chung, bởi cả những người thanh toán và

không thanh toán cho nó Hàng hoá công có thể được sản xuất

bởi khu vực Nhà nước hay tư nhân Hàng hoá tư cũng có thể

được cả hai khu vực trên sản xuất Vấn đề là thị trường có xu

hướng sản xuất quá ít hàng hoá công và sản xuất quá nhiều hàng

hoá tư Nếu muốn nhiều hàng hoá công hơn, chúng ta cần tới

một áp lực phi thị trường - can thiệp của Chính phủ - để đạt được

điều đó Chính phủ sẽ phải bắt mọi người đóng thuế, rồi dùng

doanh thu thuế để chi cho sản xuất quốc phòng, khống chế lũ lụt

và các hàng hoá công khác

Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc chi

tiêu giành cho khu vực công là rất lớn (chẳng hạn như chi cho

xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, sản xuất quốc phòng, khống chế

lũ lụt ) Để trang trải cho các khoản chi nói trên, ngoài việc sử

dụng nguồn vốn từ thu ngân sách trong nước, Nhà nước còn phải

tận dụng từ các nguồn vốn khác như nguồn ODA (hỗ trợ phát

triển chính thức), FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài)

Như đã phân tích ở trên, một trong những mục tiêu quan

trọng nhất của mọi quốc gia (đặc biệt là đối với các nước nghèo)

là phải tận dụng mọi nguồn lực, chi tiêu một cách có hiệu quả, công bằng và minh bạch nhất Trong nền kinh tế thị trường, áp lực về thiếu việc làm luôn là bài toán nan giải đối với Chính phủ của tất cả các nước Việc tham gia tìm kiếm việc làm, phân chia công việc một cách công bằng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp cạnh tranh, tự đào thải và phát triển luôn được coi là quốc sách đối với các quốc gia đang phát triển Đặc biệt, vấn đề tự hoàn thiện để chủ động hội nhập cũng là bước đi hết sức cơ bản trong quá trình cải cách và phát triển kinh tế đất nước

Để giải quyết các mục tiêu nói trên, ngoài việc cần tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp và mọi chủ thể tham gia thị trường, những người quản lý và điều hành nền kinh tế đất nước cần phải nhận thức, nắm bắt được các quy luật kinh tế khách quan, kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố kinh tế thị trường với sự can thiệp có chủ đích của Chính phủ để chi tiêu một cách

có hiệu quả nhất trong trong tất cả các hoạt động mua sắm (đặc biệt là mua sắm công) Điều đó đồng nghĩa với việc đưa hoạt

động đấu thầu đi vào nề nếp theo một khuôn khổ pháp lý phù hợp với trình độ phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời không

trái với các quy định về đấu thầu của quốc tế

1.3 Phân loại đấu thầu

Để đạt được mục tiêu của công tác đấu thầu là tạo ra sự cạnh tranh công bằng, minh bạch và đạt hiệu quả kinh tế, trên cơ sở

đặc thù về hàng hoá và dịch vụ cần mua, hoạt động đấu thầu (công tác lựa chọn nhà thầu) được chia thành 3 lĩnh vực Mỗi lĩnh vực có quy trình tổ chức đấu thầu riêng phù hợp với đối tượng hàng hoá hoặc dịch vụ cần mua đó

Trang 14

1.3.1 Đấu thầu tuyển chọn tư vấn

ở các nước đang phát triển, nhu cầu về đầu tư xây dựng mới

các công trình hạ tầng cơ sở hoặc nhà xưởng, máy móc phục vụ

sản xuất thường rất lớn Để thực hiện tốt quá trình đầu tư từ bước

xác định dự án, chuẩn bị báo cáo tiền khả thi, báo cáo nghiên

cứu khả thi đến tổ chức thực hiện, giám sát quá trình xây dựng

cần có đội ngũ chuyên gia lành nghề, có kinh nghiệm và đã có

điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến và khoa học hiện đại

trên thế giới để thực hiện các dịch vụ tư vấn phục vụ cho quá

trình này Vì vậy, trong quá trình đầu tư nhà tài trợ thường yêu

cầu chủ đầu tư tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn để thực hiện

các dịch vụ khảo sát, thiết kế, lập hồ sơ mời thầu, tiêu chuẩn

đánh giá hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám sát quá

trình xây dựng đáp ứng các yêu cầu của dự án Do đối tượng lựa

chọn để mua ở đây là các dịch vụ tư vấn của chuyên gia, nên quy

trình đấu thầu không thể giống với việc mua sắm hàng hoá hay

dịch vụ xây lắp

Trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, các nhà thầu (nhà tư vấn)

cạnh tranh nhau thông qua việc cung cấp các chuyên gia có

nhiều kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn với một mục tiêu để

thực hiện tốt nhất, chất lượng nhất các yêu cầu của bên mua

Trách nhiệm đối với công việc gắn liền với uy tín của nhà tư vấn

đã làm cho các nhà tư vấn khi tham gia dự thầu thường không

phải nộp bảo lãnh dự thầu như đối với các lĩnh vực mua sắm

khác Bên cạnh đó, tính độc lập, khách quan, trung thực, kiên

quyết luôn là những yếu tố không thể thiếu đối với những nhà tư

vấn đích thực

1.3.2 Đấu thầu mua sắm hàng hoá

Trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, các nhà thầu cạnh tranh nhau thông qua việc đảm bảo cung cấp hàng hoá có đủ chất lượng theo yêu cầu của cơ quan mua sắm nhưng với chi phí hợp

lý nhất cùng với các dịch vụ bảo hành, bảo trì, dịch vụ sau bán hàng thuận lợi đối với người mua Sự cạnh tranh trong cung cấp hàng hoá còn thể hiện ở chỗ nhà thầu đưa ra những hàng hoá (đặc biệt là thiết bị) với công nghệ mới, đem lại nhiều lợi thế trong sử dụng Cũng tương tự như trong cung cấp dịch vụ tư vấn, các nhà thầu cung cấp hàng hoá luôn cạnh tranh nhau bằng uy tín của mình

1.3.3 Đấu thầu xây lắp

Trong lĩnh vực xây lắp, các nhà thầu xây dựng luôn cạnh tranh nhau về giải pháp để thực hiện thiết kế nêu trong hồ sơ mời thầu sao cho đáp ứng yêu cầu về chất lượng với chi phí thấp nhất Giải pháp thực hiện của nhà thầu xây dựng gắn liền với kinh nghiệm đã đúc kết, gắn với việc áp dụng công nghệ mới và không bỏ qua các biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện thi công thực tế Trong đấu thầu xây lắp, giải pháp thực hiện luôn là yếu tố quan trọng để giành thắng lợi trong cuộc đấu thầu Tuy nhiên, trong một số trường hợp không yêu cầu kỹ thuật cao thì việc đưa ra các đơn giá cạnh tranh lại là cơ sở giúp các nhà thầu thắng thầu

Tuy tính chất cạnh tranh trong 3 lĩnh vực nêu trên khác nhau, song đều có chung mục đích là thoả mãn các yêu cầu của bên mua với chi phí thấp nhất Nhờ sự cạnh tranh giữa các nhà thầu, bên mua luôn có cơ hội tìm được một dịch vụ theo ý muốn với

Trang 15

chi phí hợp lý Mặt khác nhờ có sự cạnh tranh mà các nhà thầu

phải luôn luôn phải tự hoàn thiện mình để tồn tại và vươn lên

Như vậy, cạnh tranh chẳng những đem lại lợi ích cho người mua,

cho các nhà thầu, mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã hội Vì vậy,

nhiệm vụ đặt ra đối với Nhà nước là phải tạo ra môi trường và

thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu

1.4 Vai trò của Nhà nước trong quản lý đấu thầu

Trong đấu thầu thực hiện các công trình công cộng hoặc mua

sắm hàng hoá sử dụng vốn Nhà nước Vai trò của Nhà nước

trong việc tạo ra môi trường, khuôn khổ pháp lý và điều hành

các hoạt động đấu thầu là vô cùng quan trọng, biểu hiện cụ thể

trên các mặt sau đây:

1.4.1 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chính sách về đấu thầu

Theo nội dung công tác đấu thầu đã nêu, trong hoạt động đấu

thầu mua sắm công, Nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng

Sự tham gia chỉ đạo thực hiện chính sách về đấu thầu của Nhà

nước là yếu tố quan trọng và không thể thiếu của hoạt động đấu

thầu Nhờ đó mà công tác đấu thầu phát huy được vai trò, tác

dụng như một công cụ quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở

các nước phát triển (các nước có nền kinh tế thị trường lâu đời)

công việc đấu thầu đã trở thành công cụ không thể thiếu trong

các hoạt động mua sắm Mọi quy định về luật chơi (quy định về

đấu thầu) đều do bên mua định đoạt trên cơ sở phù hợp với các

quy định của pháp luật Vai trò của Nhà nước là bảo đảm cho

mọi hoạt động kinh tế - xã hội được ổn định, công bằng và đúng

pháp luật

Đối với các nước đang phát triển, Nhà nước ngoài việc ổn

định trật tự xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn có vai trò là bên mua trong quá trình xây dựng hạ tầng cơ sở và phát triển kinh tế đất nước

Với vai trò là bên mua, Nhà nước cần đặt ra các quy định về

đấu thầu nhằm đạt mục tiêu là mua sắm được các loại hàng hoá

và dịch vụ đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng, tiến độ với chi phí thấp nhất Song với vai trò quản lý toàn bộ nền kinh tế đất nước, Nhà nước coi các nhà thầu là các tế bào của mình để hoạch định các chính sách nhằm tạo điều kiện cho các nhà thầu phát triển, bằng cách tạo ra môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch

1.4.2 Soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

về đấu thầu

Là một trong 4 thành tố cơ bản của công tác đấu thầu, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý bảo đảm cho hoạt động đấu thầu được thực hiện theo một quy trình thống nhất, công bằng, minh bạch Với tư cách là bên mua, Nhà nước cần ban hành các chính sách mang tính quy phạm pháp luật về

đấu thầu như: Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đấu thầu nói riêng và toàn bộ quá trình lựa chọn nhà thầu nói chung Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu cần đảm bảo tính thống nhất, ổn định và phải phù hợp với các văn bản Luật khác có liên quan, đồng thời thể hiện được ý chí của Nhà nước là xây dựng một Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Với phương châm vừa làm vừa học hỏi, rút kinh nghiệm, Việt Nam

Trang 16

đã ban hành tương đối nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đấu

thầu Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức độ Nghị định Hy vọng

rằng, trong thời gian tới sẽ có một văn bản Luật về đấu thầu

hoàn chỉnh, ổn định, tính luật hoá cao hơn đáp ứng được yêu cầu

là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động về đấu thầu, đảm bảo được

mục tiêu tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng,

minh bạch và thoả mãn yêu cầu về hiệu quả kinh tế

1.4.3 Hướng dẫn thực hiện chính sách và các quy định về

đấu thầu

Như đã phân tích trên đây, để phát huy tính hiệu quả của công

tác đấu thầu trong nền kinh tế thị trường, cơ quan ban hành các

quy định về đấu thầu có trách nhiệm hướng dẫn những người

thực hiện, đảm bảo tính thống nhất trong toàn bộ phạm vi và đối

tượng áp dụng Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, việc

mua sắm công thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị

chi tiêu xã hội Chủ đầu tư (bên mua) thường do Nhà nước bổ

nhiệm hoặc giao trọng trách (họ được dùng tiền của Nhà nước để

chi tiêu cho các mục tiêu công cộng) Họ là những công chức ở

các ngành, các cấp khác nhau trong bộ máy công quyền Trình

độ và nhận thức của họ không giống nhau Vì vậy, Nhà nước

phải hướng dẫn, đồng thời yêu cầu họ thực hiện đúng các quy

định đã ban hành để bảo đảm đạt được các mục tiêu đã đặt ra

của công tác đấu thầu

1.4.4 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và

xử lý các vi phạm trong đấu thầu

Thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý

các vi phạm trong đấu thầu là một trong các chức năng quan

trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Đặc biệt trong các nghiệp vụ chi tiêu công cộng, việc kiểm tra, thanh tra để kịp thời uốn nắn những sai phạm, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong đấu thầu mua sắm công là việc làm không thể thiếu của tất cả các quốc gia Nhà nước cần tổ chức cơ quan chuyên trách, có đủ năng lực để đảm đương công việc thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm trong đấu thầu, đồng thời giải quyết các tranh chấp hay khiếu nại, tố cáo phát sinh trong

đấu thầu Để bảo đảm tính khách quan, cơ quan có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra cần có sự hoạt động độc lập tương đối với các cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu ở Việt Nam hoạt động thanh tra, kiểm tra vẫn chưa được tổ chức thành hệ thống riêng biệt Vì vậy, hoạt động của cơ quan này nhìn chung chưa đạt

được kết quả mong muốn Đặc biệt trong lĩnh vực đấu thầu, hoạt

động về thanh tra, kiểm tra hầu như chưa được đặt ra một cách

đúng mức, tương xứng với tầm quan trọng vốn có của công tác này Hy vọng trong tương lai, sau một số năm thực hiện đấu thầu, Nhà nước sẽ có sự quan tâm đúng mức để có được bộ máy hoàn thiện hơn về quản lý đấu thầu và xử lý các vi phạm trong

đấu thầu

Trang 17

Chương 2

Thực trạng công tác đấu thầu ở Việt Nam và kinh nghiệm

quốc tế trong quản lý đấu thầu

2.1 Cơ chế đấu thầu ở Việt Nam

2.1.1 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu

Giống như các nước mới chuyển sang quản lý kinh tế theo cơ

chế thị trường, trong tiến trình đổi mới và hội nhập, những năm

vừa qua, Việt Nam đã ban hành hàng loạt các chính sách mới về

quản lý kinh tế liên quan đến đầu tư nói chung và đấu thầu nói

riêng Các văn bản liên quan đến quản lý đấu thầu mới nhất như

sau (theo thứ tự thời gian):

Bảng 1: Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu

Số văn bản và ngày ban

hành

Cơ quan ban hành

Nội dung văn bản

Quyết định số 183/TTg

ngày 16/4/1994

Thủ tướng Chính phủ

Thành lập Hội đồng Xét thầu Quốc gia để tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ quyết định kết quả đấu thầu các

dự án đầu tư có giá trị 100 tỷ đồng trở lên (tương đương 10 triệu USD) Nghị định 43/CP ngày

16/7/1996

Chính phủ Quy chế Đấu thầu

Thông tư liên Bộ số 02/TTLB ngày 25/02/1997

Bộ KH&ĐT Hướng dẫn bổ sung một số nội

dung thực hiện Quy chế Đấu thầu

đối với các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài Nghị định 93/CP ngày

23/8/1997

Chính phủ Sửa đổi bổ sung một số Điều của

Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 43/CP ngày 16/7/1996 Nghị định 88/1999/NĐ-CP

ngày 01/9/1999

Chính phủ Quy chế Đấu thầu

Nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000

Chính phủ Sửa đổi bổ sung một số Điều của

Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999

Thông tư số BKH ngày 26/5/2000

04/2000/TT-Bộ KH&ĐT Hướng dẫn thực hiện Quy chế Đấu

thầu Quyết định số 1037/2000/

QĐ-BLĐTBXH ngày 09/10/2000

Bộ LĐTB&XH

Quy định tiền lương của chuyên gia và lao độngViệt Nam làm việc theo hợp đồng với các nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam Thông tư số 121/TT-BTC

ngày 29/12/2000 và Thông tư số 94/2001/TT-BTC ngày 22/11/2001 (bổ sung)

Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua

sắm đồ dùng, vật tư trang thiết bị, phương tiện làm việc đối với các cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang,

đoàn thể và doanh nghiệp Nhà nước sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước

Trang 18

Chính phủ Sửa đổi bổ sung một số Điều của

Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 và số 14/2000/NĐ-

CP ngày 05/5/2000

Năm 1990 cùng với sự thay đổi nền kinh tế kế hoạch tập

trung sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN, Việt

Nam đã ban hành Quy chế Đấu thầu riêng trong lĩnh vực xây

dựng Có ý kiến cho rằng đây là một biện pháp tình thế cần có

trong bối cảnh mà tình hình xây dựng nói chung lúc đó có nhiều

thất thoát do phân bổ công việc xây dựng chỉ đơn thuần theo

nguyên tắc chia đều Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng việc

ban hành Quy chế Đấu thầu trong xây dựng thực chất là một

bước đệm, bước thí điểm để tiến tới một quy định đầy đủ, hoàn

chỉnh hơn Dù thế nào chăng nữa, không ai có thể phủ nhận các

thành tựu thu được thông qua việc áp dụng theo Quy chế Đấu

thầu trong xây dựng ban hành năm 1990 Rõ ràng so với trước

đó, hình thức giao việc thông qua đấu thầu dù dưới dạng đơn

giản cũng đã tỏ ra ưu việt hơn Nhưng nền kinh tế tự nó biến

động và buộc phải thay đổi để đi lên Tổng số vốn đầu tư trong

xây dựng ngày một nhiều hơn, nguồn vốn ODA bắt đầu trở lại

Việt Nam, các lực lượng xây dựng bắt đầu tìm được các lợi thế

cho mình, mặt khác xã hội thấy chưa thể bằng lòng với quy định

hiện có mà thấy cần có những quy định đầy đủ, chặt chẽ, có hiệu

quả, có tính thuyết phục và tiếp cận dần với Thông lệ đấu thầu quốc tế Những yêu cầu này là khách quan và rõ nét dần theo thời gian dẫn đến khi Quy chế Đấu thầu trong xây dựng phải chuyển sang hình thức khác Đầu tiên người ta bổ sung để nội dung phong phú hơn, bao quát hơn về các đối tượng và hình thức lựa chọn nhà thầu Ngay cả thuật ngữ cũng được điều chỉnh cho phù hợp và thế là tháng 3 năm 1994 Quy chế Đấu thầu trong xây lắp ra đời Biến động của thực tiễn đòi hỏi đến một thời điểm nào đó phải có quy định mới thay cho quy định cũ Các quy định

về đấu thầu tiếp theo, như Quyết định 183/TTg (4/1994), QCĐT ban hành theo Nghị định 43/CP và Nghị định 93/CP (1996 và 1997), sau đó QCĐT ban hành theo Nghị định 88/CP (1999), Nghị định 14/CP (2000) và 66/CP (2003) đã là những giải pháp khắc phục những phát sinh trong thực tế nhằm làm cho các văn bản quy định của Nhà nước trở nên hữu hiệu hơn Chu kỳ 2-3 năm văn bản quy định về đấu thầu được thay đổi, điều chỉnh hoặc bổ sung đã xảy ra ở ta trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, những thay đổi này chỉ nhằm nâng cấp về nội dung của một loại hình văn bản pháp luật thông dụng nhất là Nghị định của Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế Đấu thầu Với loại hình này có những nội dung được thay đổi chỉ vài tháng sau khi ban hành một khi nó không được thực tế chấp thuận hoặc trở nên bất lợi

Điều này làm cho mỗi đối tượng tham gia các hoạt động đấu thầu không yên tâm và luôn luôn bị động đối với những thay đổi trong quy định Như vậy đòi hỏi của thực tế không chỉ là cần có những nội dung quy định phù hợp, mà rất cần sự ổn định trong thời gian càng dài càng tốt Như vậy, chỉ trong 10 năm thực hiện

đấu thầu gần đây, đã có 13 văn bản quy phạm pháp luật liên

Trang 19

quan trực tiếp đến đấu thầu được ban hành Trong đó có 5 Nghị

định của Chính phủ, 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 1

Thông tư liên Bộ, 5 Thông tư hướng dẫn và 1 Quyết định của Bộ

có liên quan Với hệ thống các văn bản nêu trên, quy định về đấu

thầu đã có xu hướng ngày càng trở nên rõ ràng, đơn giản, gần

với quy định của các tổ chức quốc tế và dễ thực hiện hơn Công

việc đấu thầu đã dần đi vào nề nếp và trở nên cần thiết đối với xã

hội, đồng thời là công cụ không thể thiếu góp phần thúc đẩy nền

kinh tế phát triển Tuy nhiên, trước áp lực của tiến trình hội

nhập, cơ chế thị trường ngày càng hoàn thiện, yêu cầu về tính

minh bạch và công bằng trong xã hội ngày càng đòi hỏi mức độ

cao hơn Vì vậy, chính sách về đấu thầu cũng cần được luật hoá

ở mức độ ngày càng cao, sát với thực tế hơn và hoàn thiện hơn

về nội dung Thực tế hoạt động đấu thầu ở nước ta những năm

vừa qua cho thấy tuy chính sách đấu thầu đã được chú trọng bổ

sung sửa đổi thường xuyên, song về cơ bản vẫn chưa đáp ứng

được mục tiêu của công tác đấu thầu nói chung Điều đó có thể

được giải thích bằng một số nguyên nhân như sau:

- Một là, cơ quan soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật về

đấu thầu đã quá chú trọng đến việc hướng dẫn về kỹ thuật đấu

thầu, phân cấp quản lý, cách thức trình duyệt, mà không chú ý

đến việc quy định các chế tài bắt buộc người thực hiện phải tuân

thủ theo các quy định;

- Hai là, quy định nhiều hình thức lựa chọn nhà thầu, nhưng

thiếu các điều kiện áp dụng của mỗi hình thức một cách chặt chẽ

về pháp lý, dẫn đến tình trạng người thực hiện áp dụng việc lựa

chọn một cách rất tuỳ tiện, mà vẫn không xử lý được;

- Ba là, quy định về đấu thầu có quan hệ chặt chẽ với các quy

định khác về quản lý kinh tế, nhưng giữa các quy định này lại thiếu tính đồng bộ, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên chẳng những gây khó khăn cho người thực hiện, mà còn tạo kẽ hở cho việc lợi dụng, đục khoét tiền của của Nhà nước của một số cá nhân trong bộ máy công quyền;

- Bốn là, bộ máy Nhà nước chuyên làm công tác quản lý các hoạt động về đấu thầu hiện tại chưa có tính chuyên nghiệp, thừa

về số lượng nhưng quá thiếu về chất lượng Song do hậu quả của

sự chậm chạp trong cải cách hành chính, nên tình trạng này sẽ còn kéo dài và chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được

Có lẽ do nhận thức được tầm quan trọng của công tác đấu thầu, nên ngay từ cuối thập niên 90 trong chương trình xây dựng Luật của Quốc hội, dự án xây dựng Pháp lệnh về đấu thầu đã

được giao cho Chính phủ soạn thảo Song cho đến nay, đã qua rất nhiều lần dự thảo, nội dung Pháp lệnh nói trên vẫn chưa được thông qua Trong khi đó, điều rất cần trong giai đoạn chuẩn bị và tiến tới hội nhập là phải có một văn bản luật chính thống và ổn

định về công tác đấu thầu Tuy nhiên với tình trạng làm Luật như hiện tại, hy vọng có được một Bộ luật hoàn chỉnh với các quy

định về đấu thầu thật rõ ràng, minh bạch phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường vẫn còn là một tương lai khá xa

Trong thực tế tình trạng vi phạm Quy chế Đấu thầu, gây thất thoát nghiêm trọng vẫn diễn ra thường xuyên và cho đến nay vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn Vì vậy, kết quả thanh tra các dự án đầu tư xây dựng trong cả nước năm 2002 cho thấy,

Trang 20

100% các dự án được thanh tra đều có vấn đề sai phạm gây thất

thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình thực hiện đấu thầu

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công tác quản lý

đấu thầu trong thời gian qua đã dần đi vào nề nếp và không

ngừng được nâng cao, đầu mối quản lý về công tác đấu thầu ở

hầu hết các Bộ, ngành là các Vụ, Ban kế hoạch và Đầu tư, ở địa

phương là các Sở Kế hoạch và Đầu tư Cơ quan quản lý Nhà

nước về đấu thầu thuộc ngành Kế hoạch và Đầu tư đã tham gia

vào việc thẩm định kế hoạch và kết quả lựa chọn nhà thầu, xử lý

các tình huống phát sinh trong quá trình đấu thầu Ngoài ra các

cơ quan này còn có trách nhiệm nghiên cứu, trình ban hành các

văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, hướng dẫn và đào tạo

đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu, theo dõi, kiểm tra tình

hình thực hiện công tác đấu thầu trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, dù công việc đấu thầu đã thực hiện trên 10 năm,

song những người làm công tác này hầu hết đều chưa qua đào

tạo bài bản Họ chủ yếu là những cán bộ được đào tạo để làm

công tác kế hoạch hoá trong nền kinh tế tập trung chỉ huy Vì

vậy, bộ máy quản lý về đấu thầu hiện nay thực sự là chưa có thể

đáp ứng về chuyên môn để vận hành nhằm phát huy hết vai trò

của công tác đấu thầu trong nền kinh tế thị trường

Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu có thể tóm

tắt theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu

Với cách thức tổ chức bộ máy quản lý đấu thầu như nêu trên,

có thể thấy rằng các cơ quan hành chính Nhà nước từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất đều tham gia quản lý đấu thầu Trong bối

chủ

đầu tư

là dNNN

các ban quản

lý dự

án

các chủ

đầu

tư là

dNNN

ubnd quận, huyện, thị x∙ (các phòng ql

đấu thầu)

các ban quản

lý dự

án

ubnd x∙ phường thị trấn (bộ phận

quản lý đấu thầu)

Trang 21

cảnh nền kinh tế mới chuyển đổi sang cơ chế thị trường, kinh

nghiệm quản lý, vận hành của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế chưa

nhiều Hơn nữa công việc mua sắm lại hoàn toàn sử dụng nguồn

vốn Nhà nước, mọi thiệt hại về kinh tế (nếu có) đều không ảnh

hưởng đến lợi ích cá nhân của những người tham gia vào quá trình

thực hiện mua sắm Vì vậy, để tổ chức được bộ máy quản lý đấu

thầu vừa hoàn thành tốt công việc mua sắm trong thời gian ngắn

nhất, lại đảm bảo có hiệu quả là điều cần phải tiếp tục nghiên cứu

và hoàn thiện dần trong thời gian tiếp theo

Thực tế công tác đấu thầu trong những năm qua cho thấy,

mặc dù các quy định về đầu tư và đấu thầu chưa mang tính luật

hoá cao, song cũng đã có tác dụng thúc đẩy quá trình lành mạnh

hoá các quan hệ kinh tế thông qua công tác đấu thầu Tuy nhiên,

việc thực hiện ở các cấp nhìn chung đều mang nặng tính hình

thức, hiện tượng vi phạm các quy định còn nhiều, gây thất thoát

lớn về vật chất của Nhà nước Đây là tồn tại rất cơ bản thuộc về

công tác tổ chức bộ máy Để mau chóng khắc phục tình trạng

này cần đẩy nhanh tốc độ cải cách hành chính nhà nước, đồng

thời với việc kiện toàn bộ máy quản lý và thực hiện đấu thầu với

chất lượng đáp ứng các yêu cầu chung Hy vọng rằng dưới sự

giám sát chặt chẽ của toàn dân, toàn xã hội và cơ quan thanh tra

độc lập với đầy đủ kiến thức và bản lĩnh xử lý các vi phạm trong

đấu thầu, trong tương lai không xa công tác đấu thầu sẽ thực sự

công bằng, bình đẳng, minh bạch và đem lại hiệu quả kinh tế

cho xã hội

Quy trình tổ chức đấu thầu được bên mời thầu thực hiện theo

trình tự như sau (sau khi đã có kế hoạch đấu thầu và đã xác định

quy mô, nội dung của từng gói thầu):

2.1.2.1 Sơ tuyển nhà thầu: Đối với những gói thầu có quy mô lớn hoặc có các yêu cầu về kỹ thuật phức tạp cần phải có bước sơ tuyển để lựa chọn các nhà thầu có đủ năng lực thực hiện vào tham gia đấu thầu Việc sơ tuyển bao gồm các bước như sau:

- Lập hồ sơ sơ tuyển bao gồm:

+ Thư mời sơ tuyển;

+ Chỉ dẫn sơ tuyển;

+ Tiêu chuẩn đánh giá sơ tuyển;

+ Các phụ lục kèm theo

- Thông báo mời sơ tuyển

- Nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển;

- Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển;

- Trình duyệt kết quả sơ tuyển;

- Thông báo kết quả sơ tuyển

2.1.2.2 Lập hồ sơ mời thầu, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

- Thư mời thầu

- Mẫu đơn dự thầu

- Chỉ dẫn đối với nhà thầu

- Các điều kiện ưu đãi (nếu có)

- Các loại thuế theo quy định của pháp luật

- Các yêu cầu về công nghệ, vật tư, thiết bị, hàng hoá, tính năng kỹ thuật và nguồn gốc, yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm

và địa vị hợp pháp của nhà thầu

2.1.2.3 Gửi thư mời thầu hoặc thông báo mời thầu;

2.1.2.4 Nhận và quản lý hồ sơ dự thầu;

Trang 22

2.1.2.5 Mở thầu: Phải thực hiện công khai với sự chứng kiến

của các nhà thầu Mọi thông tin cơ bản về gói thầu được nêu

trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu phải được công bố công

khai trong buổi mở thầu;

2.1.2.6 Đánh giá, xếp hạng nhà thầu: Việc đánh giá các hồ sơ

dự thầu phải theo đúng tiêu chuẩn đánh giá đã nêu trong hồ sơ

mời thầu Đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đánh giá theo

cách chấm điểm, nhà thầu được đề nghị trúng thầu là nhà thầu

có hồ sơ dự thầu đạt số điểm tổng hợp cao nhất Đối với đấu thầu

xây lắp và mua sắm hàng hoá, đánh giá, xếp hạng theo tiêu chí

giá đánh giá, nhà thầu được đề nghị trúng thầu là nhà thầu có hồ

sơ dự thầu đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của gói thầu và có giá

đánh giá thấp nhất

2.1.2.7 Trình duyệt kết quả đấu thầu: Việc trình kết quả đấu

thầu do chủ đầu tư hoặc chủ dự án thực hiện, việc phê duyệt kết

quả đấu thầu do người hoặc cấp có thẩm quyền (theo phân cấp)

thực hiện

2.1.2.8 Công bố trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng;

2.1.2.9 Trình duyệt nội dung hợp đồng (Người hoặc cấp có

thẩm quyền phê duyệt nội dung hợp đồng) và ký hợp đồng

Quá trình nêu trên nếu được thực hiện một cách nghiêm túc

với tinh thần trách nhiệm và bằng năng lực chuyên môn phù hợp

của mỗi cá nhân có liên quan, thì chắc chắn sẽ lựa chọn được

nhà thầu xứng đáng nhất với hiệu quả kinh tế cao

2.2 Thực trạng hoạt động đấu thầu ở Việt Nam

2.2.1 Kết quả của việc thực hiện đấu thầu theo đánh giá chung

Đấu thầu là công việc mới được thực hiện trong lĩnh vực mua sắm công ở Việt Nam khoảng từ năm 1994 đến nay Nhìn chung, việc áp dụng các quy định về đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có

xu hướng ngày càng tăng về số lượng Chứng tỏ mức độ xã hội hoá của công tác đấu thầu ngày càng cao và ý thức chấp hành chính sách của Nhà nước đối với mọi tầng lớp nhân dân là tương

đối nghiêm chỉnh Theo con số báo cáo của cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu ở các cấp, năm 1998 mới có 4.577 gói thầu

được áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định của Quy chế Đấu thầu, thì năm 2000 con số đó là 10.179 gói và năm

2002 là 30.768 gói Dưới đây là một số thông tin tình hình đấu thầu diễn biến theo thời gian trong những năm qua:

Bảng 2: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&ĐT)

Tổng giá trúng thầu 3.184,4 2.061,52 1.619,91 53.179,5 58.420,7

Giá trị tiết kiệm 400,0 331,23 264,07 5.076,46 5.196,0

Tỷ lệ tiết kiệm 11,2% 13,84% 14% 8,71% 8,17%

Nhờ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo Quy chế

Đấu thầu mà hàng năm Nhà nước tiết kiệm được từ 10 đến 15% tổng vốn đầu tư (chênh lệch giữa giá trúng thầu và giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu đã duyệt) Song theo số liệu thống kê tại

Trang 23

Bảng trên cho thấy tỷ lệ tiết kiệm thông qua đấu thầu đang giảm

dần theo thời gian

Theo số liệu thống kê của Bộ KH&ĐT về tình hình đấu thầu

trên toàn quốc năm 1999 (là năm chuyển giao giữa Quy chế Đấu

thầu ban hành kèm theo Nghị định 43/CP và 93/CP sang thực

hiện theo Quy chế Đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định

88/CP) cho thấy: Giá trúng thầu thường thấp hơn giá gói thầu

được duyệt trong kế hoạch đấu thầu nên đã tiết kiệm đáng kể

nguồn vốn đầu tư (khoảng 331 triệu USD), mức tiết kiệm trung

bình khoảng 14% Tuy nhiên, nếu ngành địa phương nào tuân

thủ các quy định của Quy chế Đấu thầu tốt hơn sẽ cho kết quả

tốt hơn Chẳng hạn, tỉnh Cà Mau thực hiện 55 gói thầu với tổng

giá ước tính là 73,81 tỷ đồng, tổng giá trúng thầu là 51,31 tỷ

đồng, tiết kiệm 22,5 tỷ đồng, là đơn vị có tỷ lệ tiết kiệm cao nhất

(30,48%) Ngoài ra còn một số đơn vị cũng có tỷ lệ tiết kiệm khá

Tổng giá

gói thầu (3)

Tổng giá

trúng thầu (4)

Chênh lệch Tuyệt đối (5=3-4)

Tương đối (6=5:3,%)

VN

24 81,026 69,614 11,411 14,08

2.2.2 Kết quả đấu thầu đánh giá theo hình thức lựa chọn:

Theo Quy chế Đấu thầu hiện hành, việc lựa chọn nhà thầu

được thực hiện theo 1 trong 7 hình thức sau đây:

- Đấu thầu rộng rãi;

Trong 7 hình thức nêu trên, chỉ có 3 hình thức mang tính chất

đấu thầu, vì trong đó có chứa đựng yếu tố cạnh tranh là: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh Thực chất chỉ có hình thức đấu thầu rộng rãi mới thực sự mang tính cạnh tranh công bằng, minh bạch Tham gia vào những cuộc đấu như vậy các nhà thầu mới được bộc lộ hết năng lực chuyên môn của mình, được cạnh tranh một cách bình đẳng để giành được hợp đồng một cách xứng đáng

Bốn hình thức lựa chọn còn lại về bản chất đều được thực hiện giống như chỉ định thầu Bởi vì, đối với các hình thức này nhà thầu đều được định đoạt trước khi đàm phán hợp đồng

Trang 24

Như vậy, có thể chia các hình thức lựa chọn nhà thầu thành 3

nhóm hình thức cơ bản như sau:

- Nhóm cạnh tranh tối đa: Đấu thầu rộng rãi;

- Nhóm có cạnh tranh (hạn chế ở mức độ nhất định): Đấu

thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh;

- Nhóm không mang tính cạnh tranh: Bao gồm các hình thức

còn lại

Thực tế cho thấy, áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu

khác nhau sẽ cho 3 nhóm kết quả về mức tiết kiệm khác nhau

Dưới đây là Biểu so sánh về tỷ lệ tiết kiệm giữa 3 nhóm hình

Tuyệt

đối (Tr.$)

Tương

đối (%)

Tuyệt

đối (Tr.$)

Tương

đối (%)

Tuyệt

đối (Tr.$)

Tương

đối (%)

0,48 * 7,72 0,4 1,25 1,58 0,94 2,46 1,19

Mua sắm trực tiếp và mua sắm

đặc biệt

0,23 7,37 16,65 27,48 15,46 15,31 32,34 19,65

Bảng trên cho thấy tỷ lệ tiết kiệm đối với các gói thầu được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi là cao nhất (12,60%), tiếp theo

là đấu thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh (9,34%), còn chỉ

định thầu chỉ có (1,19) Như vậy đấu thầu rộng rãi là phương

thức đem lại sự cạnh tranh và hiệu quả kinh tế nhất Trường hợp

mua sắm trực tiếp có tỷ lệ tiết kiệm cao chủ yếu do 2 đơn vị là TCT Bưu chính Viễn thông (về giá trị chiếm 81,82%, tỷ lệ tiết kiệm là 22,65%) và TCT Điện lực VN (tỷ lệ tiết kiệm là 34,61%) vì họ có khách hàng truyền thống đã quan hệ mua bán với nhau

từ lâu, còn lại các đơn vị khác tỷ lệ tiết kiệm đều thấp)

Xác định được tầm quan trọng cũng như hiệu quả của việc áp dụng Quy chế Đấu thầu, do vậy một số Bộ ngành và địa phương

đã quan tâm và tạo ra các cơ hội cạnh tranh bình đẳng trong quá trình thực hiện đấu thầu Thực tế cho thấy rất nhiều đơn vị đã có

ý thức thực hiện việc lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi nhằm tăng tính cạnh tranh như:

- Tỉnh Đăk Lăk: 328 gói thầu (299 rộng rãi, 29 chào hàng cạnh tranh)

Trang 25

- Tỉnh Bến Tre: 105 gói thầu (74 rộng rãi, 12 hạn chế và 19

chỉ định thầu)

- TCT Điện lực VN: 608 gói thầu (448 rộng rãi)

- Tỉnh Bình Dương: 94 gói thầu (87 rộng rãi, 7 hạn chế)

- Bộ Y tế: 297 gói thầu (131 rộng rãi)

- Tỉnh Kon Tum: 56 gói thầu (55 rộng rãi, 1 hạn chế)

- Các gói thầu thuộc dự án ODA chủ yếu thực hiện theo hình

thức đấu thầu rộng rãi (Bộ GTVT có 422 gói thầu thuộc dự án

nhóm A thì có 371 gói thầu đấu thầu rộng rãi)

Tuy nhiên, nếu xem xét trong cả quá trình từ năm 1998 đến

năm 1999 có thể thấy rằng đang diễn ra tình trạng lợi dụng cơ

chế quản lý lỏng lẻo về đấu thầu để làm giảm tính cạnh tranh

trong việc lựa chọn nhà thầu nói chung Tình trạng đó thể hiện

như sau:

Bảng 5: Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo

thời gian (Nguồn: Bộ KH&ĐT)

Đơn vị tính: Gói thầu

Đấu thầu rộng rãi

Đấu thầu hạn chế

Chỉ định thầu và các hình thực còn lại

được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi của năm 1998 là 26,7%, thì con số đó đối với năm 2000 chỉ còn là 12,9% và năm

2003 là 14,23% Điều đó đồng nghĩa với việc là trên 80% số gói thầu được áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác như: chỉ

định thầu, đấu thầu hạn chế là những hình thức mà hầu như không có tính cạnh tranh hoặc biểu hiện của tính cạnh tranh không cao Chứng tỏ trong thực tế, việc cố tình tạo ra những tình huống không minh bạch trong đấu thầu đang được khai thác triệt

để Tất nhiên, những việc làm đó sẽ gây ra những thiệt hại không nhỏ cho công quỹ của Nhà nước nói riêng và những thiệt hại về lợi ích kinh tế - xã hội khác của toàn xã hội

Trong cùng điều kiện và cách thức tiến hành chuẩn bị dự án như nhau, dự án đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1) được áp dụng chủ yếu hình thức chỉ định thầu (có vài gói áp dụng hình thức

đấu thầu hạn chế) nên đã sử dụng hết ngay tổng mức đầu tư (theo con số dự toán là 5.300 tỷ đồng), bởi vì ở đây không có sự cạnh tranh, do đó không có sự giảm giá; trong khi đó, dự án Quốc lộ 6 đoạn Hoà Bình - Sơn La áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, nên giá ký hợp đồng chỉ bằng khoảng trên 60% tổng

Trang 26

mức đầu tư Ví dụ trên cho thấy, chỉ cần áp dụng một phần quy

luật kinh tế khách quan của cơ chế kinh tế thị trường (tổ chức

cho các nhà thầu cạnh tranh công khai), đã nhìn thấy ngay hiệu

quả to lớn về kinh tế (tiết kiệm nhiều tỷ đồng vốn đầu tư) Đồng

thời với việc thu lợi về kinh tế, cơ chế thị trường còn tạo ra được

môi trường kinh doanh trong sạch, công bằng và do đó góp phần

làm lành mạnh hoá thị trường xã hội, tạo điều kiện và thúc đẩy

các doanh nghiệp không ngừng đổi mới, vươn lên, nâng cao

năng lực cạnh tranh

2.2.3 Về công tác đánh giá và thẩm định kết quả đấu thầu

Do quy định về thủ tục hành chính còn tương đối rườm rà, kết

quả đấu thầu thường phải qua nhiều cấp xem xét và thẩm định

Quy định này có ưu điểm là có thể tránh được sự nhầm lẫn trong

các khâu của quá trình đấu thầu, cuối cùng sẽ cho ra sản phẩm là

lựa chọn được nhà thầu xứng đáng phù hợp với các yêu cầu của

hồ sơ mời thầu Tuy nhiên, kết quả nói trên chỉ có thể đạt được

khi cơ quan cấp trên của chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà

nước về đấu thầu thực sự có năng lực chuyên môn, làm việc

nghiêm túc, thể hiện được sự minh bạch trong quá trình xem xét,

thẩm định và phê duyệt

Trong những năm qua, thực tế công tác đấu thầu ở Việt Nam

cho thấy, các cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu đã có nhiều

cố gắng trong việc tạo ra môi trường đấu thầu lành mạnh, đào

tạo được nhiều cán bộ quản lý đấu thầu tốt có năng lực và nhiệt

tình công tác Nhờ đó, công tác đấu thầu ở Việt Nam đã dần đi

vào nề nếp và đạt được một số thành quả nhất định Một số gói

thầu, do có sự thẩm định của nhiều cấp mà bảo vệ được tính

minh bạch Kết quả đấu thầu, nhờ đó mà được bảo vệ theo đúng yêu cầu của hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu Gói 3 Dự án mở rộng cảng Hải Phòng giai đoạn 1 được tổ chức

đấu thầu quốc tế rộng rãi Ban quan lý dự án và tư vấn đấu thầu

đã xem xét, đánh giá các hồ sơ dự thầu dựa theo tiêu chuẩn đánh giá do được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Song kết quả này khi trình lên đã bị cơ quan cấp trên phủ nhận và đề nghị bằng một phương án lựa chọn khác (không phù hợp với các yêu cầu của hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu) Thông qua việc thẩm định của cơ quan chuyên môn, kết quả đấu thầu của gói thầu nói trên đã được bảo vệ theo đúng đề nghị ban đầu của Ban quản lý dự án và cơ quan tư vấn đấu thầu

Tuy nhiên, hiện tượng như nêu trên xảy ra không nhiều Thực

tế là hầu hết các đề nghị về kế hoạch và kết quả đấu thầu do cơ

sở chuẩn bị đều được giữ nguyên về nội dung cho đến khi phê duyệt xong Nguyên nhân của tình trạng này là do:

- Nhân lực của bộ phận được giao nhiệm vụ thẩm định vừa thiếu vừa yếu (chủ yếu là không đủ năng lực đảm nhiệm công việc được giao)

- áp đặt ý muốn chủ quan của các cá nhân tham gia thẩm

định vào công việc chung

- Thiếu chính sách khuyến khích những việc làm tốt và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Quy chế Đấu thầu cũng như các chính sách, pháp luật khác

Tuy vậy, nhìn toàn cục, việc thực hiện đấu thầu đã thu được một số kết quả tích cực như sau:

Trang 27

Thông qua việc thực hiện đấu thầu, các cơ quan quản lý Nhà

nước về đấu thầu ở các Bộ và địa phương đã từng bước trưởng

thành về nhận thức, bước đầu đã tích luỹ được kinh nghiệm về tổ

chức thực hiện đấu thầu và triển khai thực hiện hợp đồng theo cơ

chế thị trường Đội ngũ những người làm công tác đấu thầu và

quản lý đấu thầu luôn được tăng cường cả về số lượng và chất

lượng Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đấu thầu vẫn

luôn được quan tâm ở hầu hết các cấp

Quy trình, thủ tục đấu thầu đang từng bước hoàn thiện theo

hướng đơn giản, dễ thực hiện và hài hoà với thủ tục của các tổ

chức quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới, được các nhà tài

trợ đánh giá là đã có những chuyển biến tích cực

Hệ thống các văn bản pháp quy về đấu thầu tiếp tục được sửa

đổi và hoàn thiện Hiện nay Chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện

bản dự thảo lần 7 Pháp lệnh Đấu thầu để trình UBTVQH ban

hành trong thời gian tới

Thông qua đấu thầu việc giải ngân các dự án đầu tư sử dụng

nguồn vốn ODA đã dần đi vào nề nếp Giá trị giải ngân hàng

năm tăng dần (năm 1995 là 700 triệu USD thì đến năm 1999 là

1,35 tỷ USD và năm 2000 là 1,69 tỷ USD) Đây là kết quả không

nhỏ góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng, y tế, giáo

dục của đất nước

Thông qua việc tổ chức đấu thầu quốc tế, các nhà thầu trong

nước có điều kiện tham gia học tập kinh nghiệm để từng bước

vươn lên cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài Hiện nay, một

số nhà thầu trong nước (đặc biệt là các nhà thầu xây dựng) đã có

khả năng cạnh tranh ngang bằng với các nhà thầu nước ngoài và

trúng thầu hầu hết các gói thầu xây dựng thuộc các dự án do

WB, ADB và JBIC tài trợ

Chất lượng công trình, thiết bị và dịch vụ được đảm bảo, tiến

độ thi công thực hiện phù hợp với yêu cầu của dự án với giá trúng thầu thường bằng hoặc thấp hơn giá gói thầu

2.3 Một số vấn đề phát sinh thường gặp trong công tác

đấu thầu và những tồn tại thường nhật trong công tác đấu thầu ở Việt Nam

2.3.1 Một số vấn đề phát sinh thường gặp trong công tác đấu thầu:

Tuỳ theo đặc điểm, tình hình kinh tế-xã hội, ở mỗi nước việc ban hành quy định pháp luật đối với công tác đấu thầu có những nội dung mang tính đặc thù riêng Vì vậy, những phát sinh thường gặp trong công tác đấu thầu cũng đa dạng, có cái chung

và cái riêng Do vậy, việc xem xét các phát sinh tồn tại trong công tác đấu thầu (được đề cập dưới đây) phải căn cứ vào các nội dung ở ngay từng cấu phần tạo nên hoạt động đấu thầu (đã

đề cập ở mục 1.1.10)

2.3.1.1 Các phát sinh thường gặp trong hệ thống văn bản quy

định pháp luật về đấu thầu:

a, Hình thức ban hành văn bản quy định pháp luật về đấu thầu

ở các nước mới bắt đầu công tác đấu thầu thường chưa đủ kinh nghiệm để xây dựng và ban hành các quy định chuẩn mực mang tính quốc tế Đây là điều dễ hiểu, vì từ thói quen mua sắm cho các nhu cầu của Nhà nước theo hình thức chỉ định tiến đến thông qua các hình thức mua sắm cạnh tranh là các cuộc đấu

Trang 28

thầu, thường có tư tưởng muốn việc thay đổi từ từ, muốn bám lấy

các cơ chế đang có và đôi khi lo ngại sự phản đối thường là khá

mãnh liệt của các đối tượng mà quyền hạn, chức năng và quyền

lợi sẽ bị thay đổi theo các quy định mới Trong điều kiện kinh tế

xã hội của đất nước đang thời kỳ biến động, cách tốt nhất là đưa

ra các hình thức văn bản sao cho dễ điều chỉnh, dễ sửa đổi, bổ

sung theo tình hình thực tế Việt Nam chúng ta đã là một ví dụ

điển hình minh họa cho quan điểm này (xem mục 2.1.1 ở trên)

Đây là phát sinh đã thấy trước về mặt nguyên tắc, song khó

có thể đưa ra những quy định phù hợp với sự biến đổi của nền

kinh tế - xã hội trong một tương lai dài, nhất là trong bối cảnh

trong xã hội đang có nhiều nhân tố mới Tuy nhiên, đến một giới

hạn nào đó, việc quy định về đấu thầu dưới dạng Nghị định sẽ

không còn phù hợp và theo chiều hướng chung ở nhiều nước việc

ban hành các văn bản quy định có tuổi thọ nhiều hơn sẽ cần

được ban hành Đó là các văn bản dưới dạng Pháp lệnh Đấu

thầu, Luật Đấu thầu như trong kế hoạch xây dựng các văn bản

pháp luật của ta

Các phát sinh thuộc nhóm này mang tính khách quan hơn là

chủ quan Vì vậy cần có giải pháp khắc phục nhanh chóng một

khi đã nhận thức ra nó

b, Về tập trung và phân cấp

Nhìn chung trong các quy định pháp luật về đấu thầu, tư

tưởng muốn tập trung thường nghiêng về các cơ quan quản lý

Nhà nước, những người không trực tiếp thực hiện công tác này,

song lại e sợ rằng nếu phân cấp hết cho đơn vị thực hiện mua

sắm (là những người tổ chức mua sắm và cũng là người sau đó

gắn chặt với các sản phẩm do mình mua sắm) thì sẽ khó đảm bảo hiệu quả trong mua sắm Đã có nhiều trường hợp cho thấy

sự can thiệp quá sâu, không cần thiết và thực sự không có hiệu quả của các cơ quan Nhà nước vào các hoạt động mua sắm Nhưng cũng có nhiều bài học cho thấy sự buông lỏng quản lý, phân cấp quá với năng lực của người được phân cấp đã dẫn đến những hậu quả khôn lường

Vì vậy nội dung tập trung và phân cấp ở mức độ khác nhau là tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nơi, từng nước, khó có một công thức chung cho tất cả mọi quốc gia ở một thời điểm nhất định, sự tập trung có thể là cần thiết và thực sự mang lại hiệu quả, chẳng hạn giá trị mua sắm là có hạn, nguồn vốn cho mua sắm cũng giới hạn trong khi năng lực mua sắm của đơn vị mua sắm còn non yếu Nhưng các nguồn vốn theo thời gian sẽ thay đổi, đó là một phát sinh không thể định trước, dẫn đến phải có biện pháp điều chỉnh phù hợp Rồi những biện pháp mới cũng chỉ tồn tại trong một quãng thời gian nhất định, phải nhường chỗ cho những giải pháp mới hữu hiệu hơn Các giải pháp trong thực tế đối với các phát sinh thuộc điểm này là đa dạng do hoàn cảnh cụ thể của từng môi trường ở một số nước đã phát triển hoặc phát triển ở mức độ cao,

có hệ thống luật lệ phong phú, đầy đủ, thì dường như sự tập trung

được coi trọng Hàn Quốc là một minh chứng cho loại hình này Chính phủ Hàn Quốc cho phép sử dụng một cơ quan chuyên nghiệp thuộc Chính phủ để thực hiện các cuộc đấu thầu mua sắm lớn và chỉ phân cấp những nội dung mua sắm nhỏ Sự tập trung này đã nâng cao năng lực của đơn vị mua sắm, biến nó thành một

đơn vị mua sắm chuyên nghiệp và hiệu quả chính là ở chỗ đó ở một vài nước khác, sự tập trung lại cho phép thực hiện một cách

Trang 29

linh hoạt hơn, ví dụ khi cơ quan thực hiện mua sắm không đủ

năng lực theo yêu cầu thì thông qua một đơn vị chuyên nghiệp

(được gọi là đại lý đấu thầu) với một khoản phí được pháp luật

cho phép Giải pháp này vừa đảm bảo sự phân cấp lại vừa tập

trung trong những trường hợp cần thiết Còn đa phần mô hình

phân cấp trách nhiệm kèm theo các chế tài theo dõi, giám sát,

kiểm tra, thanh tra là một mô hình được nhiều nước áp dụng Dù

áp dụng theo một mô hình nào thì việc đánh giá của các chuyên

gia đấu thầu cho thấy cần rạch ròi trong chính sách và quy định

Đã phân cấp thì không được can thiệp trong quá trình thực hiện

cho tới khi có kết quả Người được phân cấp cần có toàn quyền

song buộc phải tuân theo các quy định của pháp luật Cho tới nay

những công trình đánh giá để kết luận về ưu thế của sự phân cấp

hoặc tập trung trong thực hiện đấu thầu là quá ít ỏi và thường phát

sinh trong thực tế cùng với mặt được và chưa được Đây cũng

chính là tiền đề cho việc thường xuyên điều chỉnh các quy định đã

có về công tác đấu thầu

c, Về yêu cầu công khai

Một mục tiêu được coi là cơ bản trong quy định về đấu thầu

là làm sao chống được sự thất thoát tiền của Nhà nước thông qua

các hoạt động lựa chọn nhà thầu Đây là một thách thức cho bất

kỳ một quốc gia nào cũng như các tổ chức tài trợ của quốc tế

Một hiện tượng phổ biến là đối với tiền của chung, của Nhà nước

thì từng cá nhân khi sử dụng không đề cao tính tiết kiệm, tính

hiệu quả của đồng tiền như đối với tiền của chính bản thân mình

Chưa kể một số nào đó lại tận dụng cơ hội được tham gia vào

quá trình mua sắm lại muốn biến lợi thế trong công việc thành

quyền lợi riêng cho mình Bài học chung cho thấy ngoài những

quy định chặt chẽ trong quy định pháp luật về đấu thầu, thì việc quy định công khai tới mức có thể sẽ là một công cụ tích cực giúp giảm thiểu các tiêu cực trong đó có việc thất thoát tiền của Nhà nước

Cũng tương tự như nội dung tập trung và phân cấp, sự nhận thức và các yêu cầu về sự công khai trong các quy định pháp luật

đấu thầu của Nhà nước thường thay đổi theo thời gian và nó

được coi là một phát sinh không thể thấy hết một cách đầy đủ từ lúc ban đầu Mặt khác, sự ứng biến của thực tiễn đối với quy

định đã có về tính công khai đòi hỏi phải có những thay đổi cần thiết Ngoài ra, đòi hỏi về sự công khai trong đấu thầu đối với các đối tượng tham gia đấu thầu là khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau, đó là một phát sinh trong quá trình thực hiện đòi hỏi phải điều chỉnh quy định đối với nội dung này sao cho hài hoà với các đối tượng và trong những trường hợp nhất định đòi hỏi phải có sự hài hoà với thông lệ trên thế giới về nội dung này

Có thể lấy trường hợp của Việt Nam là một ví dụ Quy định thông báo mời thầu phải đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng lúc đầu tưởng là đã đảm bảo thông tin mời thầu dễ dàng đến với mọi nhà thầu quan tâm Nhưng thực tế cho thấy với trên dưới 600 tờ báo hiện có thì nếu chỉ dừng lại ở quy

định như vậy sẽ không đạt được ý đồ đề ra vì đơn vị mua sắm sẽ tuỳ chọn tờ báo để đăng tải thông tin theo chủ quan và theo mối quan hệ của họ với tờ báo này Tình hình này dẫn đến tình trạng nhà thầu không đủ sức tự mình có được thông tin về đấu thầu, nhiều trường hợp nhà thầu phải chi phí (tới hàng triệu đồng) để

có được một thông tin về thông báo mời thầu đăng tải ở một tờ báo nào đó

Trang 30

Điều này là bất lợi không chỉ đối với nhà thầu mà còn đối với

đơn vị thực hiện mua sắm (phải có chi phí cho đăng tải thông

tin) vừa không đạt được mục tiêu về công khai trong Quy chế

Đấu thầu Phát sinh này trong thực tế đã giúp cho ý tưởng ban

đầu về việc cần có 1 tờ thông tin duy nhất về đấu thầu trở nên

hiện thực và có tính thuyết phục Kết quả là trong Nghị định gần

đây nhất Chính phủ đã cho phép xuất bản 1 tờ thông tin với chức

năng chỉ đăng tải các nội dung về đấu thầu, trong đó có thông

báo mời thầu

Nội dung về tính công khai trong quy định không chỉ bao

hàm nội dung về thông báo mời thầu mà còn vô số các nội dung

khác Có nội dung trước đây được coi là bí mật thì quá trình

nhận thức đến nay đã thấy là cực kỳ phi lý, có tác dụng ngược,

nên phải điều chỉnh Chẳng hạn như tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ

dự thầu Việc giữ bí mật tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu,

không đưa công khai vào hồ sơ mời thầu hoặc cho phép tuỳ tiện

bổ sung tiêu chuẩn đánh giá trong quá trình xem xét, đánh giá

các hồ sơ dự thầu đã làm cho tiêu chuẩn đánh giá không làm

đúng vai trò trọng tài của nó Càng giữ kín tiêu chuẩn đánh giá

thì lại làm cho các nhà thầu phải tò mò để đi tìm, dẫn đến các

hành động không lành mạnh Thực tế này đã dẫn đến phải điều

chỉnh trong Quy chế Đấu thầu bằng cách yêu cầu tất cả tiêu

chuẩn đánh giá phải nêu công khai ngay trong hồ sơ mời thầu

Như vậy, việc điều chỉnh quy định về công khai là nhằm đáp

ứng một yêu cầu của thực tế là để Quy chế Đấu thầu đạt được

mục tiêu đích thực của nó Tuy nhiên, không phải mọi yêu cầu

về công khai đều được chấp nhận Chẳng hạn yêu cầu cần giải

thích lý do không trúng thầu cho nhà thầu không trúng thầu Nhiều quy định cho rằng không thể làm được điều này nghĩa là quy định đơn vị mua sắm không có trách nhiệm giải thích lý do không trúng thầu cho các nhà thầu không được lụa chọn Nhưng gần đây Luật Đấu thầu của vài nước có quy định sẽ giải thích lý

do không trúng thầu cho nhà thầu không được lựa chọn Rõ ràng

đây là 1 phát sinh, 1 thực tế buộc các nhà hoạch định chính sách

về đấu thầu cần nghiên cứu, xem xét về quy định đối với tính công khai của đất nước mình

Càng công khai, càng chống được các mặt trái của công tác

đấu thầu, nhưng liều lượng công khai, thời điểm công khai, nội dung và phạm vi công khai vẫn là những nội dung luôn được tranh luận Trong hoàn cảnh 1 nước, những phát sinh trong thực hiện liên quan tới vấn đề này sẽ là thước đo để có những điều chỉnh hợp lý, tương ứng với điều kiện cụ thể trong 1 giai đoạn nhất định Chẳng những thế, các quy định khác trong hệ thống các quy định về đấu thầu (ví dụ: phương pháp đánh giá, phương thức chào hàng ) lại có tác động làm thay đổi quy định công khai trong đấu thầu

d, Về ưu đãi nhà thầu trong nước Quy định về đấu thầu của mỗi nước luôn có xu hướng tạo thuận lợi cho các nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế Đây là 1 nội dung cần thiết đặc biệt đối với những nước

mà nhà thầu trong nước chưa đạt được năng lực ở mức cạnh tranh cao Tuy nhiên, mức độ và thời gian duy trì ưu đãi luôn là những nội dung cần được điều chỉnh do:

Trang 31

- Sự ưu đãi quá mức và trong một thời gian quá dài chính là

làm giảm khả năng cạnh tranh của các nhà thầu trong nước Cần

hiểu rằng thị trường của các nhà thầu không chỉ là thị trường

trong nước Do vậy, không thể duy trì mãi mãi sự ưu đãi cho các

nhà thầu này

- Sự hoà nhập quốc tế đòi hỏi sự thay đổi về chế độ ưu đãi các

nhà thầu trong nước Đây là yêu cầu khách quan trong quá trình

hội nhập Tuy nhiên, chừng nào thời điểm hội nhập chưa tới thì

khó có nước nào lại bỏ qua cơ hội hỗ trợ cho các nhà thầu của

nước mình Yêu cầu của sự hội nhập này trong đấu thầu không

khác gì các thoả thuận về thuế suất khi 1 nước tham gia vào các

Hiệp định thương mại quốc tế Các phát sinh cần phải điều chỉnh

trong quy định về đấu thầu đối với nội dung ưu đãi nhà thầu

trong nước là phụ thuộc vào tình hình cụ thể, nó phụ thuộc vào

yếu tố thời gian

Ngoài ra, đối tượng ưu đãi nhà thầu trong nước cũng là một

nội dung đôi khi cần được điều chỉnh theo từng thời kỳ Có

những nước chính sách ưu đãi chỉ dành riêng cho doanh nghiệp

nhà nước, nhưng đa phần sự ưu đãi dành cho các nhà thầu trong

nước mà sở hữu trong nước chiếm 1 tỷ lệ thích hợp (thường là từ

50% đối với nhà thầu xây dựng) hoặc tỷ trọng chiếm trong giá

xuất xưởng sản phẩm (thường là từ 30% trở lên) Những quy

định này cũng luôn cần được xem xét, điều chỉnh để phù hợp với

tình hình thực tế Nghĩa là không thể quy định một cách cứng

nhắc, cố định Khi có phát sinh thì cần có giải pháp xử lý thích

hợp

e, Về nội dung cạnh tranh

Vấn đề cạnh tranh là nội dung cơ bản nhất để đảm bảo quá trình mua sắm là có hiệu quả Nội dung cạnh tranh tuy được coi trọng khi soạn thảo quy định về đấu thầu song luôn luôn phải hoàn thiện để đạt được tính cạnh tranh công bằng và thực sự đem lại hiệu quả Khi hình thành quy định về đấu thầu, có người cho rằng cứ quy định các cuộc đấu thầu phải thực hiện rộng rãi thì sẽ

đảm bảo được sự cạnh tranh Điều này không sai vì nếu tổ chức

đấu thầu hạn chế thì các nhà thầu có cơ hội thu xếp với nhau, còn chỉ định thầu thì không có sự cạnh tranh Nhưng trong thực

tế quá trình thực hiện lại không thể như mong muốn

Sự cạnh tranh không chỉ được đảm bảo thông qua hình thức tổ chức đấu thầu rộng rãi, đây là điều kiện cần chứ chưa phải là

điều kiện đủ Thực tế cho thấy có nhiều nội dung khác cần được quy định chặt chẽ, khoa học hơn, thì sự đấu thầu rộng rãi mới

đảm bảo được sự cạnh tranh, chẳng hạn:

- Các yêu cầu trong hồ sơ mời thầu phải được quy định rõ, không đưa ra các yêu cầu chi tiết mang tính định hướng Các yêu cầu phải đủ chi tiết để đảm bảo mua được sản phẩm đúng ý định ban đầu, để có cơ sở so sánh lựa chọn các nhà thầu, song chi tiết

đến mức chỉ có một nhà thầu cụ thể mới đủ khả năng tham gia, chỉ có một thương hiệu sản phẩm cụ thể mới được chấp nhận, hoặc phải có xuất xứ từ 1 nước hay 1 nhóm nước nào đó thì đã thực sự làm mất tính cạnh tranh Thực tế cho thấy không ít trường hợp đấu thầu rộng rãi mà vẫn không có sự cạnh tranh, chính là do sự định hướng của hồ sơ mời thầu Hầu như các nhà sản xuất thiết bị, vật tư đều có những nét đặc thù riêng của mình Yêu cầu cố định 1 thông số trong hồ sơ mời thầu của một cuộc

Trang 32

đấu thầu rộng rãi chính là đã biến cuộc đấu thầu đó thành chỉ

định thầu Bên cạnh các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn đánh giá

trong một chừng mực nếu không được kiểm soát kỹ càng cũng

trở nên làm mất hiệu lực của sự cạnh tranh

- Sự tham gia cạnh tranh một cách tự do là cần thiết, song

trong một phạm vi nào đó thì lại cần có sự điều chỉnh Chẳng

hạn như quy định về ưu đãi đối với nhà thầu trong nước nêu ở

trên cũng là một biện pháp để tạo sự cạnh tranh công bằng

Trong quy định về đấu thầu ở một vài nước, người ta đã cho

phép đối với một nội dung mua sắm nhất định có thể giới hạn sự

tham gia chỉ cho một số nhà thầu phù hợp tương ứng tạo ra sự

cạnh tranh giữa các đối thủ cân sức, tránh sự cạnh tranh quá

chênh lệch giữa các nhà thầu Hiện tại trong Quy chế Đấu thầu

của ta quy định về sự tham gia đấu thầu các gói thầu quy mô nhỏ

chính là theo hướng nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh

- Việc xác định các yêu cầu tối thiểu về kinh nghiệm cũng

như về năng lực của các nhà thầu nếu không được quy định rõ và

hợp lý sẽ hạn chế cơ hội tham gia của nhà thầu tức là làm giảm

sự cạnh tranh Một công việc chỉ cần yêu cầu có kinh nghiệm 1

năm nhưng đơn vị thực hiện mua sắm lại yêu cầu nhà thầu đã có

kinh nghiệm trong 5 năm hay thậm chí 10 năm Đó là yêu cầu

không hợp lý và làm giảm tính cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong đấu thầu cũng cần được xác định rõ đặc

thù so với sự cạnh tranh trong các môi trường khác Sự cạnh

tranh trong đấu thầu thường bao hàm 2 nội dung: cạnh tranh về

mặt kỹ thuật và cạnh tranh về giá

Trong một môi trường cạnh tranh nhất định, chẳng hạn khi nhu cầu việc làm quá lớn so với yêu cầu công việc, nhà thầu có khả năng điều chỉnh sự cạnh tranh từ chỗ cạnh tranh lành mạnh sang cạnh tranh thiếu lành mạnh Như vậy, nội dung cạnh tranh không chỉ chịu sự tác động của quy định về đấu thầu mà còn chịu sự tác động của các nhà thầu Thông thường điều này không thấy ngay, mà phải qua thực tế mới phát sinh và chính nó lại là tiền đề cho việc hoàn thiện, nâng cấp quy định về đấu thầu

g, Về công tác giám sát thực hiện và chế tài xử lý vi phạm Thường khi quy định về đấu thầu được ban hành thì mọi đối tượng liên quan phải thực hiện theo Nhưng bởi có sự đa dạng trong xã hội nên một số thì tự giác tuân thủ mọi quyết định từ nhỏ tới lớn, còn một số khác thì không muốn thực hiện theo Vì vậy, việc giám sát thực hiện là hết sức cần thiết Khi có sự giám sát, các đối tượng chống đối thường tìm cách luồn lách để không phải tuân thủ tuyệt đối Thế là những quy định lại phải thay đổi

để hoàn thiện hơn và chặt chẽ hơn Bên cạnh đó, các chế tài xử

lý vi phạm cần được quy đinh chi tiết để có cơ sở xử lý vi phạm,

để răn đe và nhằm mục tiêu chính là để quy định về đấu thầu đi vào cuộc sống Các chế tài xử lý ở các quốc gia khác nhau có những nội dung khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm, phong tục, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước Việc xử lý vi phạm bên cạnh mặt tích cực không tránh được những tồn tại làm ảnh hưởng tới công tác đấu thầu Nhiều chuyên gia đấu thầu cho rằng biện pháp xử phạt là biện pháp cuối cùng, nên cần được hoàn thiện sao cho đạt được mục tiêu đưa quy định vào cuộc sống nhưng không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực

Trang 33

Đặc biệt nhận thức về giám sát thực hiện và chế tài xử phạt

cũng phải thay đổi theo quá trình nhận thức của các đối tượng bị

quản lý Sự giám sát bằng cách can thiệp sâu trong thời kỳ đầu

của công tác đấu thầu là không có tác dụng tích cực mà cần phân

cấp gắn với trách nhiệm Một khi đối tượng đã thay đổi, mà hình

thức quản lý vẫn như cũ sẽ không mang lại hiệu quả

Tất cả những bài học để có những quy định tốt hơn, phù hợp

hơn, chính là dựa trên các phát sinh trong cuộc sống thực tế

phong phú và đa dạng

Tóm lại, có nhiều nội dung trong các văn bản quy định về đấu

thầu cần được điều chỉnh giữa những phát sinh trong thực tế và

quá trình hội nhập quốc tế Quy định mới lại có những phát sinh

mới, đó là quy luật tất yếu của cuộc sống và của xã hội Rồi từ

phát sinh mới sẽ dẫn đến các điều chỉnh mới Chu kỳ đó sẽ tiến

dần đến hợp lý

2.3.1.2 Đơn vị thực hiện mua sắm và các cơ quan liên quan

a, Đơn vị thực hiện mua sắm:

Trong nhiều trường hợp đơn vị mua sắm tự cho mình có

quyền quyết định việc lựa chọn nhà thầu Mặc dù theo quy định

về đấu thầu, đơn vị mua sắm chỉ là người thực hiện theo 1 kế

hoạch, 1 mục tiêu định trước, nhưng thực tế nhiều diễn biến,

phát sinh đã xuất hiện đối với đơn vị thực hiện mua sắm, như:

- Thường muốn dùng sự đánh giá chủ quan thay vì bám sát

các yêu cầu đã nêu trong hồ sơ mời thầu và thực hiện theo tiêu

chuẩn đánh giá đã nêu trong hồ sơ mời thầu Một khi kết quả

đánh giá không phù hợp với ý muốn chủ quan thì đơn vị mua

sắm muốn bổ sung, điều chỉnh tiêu chuẩn đánh giá để hợp pháp

hóa ý muốn của mình Một công cụ để đơn vị mua sắm dễ dàng

đưa ý kiến chủ quan vào chính là nội dung hồ sơ mời thầu Chỉ cần đơn vị mua sắm đưa 1 yêu cầu cụ thể nào đó vào trong hồ sơ mời thầu thì sẽ chỉ có một nhà thầu nào đó có khả năng thắng thầu Trong một số trường hợp, đơn vị mua sắm cố tình đưa ra yêu cầu trong hồ sơ mời thầu một cách chung chung, mập mờ để

dễ dàng có sự lựa chọn nhà thầu theo ý muốn của mình Vì vậy, việc thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu cần được thực hiện

đầy đủ, theo đúng quy định, không cho phép đơn vị mua sắm

đưa vào những ý muốn chủ quan

- Đưa ra yêu cầu mua sắm quá cao, không bám sát các yêu cầu mua sắm đã duyệt Điều này dẫn đến không lựa chọn được nhà thầu ngay từ lần đấu thầu đầu tiên, mà phải làm đi làm lại nhiều lần Hiện tượng phổ biến là Bên mời thầu muốn có những nhà thầu tuyệt vời nhất tham gia đấu thầu, và thế là có khi chỉ có

được một nhà thầu vượt qua được giai đoạn đánh giá về kỹ thuật, mặc dù các nhà thầu tham dự đều là những nhà thầu tiềm năng,

có uy tín

- Đơn vị mua sắm tỏ ra thiếu năng lực về chuyên môn đối với

đối tượng mua sắm, thiếu kiến thức về nghiệp vụ đấu thầu, trong một số trường hợp lại thiếu kinh nghiệm trong thương thảo hợp

đồng Đây là một hiện tượng thường xảy ra khi công tác đấu thầu được phân cấp mạnh mẽ và khi sự chỉ định đơn vị làm nhiệm vụ mua sắm thuộc nhân sự nội bộ mà bỏ qua yêu cầu về năng lực, nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm mua sắm Quy định về đấu thầu có được triệt để tuân theo hay không là tùy thuộc chất lượng nhân sự của các đơn vị mua sắm Sự đơn

Trang 34

giản hóa vai trò và năng lực của đơn vị mua sắm, đồng thời trông

chờ vào sự mầu nhiệm của một hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật về đầu tư và đấu thầu đang là một hiện tượng rất phổ biến

trong nhận thức của nhiều người, trong đó có cả đội ngũ cán bộ

có chức, có quyền Đó là những vấn đề cần được lưu tâm nghiên

cứu, khắc phục

b, Các cơ quan liên quan

Cho dù có phân cấp mạnh mẽ hơn thì công tác đấu thầu vẫn

không tránh khỏi bị sự tác động của các cơ quan chuyên môn

liên quan Điều dễ thấy là có 2 khuynh hướng trái ngược nhau:

- Không tin tưởng ở các đơn vị mua sắm, nên các cơ quan

Nhà nước cấp trên muốn can thiệp trực tiếp vào quá trình lựa

chọn nhà thầu Sự can thiệp không chỉ đơn giản là giành lấy

quyền quyết định, mà còn lôi kéo thêm cả một bộ máy công

chức vào việc thẩm định để có cơ sở trước khi phê duyệt các nội

dung như: Kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu cũng như kết quả

lựa chọn nhà thầu

- Bám sát quy định phân cấp cho chủ đầu tư, nên cơ quan liên

quan không tham gia hoặc tham gia có tính hình thức vào các

nhiệm vụ được giao, dẫn đến không đạt được các mục tiêu đã đề

ra của các hoạt động đấu thầu

Những phát sinh xuất hiện trong các đơn vị mua sắm hoặc các

cơ quan liên quan thông thường do nhận thức chưa đúng đắn về

vai trò của mình, trong một số trường hợp lại là do xuất phát từ

một định hướng của riêng mình Đây thuộc về chất lượng, phẩm

chất của người thực hiện công cụ là quy định đấu thầu Đôi khi

quy định còn có kẽ hở, nhưng đối với người có trách nhiệm thì

vẫn có thể khắc phục được Nhưng dù quy định có đầy đủ, mà chất lượng công tác của người thực hiện không bảo đảm thì sự việc diễn ra vẫn không như mong muốn

2.3.1.3 Các nhà thầu

Đây là lực lượng góp phần tạo nên sự thành công hoặc thất bại của các cuộc đấu thầu Không có các nhà thầu thì không có các cuộc thầu và cũng chẳng cần có các quy định về đấu thầu để

đưa ra một sân chơi cho các nhà thầu cùng với đơn vị mua sắm Trong quá trình tham gia đấu thầu, các nhà thầu có nhiều hoạt

động khác nhau nhằm một mục tiêu là có được lợi ích cho mình thông qua việc được trúng thầu để thực hiện hợp đồng

Hoạt động của các nhà thầu trong quá trình tham gia đấu thầu thường biểu hiện dưới các hình thức sau:

a) Cố gắng để dành được hợp đồng bằng các biện pháp có thể Hợp đồng luôn là mục tiêu cần đạt được đối với mọi nhà thầu

Để có được cơ hội trúng thầu, nhà thầu phải nghiên cứu kỹ hồ sơ mời thầu để đưa ra hồ sơ dự thầu phù hợp Song điều này chưa

đủ để đảm bảo cho sự chiến thắng Vì vậy, nhà thầu phải tìm mọi cách để đạt được mục tiêu này như quan hệ tốt với đơn vị mua sắm để có được thông tin, cảm tình và để tranh thủ sự hỗ trợ Một số nhà thầu nước ngoài thực hiện tiếp cận này thông qua các cá nhân hoặc các tổ chức trong nước với một chi phí nào đó

Sự tác động của nhà thầu còn nhằm vào tổ tư vấn hoặc chuyên gia xét thầu, đơn vị thẩm định kết quả và trong một số trường hợp nhất định còn tác động tới các cá nhân có vai trò quyết định

Đối với các cuộc đấu thầu giá trị lớn hoặc lợi nhuận có thể cao, hoạt động dưới hình thức nêu trên của nhà thầu càng trở nên

Trang 35

mãnh liệt hơn Các hoạt động kể trên đã đi ra ngoài khuôn khổ

của quy định đấu thầu Ngoài ra, nhà thầu còn tìm cách hạ gục

đối thủ cạnh tranh bằng cách cố gắng thổi phồng ưu điểm trong

hồ sơ dự thầu của mình và bôi đen hồ sơ dự thầu của các nhà

thầu khác Đây là một biểu hiện của sự cạnh tranh không lành

mạnh, song không dễ dàng để có được chứng cớ đối với hoạt

động này

b) Đưa ra một chào hàng có những nội dung mập mờ, có thể

hiểu theo nhiều cách hoặc với những điều kiện đi kèm

Đây được coi là một trong những nghệ thuật chào hàng của

nhà thầu Bất kỳ một nội dung nào trong hồ sơ dự thầu đều có

dụng ý của nó Thậm chí người ta cố tình để các lỗi không mấy

quan trọng trong hồ sơ dự thầu để nếu Bên mời thầu phát hiện ra

thì sửa, còn không cứ miễn là được trúng thầu sau đó tính sau

Việc chào theo 2 mức giá, đưa ra giảm giá vừa theo tỷ lệ phần

trăm (%) vừa bằng một gíá trị tuyệt đối, song lại không phù hợp

với nhau đã là những ví dụ minh họa cho nội dung này

Đặc biệt những điều khoản thương mại, điều kiện, điều khoản

hợp đồng thường được nhà thầu tính toán kỹ để một khi áp dụng

sẽ tạo thuận lợi hoặc giảm thiểu rủi ro cho mình

Cách làm này đôi khi lại được sử dụng như một công cụ trong

các khiếu nại thắc mắc một khi không trúng thầu Thực tế đã

chứng tỏ có không ít trường hợp kéo dài thời gian đưa ra quyết

định lựa chọn nhà thầu là do tác động của nhà thầu thông qua

các ý kiến phản ảnh của họ

c) Đòi hỏi có sự công khai trong toàn bộ quá trình đấu thầu:

Một khi được trúng thầu thì nhà thầu thường im lặng nghĩa là không có yêu cầu gì ngoài việc ký hợp đồng để triển khai thực hiện Song đã không được trúng thầu thì nhà thầu luôn luôn yêu cầu được giải thích lý do và giải thích càng tỉ mỉ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu Đôi khi đòi hỏi có vẻ chính đáng này lại làm phức tạp thêm vấn đề Sự đánh giá của đơn vị mua sắm là dựa trên yêu cầu của hồ sơ mời thầu và các tiêu chuẩn đánh giá đi kèm Đây chính là quan điểm xét chọn của bên mua Không phải bất kỳ trường hợp nào, người bán (nhà thầu) cũng đồng quan

điểm với bên mua từ những vấn đề nhỏ nhất tới lớn nhất Sự giải thích của bên mua đôi khi lại được bên bán coi là không thỏa

đáng và làm cho cuộc tranh luận trở nên gay gắt hơn Hậu quả là làm lỡ cơ hội thực hiện việc mua sắm theo tiến độ yêu cầu Đó là một thiệt hại

d) Giành lợi thế trong thương thảo hợp đồng

Việc trúng thầu mới là giai đoạn cơ bản của thắng lợi, nhà thầu tuy đã trúng thầu vẫn muốn có được lợi nhuận cao hơn và mức độ rủi ro ít nhất Các cuộc thương thảo hợp đồng đều không lường trước được kết quả Song chắc chắn rằng bằng kinh nghiệm của mình, nhà thầu luôn đưa ra các điều kiện, điều khoản mà xem qua thì hợp lý, nhưng thực chất chỉ nhằm mang lại lợi ích cho mình Trong một số trường hợp nhà thầu có thể

đưa ra những nội dung ở mức độ khái quát để rồi thực tế xảy ra sau này dễ gây áp lực đối với bên mua Đôi khi những điều khoản tưởng như có lợi cho bên mua, nhưng thực chất lại là có lợi cho người bán Các nghệ thuật về hợp đồng thường rơi vào các nhà thầu tiềm năng, có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong thương trường

Ngày đăng: 07/04/2014, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Brandley R.Schiller - Kinh tế ngày nay - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2001 Khác
2. Paul A. Samuelson - Kinh tế học - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1989 Khác
3. Selection of Consultants - The World Bank Washington, D.C. July 1997 Revised April 1998 and July 1999 Khác
4. Procurement of Goods - The World Bank - July 1995 Revised Mach 2000 Khác
5. Procurement of Works - The World Bank Washington, D.C - January 1995 Khác
6. Guidelines for procurement under JBIC ODA Loans - Oct. 1999 Khác
7. Uncitral Model Law on procurement of Goods, Construction and Services with Guide to Enactment - United Nations, New York, 1995 Khác
8. Government Procurement in Korea - SAROK - Supply Aministration the Republic of Korea, June, 1997 Khác
9. Guidelines for procurement under ADB ODA Loans, 1997 10. Luật gọi thầu, bỏ thầu của n−ớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 1999 Khác
11. Luật Đấu thầu của Cộng hòa Ba Lan, năm 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 1 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu (Trang 20)
Bảng 2: Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Kết quả đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) (Trang 22)
Bảng 3: Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Mức tiết kiệm trong đấu thầu (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) (Trang 23)
Bảng 4: Mức tiết kiệm theo hình thức lựa chọn (thống kê  năm 1999 của Bộ KH&amp;ĐT): - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Mức tiết kiệm theo hình thức lựa chọn (thống kê năm 1999 của Bộ KH&amp;ĐT): (Trang 24)
Hình thức  lựa chọn  nhà thầu - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Hình th ức lựa chọn nhà thầu (Trang 24)
Bảng 5: Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo  thời gian (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo thời gian (Nguồn: Bộ KH&amp;ĐT) (Trang 25)
Sơ đồ 2: Quy trình đấu thầu theo quy định của ADB - Quản lý đấu thầu Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 2 Quy trình đấu thầu theo quy định của ADB (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w