Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là do các ngân hàng này đã coi nhẹ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng cụ thể ở đây là tín dụng nhà đất mà chỉ chú trọng phát tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY
SINH VIÊN : NGUYỄN THỊ QUỲNH
MÃ SINH VIÊN : A09994 CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 2NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thùy Dương Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Quỳnh
Mã sinh viên : A09994 Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp trường Đại học Thăng Long ngày tháng năm 2010
Điểm bảo vệ:
HÀ NỘI - 2010
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 11
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 11
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 12
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 14
1.1.4 Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 15
1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 17
1.2.1 Khái niệm 17
1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng 19
1.2.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 20
1.3 Chất lượng hoạt động tín dụng 22
1.3.1 Quan điểm chất lượng tín dụng 22
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 23
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 27
1.4.1 Các nhân tố khách quan (nhân tố bên ngoài quan hệ tín dụng) 27
1.4.2 Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong quan hệ tín dụng) 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY 34
2.1 Tổng quan về ngân hàng nông ngiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy 34
Trang 42.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy 35
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong các năm qua 39
2.2.1 Công tác huy động vốn 39
2.2.2 Đối với hoạt động tín dụng 42
2.2.3 Đối với hoạt động dịch vụ 44
2.2.4 Các kết quả tài chính 45
2.3 Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Cầu Giấy 48
2.3.1 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời gian 48
2.3.2 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế 49
2.3.3 Hiệu suất sử dụng vốn 50
2.3.4 Vòng quay vốn tín dụng 51
2.3.5 Tình hình nợ xấu 51
2.4 Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy 52
2.4.1 Những kết quả đạt được 52
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY 60
3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn quận Cầu Giấy trong thời gian tới 60
Trang 53.1.1 Định hướng phát triển của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam 60
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong thời gian tới 64
3.2.1 Giải pháp trong công tác quản lý nợ và xử lý nợ quá hạn 65
3.2.3 Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu dài với khách hàng 68
3.2.4 Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu thị trường và hoạt động marketing 69
3.2.5 Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 70
3.2.6 Đa dạng hóa các hình thức tín dụng, không ngừng nâng cao chất lượng công tác tư vấn cho khách hàng về phương hướng sản xuất kinh doanh, xây dựng các phương án đầu tư 71
3.2.7 Sử dụng có hiệu quả công tác đòn bẩy kinh tế trong xã hội 72
3.2.8 Xây dựng và sử dụng hợp lý quỹ dự phòng tổn thất tín dụng 73
3.2.9 Tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát 74
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy 74
3.3.1 Đối với Chính phủ và ngân hàng Nhà nước Việt Nam 75
3.3.1.1 Hoàn thiện tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng 75
3.3.1.2 Từng bước hoàn thiện chính sách của Nhà nước cho phù hợp với yêu cầu trình độ phát triển của nền kinh tế, để chỉ đạo hoạt động tín dụng của các ngân hàng………68
3.3.2 Đối với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 78
KẾT LUẬN 80
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hoạt động huy động vốn của NHN o & PTNT chi nhánh Cầu Giấy 40
Bảng 2: Hoạt động tín dụng của Chi nhánh NHN o & PTNT Cầu Giấy 43
Bảng 3: Kết quả tài chính của chi nhánh NHNo & PTNT Cầu Giấy 46
Bảng 4: Cơ cấu dư nợ theo thời gian 48
Bảng 5: Hiệu suất sử dụng vốn 50
Bảng 6 : Vòng quay vốn tín dụng 51
Bảng 7: Tỷ lệ nợ xấu 52
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ : Bộ máy tổ chức của chi nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy 37
Biểu đồ 1: Hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHNo & PTNT quận Cầu Giấy39 Biểu đồ 2: T ình hình tài chính của chi nhánh NHNo & PTNT quận Cầu Giấy 47
Biểu đồ 3: dư nợ theo thành phần kinh tế 48
Biểu đồ 4: Dư nợ theo thành phần kinh tế 49
Biểu đồ 5: Hiệu suất sử dụng vốn của chi nhánh NHN o & PTNT Cầu Giấy 50
Trang 7DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
D/P Nhờ thu chấp nhận chứng từ
L/C Phương thức thư tín dụng
phát triển nông thôn KQKD Kết quả kinh doanh SXKD Sản xuất kinh doanh XLRR Xử lý rủi ro
SWIFT Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
hàng
Trang 8TCTD Tổ chức tín dụng TCKT Tổ chức kinh tế TCXH Tổ chức xã hội
WTO Tổ chức thương mại thế giới VNĐ Việt Nam đồng
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2008 vừa qua, kinh tế thế giới đã phải đối mặt với cuộc suy thoái, khủng hoảng kinh tế được coi là tồi tệ nhất kể từ hai cuộc đại khủng hoảng năm 1930 và năm
1997 Hàng chục, hàng trăm công ty, ngân hàng lớn nhỏ, trong đó có các công ty tài chính hàng đầu thế giới phải lao đao, thậm chí phá sản Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ nước Mỹ, trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới Dư chấn của nó lan ra khắp thế giới Nguyên nhân chính là do khủng hoảng tín dụng nhà đất tại nước này
Các ngân hàng tại Mỹ trước đây đã quá dễ dãi trong việc cho vay tín dụng để mua nhà đất, họ đã cho khách hàng vay mua nhà vượt quá khả năng tài chính của người mua Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là do các ngân hàng này đã coi nhẹ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng (cụ thể ở đây là tín dụng nhà đất) mà chỉ chú trọng phát triển, mở rộng qui mô một cách tràn lan và bất chấp các nguyên tắc an toàn trong hoạt động tín dụng Sự sụp đổ của các ngân hàng hàng đầu thế giới có lịch sử hàng trăm năm khiến cho không ít người lo ngại về tương lai của ngành ngân hàng
Tín dụng trong điều kiện trong nền kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng Tại Việt Nam, trong hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay thì hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống,
là nền tảng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng là hoạt động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro cho các Ngân hàng thương mại
Chính vì nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh quận Cầu Giấy – Hà
Nội, em đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi
nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy" làm đề tài luận văn
ưu điểm sẵn có
Trang 103 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh
quận Cầu Giấy trong giai đoạn 2006-2008
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin
- Phương pháp điều tra, thống kê, so sánh, phân tích các số liệu thực tiễn nhằm
lượng hoá vấn đề
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo &
PTNT chi nhánh quận Cầu Giấy
Trang 11CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mục tiêu của chương 1 là nghiên cứu lý luận những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng… Tuy nhiên để có cái nhìn tổng quan nhất về chất lượng tín dụng, em sẽ trình bày khái quát về tổng quan của một Ngân hàng thương mại
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Hệ thống ngân hàng ra đời từ những năm trước thế kỷ 15 và có một quá trình phát triển lâu dài từ ngân hàng sơ khai đến ngân hàng hiện đại như ngày nay Cùng với sự phát triển đó, có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về ngân hàng Mỗi trường phái kinh tế hay đạo luật khác nhau khi đưa ra quan điểm đều phải xuất phát từ đặc thù về hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên do hệ thống của các ngân hàng ngày càng đa dạng về dịch
vụ của mình nên khi đưa ra định nghĩa sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau
Theo Wold Bank, ngân hàng là tổ chức nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm
Theo luật pháp nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu như bằng cách viết Séc hay bằng việc rút tiền điện
tử và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng
Trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mọi người được tự do hóa kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền
sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau, hoàn thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hóa phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của những loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Để
Trang 12tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân thì việc đưa ra khái niệm ngân hàng là hết sức cần thiết
Theo nghị định của Chính phủ số 49/2000 NĐ – CP ngày 12/09/2000 định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hện các mục tiêu kinh tế Nhà nước” Như vậy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế để cho vay đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác
Ngày nay có rất nhiều định chế tài chính phi ngân hàng bao gồm các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng phải đối phó với các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với những chính sách không ngừng thay đổi của họ bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ khác Từ đó, có thể xem ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions) đóng vai trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức các khoản vay trực tiếp
Với vị trí quan trọng đó, ngân hàng thương mại đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong nền kinh tế như:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền
tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, ngân hàng thương mại hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này, ngân hàng
Trang 13thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay và tìm kiếm lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia là người gửi tiền và người đi vay
Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình
thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc
chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực và thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Đặc biệt là đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng, tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ
Với chức năng này, ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng,…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền
để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này mô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản,…
Trang 14Ngân hàng thương mại thu phí thanh toán để làm tăng thu nhập cho ngân hàng Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng
1.1.2.3 Chức năng tạo “bút tệ” hay tiền ghi sổ trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính, làm trung gian giữa cung và cầu về vốn tiền tệ Ngoài việc thu hút tiền gửi và cho vay trên số tiền gửi đó, ngân hàng thương mại còn tạo tiền khi phát tín dụng Nghĩa là vốn phát qua tín dụng không nhất thiết dựa trên vàng hay tiền giấy đã gửi vào ngân hàng, tiền vay không trên cơ sở số tiền gửi mà khoản tín dụng đó được ngân hàng tạo ra tiền để cho vay gọi là
“bút tệ” hay “tiền ghi sổ” Khi hết hạn vay, người vay trả nợ ngân hàng, tiền vay rút khỏi lưu thông, trở lại ngân hàng và tiền bị hủy bỏ Trong phạm vi nền kinh tế, hoạt động cho vay và trả nợ diễn ra thường xuyên, hàng ngày, có tiền tạo ra và tiền hủy đi Khối lượng tiền tệ trong lưu thông tăng lên khi luồng tiền tạo ra (phá tiền tệ) lớn hơn luồng tiền hủy đi (trả nợ ngân hàng)
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước làm thay đổi cơ bản nền kinh tế với những chỉ số kinh tế ngày càng khả quan, hệ thống ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng Những đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam được coi là khâu đột phá,
có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế
1.1.3.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại một lượng tiền nhàn rỗi Đối với những cá nhân thì lượng tiền nhàn rỗi này có thể được hình thành do nhu cầu tiết kiệm để chi tiêu trong tương lai hay lấy lãi Đối với các tổ chức kinh tế, lượng tiền này có thể được hình thành
do nhu cầu chi tiêu cho hoạt động kinh doanh, nhu cầu thanh toán cho nhà cung cấp Xuất phát từ những đòi hỏi như thế phải có một lượng tiền nhàn sẵn sàng cho những nhu cầu trên Nhưng như thế hiệu quả sử sụng hay tính sinh lời của đồng tiền hầu như là không có
Sự có mặt của ngân hàng đã tăng được hiệu quả của nguồn vốn nhàn rỗi này mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu của người gửi tiền
Chính vì thỏa mãn được nhu cầu của cả người đi vay và người cho vay mà hoạt động huy động vốn đã cung cấp cho nền kinh tế những nguồn vốn cần thiết, góp phần tăng GDP cho toàn nền kinh tế
Trang 151.1.3.2 Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Xu hướng toàn cầu hóa thương mại đang lan dần ra toàn bộ các nền kinh tế trên thế giới Thị trường ngày càng được mở rộng về quy mô, nâng cao về yêu cầu, chính vì vậy những nhà cung cấp sản phẩm muốn tồn tại và phát triển không những thỏa mãn được yêu cầu của thị trường mà còn phải đua nhau vượt lên những đối thủ cạnh tranh khác Với yêu cầu đó buộc doanh nghiệp phải đầu tư vào con người, vào công cụ lao động (máy móc thiết bị), vào công nghệ và cả mạng lưới phân phối Với mục tiêu nặng nề cần phải theo đuổi như thế, ngân hàng đóng vai trò là một trợ thủ giúp đỡ cho doanh nghiệp về kế hoạch kinh doanh hiệu quả và về nguồn vốn, giúp cho doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường
1.1.3.3 Ngân hàng thương mại là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước có 6 công cụ chính để tác động đến nền kinh tế thông qua các ngân hàng thương mại đó là tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng Bằng 6 công cụ này Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh và kiểm soát các ngân hàng thương mại, tác động đến luồng tiền ra, vào của các ngân hàng thương mại, tức là tác động đến cung tiền trong xã hội Ảnh hưởng đến hai vấn đề quan trọng của nền kinh tế đó là Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát Ngân hàng thương mại góp phần đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục
Mọi sự tác động từ kinh tế thế giới, mọi dấu hiện của khủng hoảng, lạm phát, suy thoái,… hầu hết đều có thể nhìn thấy qua hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời cũng
có thể thông qua chính hệ thống ngân hàng này mà có những tác động tích cực ngược trở lại nhằm điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô
1.1.4 Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Với phương châm “đi vay để cho vay” nguồn vốn huy động là nguồn nguyên liệu chính, đóng
Trang 16vai trò quyết định và mang tính chất sống còn đối với hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các hình thức tiền gửi khác
Phát hành các giấy tờ có giá, bao gồm: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng: các Tổ chức tín dụng được vay vốn của nhau
và của tổ chức tín dụng nước ngoài
Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước
1.1.4.2 Hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước Đây là hoạt động có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại
Về cho vay: Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hạn: nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và đời sống
+ Cho vay trung và dài hạn: để thực hiện các dự án hoặc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống
Về bảo lãnh: Ngân hàng bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại
Về chiết khấu: Ngân hàng chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá của ngân
hàng khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu, các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức tín đụng khác
Về cho thuê tài chính: Ngân hàng cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty
cho thuê tài chính riêng Việc thành lập tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài
Trang 17Tóm lại, trong các hoạt động cấp tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất (theo Nghị định số 49/2000/NĐ – CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại)
1.1.4.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng Nhà nước đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
Cung cấp các phương tiện thanh toán
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và ngoài nước
Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ cho khách hàng
Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được ngân hàng Nhà nước cho phép
Các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước
1.1.4.4 Các hoạt động khác
Hoạt động của ngân hàng thương mại rất phong phú và có phạm vi rộng lớn ở quy mô, tính toàn cầu, tính hiện đại trong công nghệ ngân hàng Ngoài các hoạt động cơ bản trên, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm: “góp vốn và mua cổ phần, tham gia vào thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính,…”
1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động
Trang 18để thỏa thuận tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Trong thực tế, hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng, nhưng ở bất cứ hình thức nào thì tín dụng cũng luôn là một quan hệ kinh tế của nền sản xuất hàng hóa – tiền
tệ Mục đích, tính chất của tín dụng do mục đích, tính chất của nền sản xuất hàng hóa trong xã hội quyết định Sự vận động của tín dụng luôn luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, của phương thức sản xuất trong xã hội đó
Tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau
(1) Cho vay vốn
(Borrower)
Chủ thể đi vay Chủ thể cho vay
(Lender)
Như vậy, quan hệ tín dụng là bao gồm hai mối quan hệ cơ bản cho vay và hoàn trả Mối quan hệ tín dụng chỉ được hoàn tất và kết thúc khi người vay đã hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay Lượng giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng
(2) Hoàn trả vốn và lãi
Trong quan hệ tín dụng với các Tổ chức kinh tế, các cá nhân, ngân hàng vừa đóng vai trò là người cho vay vừa đóng vai trò là người đi vay Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để hy động vốn trong xã hội Với tư cách là người cho vay, ngân hàng cung cấp tín dụng cho các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế
Cũng như các quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng
Sự chuyển nhượng này mang tính chất tạm thời hay có thời hạn
Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
Trang 191.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cho thấy vai trò thiết yếu của tín dụng ngân hàng với sự vận hành của nền kinh tế Đặc biệt là với nền kinh tế hội nhập và phát triển như ngày nay, ngân hàng như một mạng lưới nối kết, dẫn dắt những luồng tiền từ nơi này đến nơi khác một cách nhanh chóng, hiệu quả Hoạt động tín dụng đảm bảo đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân trong nền kinh tế Vai trò tín dụng ngân hàng được thể hiện ở 3 cấp độ sau:
1.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Trong xã hội luôn có những người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho nhau vay, hoặc
có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời Chính vì vậy, xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế, tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò như một chiếc cầu nối giữa người có vốn và người cần vốn để giải quyết nhu cầu thỏa đáng trong mối quan hệ này Tín dụng ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu về vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững
Mặt khác, trong quá trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanh toán cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng thanh toán, chi trả của khách hàng
Trong quá trình cho vay để tránh rủi ro, ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả năng tài chính và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho xã hội
1.2.2.2 Đối với ngân hàng
Nhờ vào hoạt động tín dụng ngân hàng mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng có thể tăng cường kiểm tra, giám sát với khách hàng vay vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chung của nền kinh tế quốc dân Hoạt động tín dụng là hoạt động chính đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, song nó cũng mang lại rủi ro cao nhất Song song với nỗ lực huy động vốn, các ngân hàng thương mại còn phải cố gắng tối
đa trong việc cấp tín dụng cho cá nhân và tổ chức kinh tế trong và ngoài nước Nó đòi hỏi ngân hàng phải kiểm soát khả năng trả nợ của khách hàng Phán đoán được khả năng này
Trang 20nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng và hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng khoản mục cho vay thường chiếm từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng Mặc dù các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro và chi phí cao khi kinh doanh loại hình hoạt động này, song các ngân hàng đều tập trung khai thác,
mở rộng hoạt động này một mặt giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng; mặt khác, tạo điều kiện đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng
1.2.2.3 Đối với khách hàng
Thông qua hoạt động tín dụng, tín dụng ngân hàng đã góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông, ổn định thị trường Chi phí giao dịch là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay không của khách hàng Với mỗi khoản giao dịch, có các khoản chi phí cố định (chiếm tỷ lệ chủ yếu) và các chi phí khác phụ thuộc từng loại giao dịch, do vậy với khối lượng giao dịch càng nhỏ thì chi phí giao dịch bình quân cho mỗi đồng vay, cho vay càng lớn Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chuyên môn hóa trong lĩnh vực này nên nó sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí giao dịch cho khách hàng (có thể giao dịch với lượng tiền lớn)
Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế cũng như nhu cầu phát triển của các tổ chức trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt quyết liệt như ngày nay thì nhu cầu về vốn để đổi mới trang thiết bị công nghệ sản xuất, mở rộng mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ là rất lớn Do đó mở rộng nguồn vốn để đầu tư là một yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khác Thực
tế cho thấy phần vốn chủ yếu huy động được là từ các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là từ các ngân hàng thương mại thông qua các hình thức vay mới, chiếm tỷ trọng lớn (61,9% - theo số liệu thống kê của Viện kinh tế Việt Nam năm 2006)
Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế quốc gia gắn liền với thị trường thế giới, kinh tế “đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở”, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh tế các nước với nhau
1.2.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một
số tiêu thức nhất định Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề thiết lập các
Trang 21quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng, và nó dựa vào các tiêu thức sau:
1.2.3.1 Phân loại theo thời gian
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng để bù
đắp khoản thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Do thời gian hoàn vốn nhanh nên cho vay ngắn hạn là loại có mức rủi ro thấp, vì vậy lãi suất thấp hơn so với các loại hình cho vay khác
Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm, được sử
dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh
Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên
tới 20 – 30 năm, cá biệt lên tới 40 năm Đây là loại hình tín dụng được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn: cây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô, xây dựng xí nghiệp mới… Hình thức tín dụng này có thời gian dài nên có độ rủi ro cao nhất
1.2.3.2 Phân loại theo mục đích sử dụng vốn
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà
ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải chi phí sản xuất như: phân bón,
thuốc trừ sâu, giống cây trồng…
Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng, các công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng…
Cho vay tiêu dùng: Là cho vay để đáp ứng các nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, đầu tư
cơ sở hạ tầng như trạm xá, điện, nước sạch…phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt trong một khu vực dân cư Cho vay tiêu dùng là một loại hình cấp tín dụng khá mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên loại hình này đang được diễn ra khá phổ biến Cho vay tiêu dùng đã góp phần nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân
1.2.3.3 Phân loại theo xuất xứ tín dụng
Cho vay trực tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp Ngân hàng
trực tiếp cung cấp vốn cho khách hàng và khách hàng trực tiếp trả nợ cho ngân hàng
Trang 22Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua tổ chức trung gian Ngân
hàng cho vay thông qua các tổ đội, hội, nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, hội Phụ nữ… Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường
có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán cách xa ngân hàng Phương thức cho vay này cũng giảm bớt rủi ro và chi phí cho ngân hàng
Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng không phải cung cấp bằng tiền nhưng nếu khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải có nghĩa vụ thanh toán thay
1.2.3.4 Phân loại khác
Theo rủi ro: Tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu
hồi, nợ quá hạn khó đòi,…
Theo mục đích: Sản xuất, tiêu dùng…
Theo hình thức cấp tín dụng: Chiết khấu thương phiếu, cho vay, cho thuê tài
sản…
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng và chuyên môn hóa trong cấp tín dụng của ngân hàng Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì các lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế Nó cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lời gắn liền với lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, đảm bảo hạn mức phù hợp
1.3 Chất lượng hoạt động tín dụng
1.3.1 Quan điểm chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là Ngân hàng và khách hàng
Theo từ điển Kinh tế - Ngân hàng: “Chất lượng tín dụng là hiệu quả cho vay vốn (hay đầu tư, bảo lãnh) mang lại khả năng thu hồi đầy đủ, đúng hạn cả vốn gốc và lãi theo đúng quy định Trong đó hiệu quả và khả năng thu hồi nợ càng lớn thì chất lượng tín
Trang 23dụng càng cao và ngược lại” Bởi vậy, chất lượng hoạt động của ngân hàng không những
phụ thuộc vào bản thân của ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Ta có thể xem xét chất lượng tín dụng dưới nhiều giác độ:
Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của
khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng
hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế
Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng Để phản ánh về chất lượng tín dụng thì có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá, nhưng nói chung người ta thường quan tâm tới tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ,
tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo Ngoài ra, để đánh giá định tính về chất lượng tín dụng, người ta còn quan tâm đến cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn – dài hạn trong tương quan
cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro cao tại thời điểm đó như bất động sản, cổ phiếu
Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa chất lượng tín dụng vào làm một chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các tổ chức tín dụng năm 2006 Chất lượng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam căn cứ vào:
Nợ xấu/Tổng dư nợ;
Nợ khó đòi/Tổng dư nợ;
Nợ khó đòi ròng (bằng nợ khó đòi – dự phòng rủi ro chưa sử dụng) nhỏ hơn hoặc
bằng 0
Trang 241.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính
Thứ nhất, uy tín của ngân hàng là một chỉ tiêu cơ bản nhất ảnh hưởng tới toàn bộ
hoạt động của ngân hàng nói chung và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nói riêng Chất lượng tín dụng tạo lòng tin cho khách hàng, cho phép ngân hàng có những khách hàng trung thành, có quan hệ thường xuyên và gắn bó lâu dài với ngân hàng Ngân hàng hoạt động chính nhờ sự tin cậy của khách hàng Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại rất khốc liệt, khách hàng chỉ đến với những ngân hàng nào mà có quan hệ tín dụng, dịch vụ tốt hơn so với những ngân hàng khác
Thứ hai, chất lượng tín dụng phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Nếu ngân hàng chú trọng vào tăng trưởng dư nợ tín dụng nhằm nâng cao lợi nhuận mà không chú trọng đến độ an toàn của đồng vốn bỏ ra thì thiệt hại là rất lớn, không những không thu được lãi mà còn mất cả vốn gốc, gây tổn thất và đe dọa đến sự tồn tại của ngân hàng Như vậy không hẳn tăng trưởng tín dụng cao đã là hiệu quả mà nhất thiết tăng trưởng phải chú trọng tới sự tồn tại và sự phát triển trong dài hạn, đảm bảo chất lượng cho toàn danh mục cho vay trong dài hạn
Mặt khác, chất lượng tín dụng góp phần phát triển sản xuất kinh doanh và lành mạnh tài chính của khách hàng, chất lượng tín dụng tốt có nghĩa là ngân hàng phát triển tốt nhờ vậy ngân hàng có điều kiện cung cấp vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của khách hàng Các doanh nghiệp đều cố gắng rút ngắn thời gian thực hiện một chu kì sản xuất nhằm nhanh chóng thu hồi lại vốn nhờ vậy vòng quay vốn sẽ tăng Thực
tế đã chứng minh rằng những doanh nghiệp có quy mô lớn thường có ưu thế trong cạnh tranh vì vậy các doanh nghiệp phải vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới công nghệ, có như vậy mới đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh
Thứ ba, chất lượng tín dụng đi đến cùng phải góp phần làm tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế xã hội Chất lượng tín dụng góp phần kìm chế lạm phát, ổn định tiền tệ Khi mà số lượng hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông mất cân bằng (tiền > hàng) sẽ gây ra lạm phát Để chống đỡ với lạm phát, Chính phủ có thể áp dụng nhiều biện pháp nhưng một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là sử dụng công cụ tín dụng ngân hàng mà cụ thể là lãi suất tín dụng Để hạn chế việc chi tiền cho nền kinh tế và giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, ngân hàng có thể nâng lãi suất tiền gửi và từ đó tăng lãi suất cho vay để thu hút tiền thừa trong nền kinh tế về Vì lãi suất cao thì các doanh nghiệp hạn chế vay tiền, ngân hàng có thể giảm chi cho nền kinh tế và như vậy sẽ hạn chế được lạm phát Có
Trang 25thể nói tín dụng là công cụ rất hiệu quả trong việc bơm tiền vào lưu thông cũng như hút tiền từ lưu thông về Nó là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ Bên cạnh đó, nếu như tăng trưởng và phát triển kinh tế không đồng đều, lợi ích chỉ đến với một bộ phận cục bộ mà gây tổn thất cho đại bộ phận còn lại thì tổng lợi ích tạo ra là âm, kìm hãm sự phát triển của toàn xã hội, không thể tăng trưởng bền vững và lâu dài
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng nguồn vốn huy động được
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả sử dụng vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn 1 Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì ngân hàng thương mại phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán Nếu hiệu suất sử dụng vốn thấp phải tăng trưởng dư nợ hoặc giảm vốn huy động bằng cách hạ lãi suất huy động, hạn chế rủi ro nguồn vốn tác động đến chất lượng tín dụng Qua đó
ta thấy rằng việc vận dụng một cách linh hoạt giữa nguồn vốn đi vay và sử dụng vốn
đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Vòng quay vốn tín dụng :
Hàng năm ngân hàng đánh giá khả năng tổ chức, quản lý vốn tín dụng và chất
lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua chỉ tiêu này
Doanh số thu nợ/năm
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân/năm
Trang 26Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn: với một đồng vốn của ngân hàng trong một năm được sử dụng cho vay mấy lần Nếu tỷ lệ vòng quay vốn tín dụng càng cao thì
kỳ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, hiệu quả hoạt động tín dụng tốt Bởi vì kỳ luân chuyển vốn tín dụng càng nhanh thì công tác thu nợ trong kỳ tốt và ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp, phản ánh việc thu nợ kém, vốn tín dụng bị “đóng băng”
Tỷ lệ nợ xấu cao biểu hiện chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng thấp, rủi
ro trong hoạt động cao Phần lớn các khoản nợ xấu là các khoản nợ "có vấn đề", có thể
bị mất một phần, có thể bị mất toàn bộ vốn cho vay
c Dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng là một khoản tiền trích từ thu nhập để hình thành một khoản dự trữ bù đắp cho khoản tổn thất có thể xảy ra Theo quy định dự phòng tổn thất tín dụng là một khoản chi phí ngoài lãi, phát sinh làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, giảm tài sản trên bảng Cân đối kế toán Dự phòng rủi ro phản ánh mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng vì dự phòng rủi ro tín dụng càng cao thì có nghĩa là nợ xấu càng cao
d Thu nhập từ hoạt động cho vay:
Thu nhập của ngân hàng thương mại gồm nhiều loại khác nhau như thu lãi cho vay, thu lãi tiền gửi và thu từ các hoạt động khác nhưng hoạt động tín dụng là mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ khoản vay lành mạnh, có chất lượng cao Ngân hàng thu hồi được cả gốc và lãi đúng hạn, đảm bảo được an toàn cho nguồn vốn vay Mặt khác nguồn thu từ hoạt động tín dụng cũng
là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển Thu nhập từ hoạt động tín dụng được xét bằng lãi từ hoạt động cho vay trên tổng thu nhập và cho biết tỷ lệ lãi
Trang 27phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu Với cùng một mức thu nhập, ngân hàng nào càng giảm được chi phí đầu vào thì tỷ lệ này càng lớn, điều này nói lên rằng ngân hàng hoạt động tốt Đó là nhân tố tạo nên chất lượng tín dụng
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Lãi từ hoạt động cho vay
Thu nhập từ hoạt động cho vay =
Tổng thu nhập
Như vậy không thể nói rằng chất lượng tín dụng là cao nếu thu nhập mang lại từ hoạt động này không góp phần nâng cao khả năng sinh lời cả ngân hàng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Chất lượng hoạt động tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của Ngân hàng Thu nhập từ hoạt động cho vay là chỉ tiêu cần thiết để đo lường khả năng sinh lời của Ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của một ngân hàng Hoạt động tín dụng phát triển kéo theo các hoạt động khác của ngân hàng phát triển Nâng cao chất lượng tín dụng đã, đang, và sẽ là cái đích mà tất cả các ngân hàng thương mại hướng tới Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, bên cạnh các nhân tố từ chính ngân hàng, còn
có những nhân tố từ khách hàng của ngân hàng và các nhân tố khách quan khác
1.4.1 Các nhân tố khách quan (nhân tố bên ngoài quan hệ tín dụng)
1.4.1.1 Môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại
Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng Một nền kinh tế ổn định tỷ, lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao tức là các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp hoạt động kinh
Trang 28doanh cũng thất thường, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng
Chu kỳ kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng Trong thời kỳ suy thoái, sản xuất vượt quá nhu cầu dẫn tới hàng tồn kho lớn, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp không phát triển được Hơn nữa nếu ngân hàng bỏ qua các nguyên tắc tín dụng thì lại càng làm giảm chất lượng tín dụng Ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu tín dụng tăng và rủi ro ít, do đó chất lượng tín dụng cũng tăng Tuy nhiên trong thời kỳ này có những khoản vay vượt quá quy mô sản xuất cũng như khả năng quản
lý của khách hàng nên những khoản vay này vẫn gặp rủi ro
1.4.1.2 Môi trường xã hội
Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở lòng tin Nó là cầu nối giữa ngân hàng
và khách hàng Đạo đức xã hội ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng Hơn nữa trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng sẽ làm giảm chất lượng tín dụng
1.4.1.3 Môi trường tự nhiên
Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn… làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ
đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức đúng đắn các yếu tố trên cùng với kết quả hoạt động thực tiễn của các Ngân hàng thương mại,
để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phụ có tính khả thi cao
1.4.1.4 Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước
Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất lượng tín dụng Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu hồi nợ và ngược lại
Trang 29Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, hay thay đổi sẽ làm cho hoạt động kinh doanh gặp khó khăn Ngược lại nếu nó phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt kết quả cao
1.4.2 Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong quan hệ tín dụng)
1.4.2.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
a Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng là một trong những chính sách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Đó là yếu tố đầu tiên tác động đến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế
Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Ngược lại, một chính sách không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận ngân hàng, khi cho vay quá chú trọng về lợi tức, đặt
ra mong ước về lợi tức cao hơn các khoản cho vay lành mạnh sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng tín dụng Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp Ví dụ như với các khách hàng có uy tín với ngân hàng thì ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưu đãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo là cần thiết
Ngoài ra trong thể lệ cho vay có nhiều sơ hở để khách hàng lợi dụng, chiếm đoạt vốn của ngân hàng Bất cứ ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải
có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như của thị trường
b Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Nó bao gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ Trong đó khâu chuẩn bị cho vay có vâi trò rất quan trọng đối với quy trình tín dụng
Khâu chuẩn bị cho vay bao gồm 3 giai đoạn là khai thác và tìm kiếm khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn Chất lượng tín dụng tốt hay xấu tuỳ thuộc
Trang 30nhiều vào chất lượng công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng ngân hàng thương mại
Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng
Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng
Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt, thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp Ví dụ như đối với các dự án lớn, bước phân tích là rất quan trọng Thậm chí có trường hợp quá phức tạp, ngân hàng phải thành lập tổ thẩm định riêng Đối với những món vay tiêu dùng, việc giám sát mục đích sử dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn
Trang 31tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo taì chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều nơi Từ đó phân tích được khả năng quản lý và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không
Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị trường…dự đoán trước được những biến động có thể xẩy ra từ đó tư vấn lại cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp
e Kiểm soát nội bộ
Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra; phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ đó đề
ra các biện pháp giải quyết kịp thời
Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng
1.4.2.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh Vì vậy, khách hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Trang 32phân phối và khuyếch trương sản phẩm thì sẽ dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh Từ
đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng Và ngược lại năng lực của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng lớn, vốn vay càng được sử dụng có hiệu quả
b Sự trung thực của khách hàng
Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Nếu các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không cung cấp các số liệu trung thực, vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh cũng như việc quản lý vốn vay của khách hàng để qua đó có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn
Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ đúng hạn
c Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những biến cố (sự kiện) xảy ra ngoài mong muốn và đem lại hậu quả xấu Rủi ro trong kinh doanh là một yếu tố tất yếu như người ta
thường nói “rủi ro là người bạn đồng hành của kinh doanh” Rủi ro phát sinh muôn màu
muôn vẻ và là hệ quả của những nhân tố chủ quan hay khách quan, nhưng chủ yếu là những nhân tố khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp
Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình thái khác nhau như thiên tai, hoả hoạn hoặc do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém hay là nạn nhân của sự thay đổi chính sách của nhà nước, bị lừa đảo, trộm cắp vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn
Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức đúng đắn các yếu tố trên, cùng với kết quả hoạt động thực tiễn của các Ngân hàng thương mại,
để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phụ có tính khả thi cao
Trang 33Kết luận chương 1: Chương này đã cho chúng ta hiểu biết sâu hơn các vấn đề về
tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thơng mại, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng nói riêng và của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy nói riêng Từ đó chúng ta sẽ tập chung nghiên cứu vào nội dung chính của luận văn đó là trình bày thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy
Trang 34CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH QUẬN CẦU GIẤY
2.1 Tổng quan về ngân hàng nông ngiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày 6/5/1951 Chính phủ ra sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Đây là bước phát triển mới trong bối cảnh đất bước ta còn gặp nhiều khó khăn Để đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp đổi mới này, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nghị quyết số 53 quyết định thành lập các ngân hàng chuyên doanh và hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp ra đời từ đó
Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ngân hàng hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tất cả các chi nhánh ngân hàng Nhà nước huyện, phòng Tín dụng nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Trung ương được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ tín dụng nông nghiệp ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng thương nghiệp, ngân hàng đầu tư và xây dựng, Vụ kế toán và một số đơn vị
Theo quyết định số 280/QĐ – NHNN ngày 15/11/1996 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước và được sự ủy quyền đổi tên của Thủ tướng Chính phủ đã quy định: Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đổi tên thành ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam và hoạt động theo mô hình tổng Công ty 90 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam luôn hoạt động theo định hướng chiến lược là củng cố và giữ vững thị trường nông thôn, tiếp cận nhanh và từng bước chiếm lĩnh thị phần tại thị trường thành thị, phát triển kinh doanh đa năng, hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước
Sau một thời gian dài hoạt động ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trở thành ngân hàng lớn nhất Việt Nam, có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc với trên 2.230 chi nhánh và điểm giao dịch được bố
Trang 35trí trải đều từ miền Bắc xuống miền Nam, từ miền núi cao hẻo lánh đến các vùng hải đảo
xa xôi Ngân hàng luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý nhằm đáp ứng mọi yêu cầu thanh toán xuất – nhập khẩu của khách hàng Hiện nay ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý với 931 ngân hàng tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ
Và cũng xuất phát từ chính nhu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động đó và nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, ngày 01/04/1996 Tổng giám đốc ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam ký quyết định số 18/NHN-02 thành lập chi nhánh NHNo
& PTNT quận Thanh Xuân trực thuộc NHNo & PTNT Hà Nội, địa chỉ giao dịch là 106 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
Ngày 03/07/1996, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Thanh Xuân khai trương và chính thức đi vào hoạt động với tư cách là một ngân hàng cấp
4 Sau một thời gian hoạt động, ngày 01/01/1999 NHNo & PTNT được nâng cấp lên thành Ngân hàng cấp 3, loại 2 Một năm sau, ngân hàng được nâng lên thành ngân hàng cấp 2, loại 4, trực thuộc ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội
Ngày 01/12/2007, theo quyết định 1292/QĐ/HĐQT – TCCB 29/11/2007 về việc Điều chỉnh chi nhánh từ cấp 2 trực thuộc NHNo & PTNT Hà Nội sang cấp 1 trực thuộc ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Hiện nay chi nhánh NHNo & PTNT có trụ sở tại số 90, đường Láng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Căn cứ vào chiến lược kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy xây dựng mục tiêu kinh doanh của mình trên cơ sở phù hợp với tình hình phát triển kinh tế tại địa phương với mục tiêu kinh doanh đảm bảo an toàn, hiệu quả
Với chiến lược phát triển đúng đắn, sự chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo, sự nhiệt tình
và tinh thần lao động sáng tạo hiệu quả của toàn thể cán bộ nhân viên, hàng năm ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy đã hoàn thành tốt chỉ tiêu của tỉnh giao cho
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cầu Giấy
Chi nhánh Cầu Giấy là chi nhánh cấp 2, loại 4, hoạt động theo quy chế tổ chức do NHNo & PTNT Việt Nam ban hành dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc gồm một giám đốc
Trang 36và hai phó giám đốc phụ trách những mảng công việc khác nhau, giám sát các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Cụ thể:
Giám đốc: Phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo Phòng kinh doanh và các phòng
giao dịch
Phó giám đốc: Được sự ủy quyền hàng năm của giám đốc phụ trách phòng kế
toán ngân quỹ và các phòng giao dịch về công tác kế toán ngân quỹ Hiện nay, Phó giám đốc của chi nhánh là trưởng ban quản lý kho quỹ đồng thời là trưởng ban ATM
Tổng số cán bộ công nhân viên hiện nay của chi nhánh là 38 người, trong đó 9 người
có trình độ cao đẳng chiếm 23,68%, 21 người có trình độ đại học chiếm 55,26%, còn lại
là chưa qua đào tạo Trong tổng số 38 cán bộ công nhân viên có 9 người hợp đồng, 29 người biên chế
Bộ máy tổ chức của chi nhánh được cơ cấu như sau:
Ban giám đốc: 3 người gồm một Giám đốc và hai Phó giám đốc
Giám đốc: Phan Văn Hiệp
Phó giám đốc: Phạm Thị Thu Hạnh
Phó giám đốc: Nguyễn Hữu Huân
Các phòng ban bao gồm:
Phòng hành chính nhân sự
Phòng kế toán ngân quỹ
Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ
Phòng kế hoạch kinh doanh
Trang 37Các phòng giao dịch
Phòng hành chính nhân
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy đang dần dần đổi mới cơ cấu và tổ chức nhằm đạt được một cơ cấu tổ chức hoàn thiện, một mạng lưới hoạt động phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội của địa phương để nâng cao chất lượng hoạt động
Tất cả các phòng ban được kết hợp và gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm đạt được mục đích là quản lý nhân sự có hiệu quả và chất lượng công việc được nâng cao Mô hình tổ chức hoạt động của NHNo & PTNT quận Cầu Giấy gồm các phòng ban, tổ nghiệp vụ sau:
a Phòng kinh doanh:
Phòng kinh doanh có 7 cán bộ, trong đó có 2 lãnh đạo Phòng, có nhiệm vụ chủ yếu:
Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng mới để mở rộng cho vay; khai thác các dịch vụ thu hút nguồn vốn
Đảm nhiệm các nghiệp vụ tín dụng phát sinh và thực hiện các chủ trương, cơ chế
về công tác tín dụng
Trực tiếp đi thẩm định các dự án có quy mô vừa và lớn, thu thập các thông tin từ
đó phân tích tham mưu cho Giám đốc để đưa ra quyết định cho vay hay không
Trang 38cho vay Cố vấn cho Ban giám đốc trong quá trình ra quyết định đối với các dự
án vượt thẩm quyền
Thực hiện các nghiệp vụ khác như Thanh toán quốc tế, nghiệp vụ bảo lãnh…
b Phòng kế toán ngân quỹ:
Gồm 10 người đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao dịch
Kế toán nội bộ
Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiêu nội bộ như: chi trả lương cho cán
bộ công nhân viên
Báo cáo tổng hợp thu chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc
Kế toán giao dịch
Xử lý các giao dịch như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội
Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toán cho khách hàng
Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…
Tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động và sử dụng vốn
Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên hàng
Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp trên
c Phòng Kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Có chức năng hỗ trợ cho giám đốc công ty, giám sát mọi hoạt động trong công
ty, đảm bảo mọi nhân viên thực hiện đúng nội quy, quy chế và các qui trình kiểm soát của ngân hàng
Ngoài ra, bộ phận này còn có nhiệm vụ phải báo cáo kịp thời kết quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ và đề xuất các giải pháp kiến nghị cần thiết nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động an toàn đúng pháp luật
Trang 39e Các phòng giao dịch:
Hiện nay, chi nhánh đã có 4 phòng giao dịch trực thuộc:
Phòng giao dịch 32 có địa chỉ tại số 105 Nguyễn Tuân – Hà Nội
Phòng giao dịch 33 có địa chỉ tại số 5 Nguyễn Quý Đức – Hà Nội
Phòng giao dịch 34 có địa chỉ tại số 106 Khương Trung – Hà Nội
Phòng giao dịch 46 có địa chỉ tại số 74 Đường Trường Chinh – Hà Nội
Bốn phòng giao dịch gồm có 4 trưởng phòng và các giao dịch viên thực hiện các nghiệp vụ huy động nguồn vốn, cho vay cầm cố các giấy tờ có giá, thực hiện các hoạt động dịch vụ như chuyển tiền,…
2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh quận Cầu Giấy trong các năm qua
2.2.1 Công tác huy động vốn
Huy động vốn là một trong hai công tác chính của ngân hàng và tổ chức tín dụng Trong kinh doanh ngân hàng, giữa huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan hệ không thể tách rời, tác động qua lại với nhau Một nguồn vốn mạnh, cơ cấu nguồn hợp lý là điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng của một ngân hàng Bởi vậy, NHNo & PTNT quận Cầu Giấy luôn đặt công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Nguồn vốn
(Nguồn: Báo cáo KQKD của NHN o &PTNT chi nhánh Cầu Giấy năm 2006 – 2008)
Trang 40Qua biểu đồ trên ta thấy trong các năm qua, Chi nhánh ngân hàng đã làm tương đối
tốt công tác huy động vốn Nhìn chung, nguồn vốn huy động có xu hướng tăng qua các
năm, tuy năm 2007 có suy giảm nhẹ so với năm 2006 Đặc biệt năm 2008 dù có nhiều
biến động phức tạp trong tình hình kinh tế xã hội cũng như cạnh tranh mạnh mẽ giữa các
ngân hàng trong việc huy động vốn, công tác huy động vốn của chi nhánh vẫn đạt kết quả
vượt bậc Năm 2008, tổng nguồn vốn đạt 930.503 triệu đồng, tăng 541.654 triệu đồng so
với năm 2007 (tương đương 139,3 %), đạt 172% kế hoạch Nhà nước giao, trong đó nội tệ
chiếm 91%, ngoại tệ chiếm 9% tổng nguồn vốn
Bảng 1:
Hoạt động huy động vốn của NHN o & PTNT chi nhánh Cầu Giấy
Đơn vị : triệu đồng
Cơ cấu nguồn theo đồng tiền
Cơ cấu nguồn theo kỳ hạn
Phân loại theo loại nguồn
(Nguồn: Báo cáo KQKD của chi nhánh NHN o & PTNT Cầu Giấy 2006-2008)
Trong hai năm 2006 và 2007, nguồn huy động chủ yếu của chi nhánh là từ dân cư
Năm 2006, nguồn vốn huy động từ dân cư là 367.636 triệu đồng, chiếm 90% tổng nguồn