TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM SEMINAR MÔN AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM MÃ MÔN HỌC 217919 CHỦ ĐỀ 1 AN TOÀN HÓA CHẤT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM CHỦ ĐỀ 2 A[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM
NGHIỆM HÓA HỌC
CHỦ ĐỀ 3: TRÌNH BÀY NỘI QUY PHÒNG THÍ NGHIỆM QUY TẮC AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM
Giảng viên: ThS Trần Đình Hương
Ngành: Công Nghệ Kỹ Thuật Hóa Học
GVHD: Th.S Trần Đình Hương
Nhóm sinh viên thực hiện: nhóm 6
Contents
Trang 2CHỦ ĐỀ 1: AN TOÀN HÓA CHẤT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 1
I/ PHÂN LOẠI ĐỘC TÍNH VÀ TÁC HẠI CỦA HÓA CHẤT 1
Phân loại thông dụng 1
Phân loại theo chỉ số đặc tính TLm (hoặc LD 50) 2
Phân loại theo tính độc hại nguy hiểm của hóa chất 3
NHÃN HÓA CHẤT 3
TÁC HẠI CỦA HÓA CHẤT 6
Các tác hại chung 6
Bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam khi làm việc trong môi trường hóa chất và một số hóa chất độc gây bệnh nghề nghiệp 10
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP, CHUYỂN HÓA CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ 16
Sự xâm nhập, chuyển hóa và đào thải chất độc trong cơ thể 16
Sự chuyển hóa chất độc: gồm sự vận chuyển, phân bố, tích lũy và thải bỏ 18
Các yếu tố làm tăng chức năng tác hại của hóa chất 19
V/ Nguyên tắc và biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tác hại của hóa chất 22
5.1 Bốn nguyên tắc biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tắc hại của hóa chất 22
5.2 Tổ chức đội cứu hộ 29
VI/ Mối nguy hiểm của hóa chất cơ bản 30
6.13 Methanol CH3OH 41
VII/ Cách sắp xếp hóa chất trong phòng thí nghiệm 41
1 Thí nghiệm với các chất độc hại: 55
2 Thí nghiệm với các chất dễ ăn mòn: 56
3 Thí nghiệm với các chất dễ bắt lửa: 56
4 Thí nghiệm với các chất dễ cháy nổ 56
Khi làm việc với các chất dễ gây nổ như H 2, dung dịch kiềm, kim loại kiềm, axit đặc, các chất hữu cơ dễ cháy nổ,… chúng ta cần phải đeo kính bảo vệ (làm bằng thủy tinh hữu cơ) để che chở cho mắt và các bộ phận quan trọng khác trên gương mặt 56
Khẩu trang, mặt nạ phòng độc được dùng cho các công việc thí nghiệm hóa chất độc hại bởi nó rất xâm nhập vào mắt, mũi Tuy nhiên cần xem xét loại bộ lọc được sử dụng với mặt nạ phòng độc Một số chỉ hoạt động trong tình huống nhất định Ví dụ như các công việc khắc phục hậu quả trong phòng thí nghiệm yêu cầu sử dụng bộ lọc amoniac 70
Ngoài ra, mặt nạ phòng độc còn có khả năng bảo vệ cơ quan hô hấp chống lại các hạt bụi mịn có trong quá trình nghiền, sàng lọc cặn vật liệu Nếu không sử dụng có thể gây ra dị ứng và hen suyễn Mặt nạ chống bụi cũng có thể được đeo khi xử lý hoặc vận chuyển bột thí nghiệm với số lượng lớn 70
CHỦ ĐỀ 1: AN TOÀN HÓA CHẤT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Trang 3I/ PHÂN LOẠI ĐỘC TÍNH VÀ TÁC HẠI CỦA HÓA CHẤT
Hóa chất là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất được con người khai thác hoặc tạo
ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệu nhân tạo.
Hóa chất độc hại là những hóa chất dựa vào những tác động hóa học của
nó có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và động vật Nếu bị nhiễm, có thể gây tử vong, tê liệt tạm thời hoặc ảnh hưởng lâu dài gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính.
Phân loại thông dụng
Có nhiều cách phân loại hóa chất độc hại Sau đây là một số cách phân loại thường gặp:
Phân loại theo đối tượng sử dụng, nguồn gốc và trạng thái, đặc điểm nhận biết
- Theo đối tượng sử dụng hóa chất: nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, bệnh viện, dịch vụ giặt khô, thực phẩm chế biến (như phẩm màu, chất bảo quản, ).
- Theo nguồn gốc hóa chất: nước sản xuất, nơi sản xuất, thành phần hóa học, độ độc, thời gian sản xuất, hạn sử dụng.
- Theo trạng thái pha của hóa chất như: hóa chất dạng rắn (bụi kim loại, bụi than, ), hóa chất dạng lỏng và khí (dung môi hữu
cơ, hóa chất trừ sâu).
Ở đây tính vật lí, hóa học đặc thù cũng như dung lượng của các hóa chất có quan hệ tới môi trường xung quanh, đặc biệt với hóa chất cực độc và hóa chất gây cháy nổ
- Theo đặc điểm nhận biết tức thời của con người (qua màu sắc, mùi, vị) hay phân tích bằng máy.
Những hơi khí độc không màu và không cảm nhận được bằng
cơ quan hô hấp thường nguy hiểm vì khó phát hiện ngay cả khi
độ độc vượt quá mức cho phép như khí ozon,nitơ, oxit, phi kim.
- Theo tác hại nhận biết được của chất độc làm giảm sức khỏe người lao động khi tiếp xúc với hóa chất trong thời gian ngắn gây ra nhiễm độc cấp tính (hoặc chấn thương do độc) còn trong thời gian dài gây ra nhiễm độc mãn tính.
Trang 4Phân loại theo độc tính
Phân loại theo độ bền vững sinh học, hóa học và lí học của hóa chất độc tới môi trường sinh thái:
- Nhóm độc tố không bền vững với môi trường sinh thái như các hợp chất photpho hữu cơ, cacbonat bền vững trong môi trường khoảng 1-2 tuần.
- Nhóm độc tố bền trung bình với môi trường sinh thái có độ bền vững trong môi trường từ 1-18 tháng như chất 2,4D và một số thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ chứa nitơ, photpho.
- Nhóm độc tố bền vững với môi trường sinh thái có thời gian bền vững kéo dài 2-5 năm như DDT, Clorindan, 666 và những hợp chất chứa Halogen.
- Nhóm độc tố rất bền vững với môi trường sinh thái như các kim loại nặng (Hg, Pb, Cd, Cr ), chất độc màu da cam, furan, Chất độc dioxin có trong chất diệt cỏ, hay hình thành khi đốt rác chứa nhựa, hóa chất bảo quản gỗ, hoặc khi cháy biến thế điện
có thời gian bán hủy khoảng 10-18 năm trong lòng đất và khoảng 5 năm trong cơ thể người Độ bền hóa chất này còn phụ thuộc vào môi trường tự nhiên và biện pháp xử lý nhân tạo.
Phân loại theo chỉ số đặc tính TLm (hoặc LD 50)
Chỉ số TLm (hoặc LD 50) là lượng độc tố gây tử vong 50% động vật thí nghiệm như cá, chuột bạch, thỏ sau thời gian ngắn thường
là 24 giờ, 96 giờ (tức 4 ngày đêm) tính theo đơn vị TLm (mg/l), hoặc LD 50 (mg/kg cân nặng).
Dựa vào chỉ số TLm với cá sau 96 giờ và LD 50 với chuột sau khi cho uống 24 giờ người ta phân thành bốn nhóm độc tố chính:
Trang 5Phân loại theo tính độc hại nguy hiểm của hóa chất
Người ta có thể phân chia tác hại của hóa chất theo các nhóm gây
ăn mòn, cháy nổ, độc, tích tụ sinh học, độ bền trong môi trường sinh thái, gây ung thư, gây viêm nhiễm, gây quái thai, gây bệnh thần kinh ở những điều kiện sử dụng hóa chất hoặc ở môi trường xác định.
Phân loại hóa chất theo nồng độ tối đa cho phép của hóa chất (tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp).
Tiêu chuẩn vệ sinh (TCVS) công nghiệp của các hóa chất ở Việt Nam hiện nay đã được tiêu chuẩn hóa trong các tài liệu về TCVS TCVS ở mỗi quốc gia là nồng độ tối đa cho phép mà không gây nhiễm độc cấp tính và sau một thời gian tiếp xúc dài cũng không gây nhiễm độc mãn tính cũng như bệnh nghề nghiệp nếu có trang
bị bảo hộ, điều kiện làm việc và sức đề kháng của con người lao động đảm bảo Nếu nồng độ cao hơn mức cho phép, mặc dù thời gian tiếp xúc không lâu vào cơ thể người lao động khỏe mạnh, vẫn
có thể bị nhiễm độc cấp tính, thậm chí có thể chết.
NHÃN HÓA CHẤT
Nhãn hóa chất là dữ kiện vô cùng quan trọng trong việc sử dụng , tồn trữ
và sử dụng hóa chất Việc hiểu rõ được nhãn hóa chất giúp người lao động và đặc biệt là người quản lý, điều phối hóa chất biết được đặc tính
và mối nguy hại từ hóa chất để sử dụng an toàn và tồn trữ tốt, đạt hiệu quả cao nhất.
Về cơ bản, nhãn hóa chất phải thể hiện rõ các nội dung: mức độ nguy hiểm, thành phần, hàm lượng, cách bảo quản, hạn sử dụng
Hiểu rõ tính chất của nhãn hóa chất ta sẽ sắp xếp và tồn trữ hóa chất một cách an toàn Ví dụ các chất kỵ nhau sẽ xếp xa nhau, như các chất oxi hóa mạnh và khử mạnh, các chất khi gặp sự cố sẽ có tính dây chuyền nên phân nhỏ và cô lập.
Tất cả các hóa chất phải được dán nhãn, bao gồm các hóa chất chứa đựng trong thùng chứa ban đầu của nhà sản xuất, các hóa chất được chứa trong những tủ chứa, hóa chất được pha trong phòng thí nghiệm nhưng không sử dụng ngay.
- Đối với hóa chất đặt mua từ những nhà cung cấp, dán nhãn đầy
đủ các thông tin:
Tên hóa chất, tên thương mại.
Trang 6 Mức độ nguy hiểm độc hại của hóa chất.
Tên, địa chỉ nhà sản xuất, cung cấp và các đơn vị có trách nhiệm liên quan.
Số điện thoại khẩn cấp của nhà sản xuất
- Đối với các dung dịch hay hỗn hợp được pha chế trong phòng thí nghiệm nhưng không sử dụng hết cần được dán nhãn với những thông tin:
Thành phần, nồng độ các chất trong dung dịch, hỗn hợp.
Mức độ độc hại.
Tên người pha và ngày pha hóa chất.
- Đối với các hóa chất không có nhãn hoặc nhãn không đúng theo quy định:
Đối với các hóa chất biết được thành phần, cần dán nhãn lại theo đúng quy định của phòng thí nghiệm và sắp xếp theo đúng quy định phòng thí nghiệm.
Đối với các hóa chất không xác định được thành phần, cần xếp vào tủ riêng và mang đi xử lý.
- Đối với các ống dẫn trong phòng thí nghiệm, với những phòng thí nghiệm có những ống dẫn khí hay hóa chất khó nhìn thấy cần được dán nhãn và các bảng cảnh báo dọc theo đường ống.
- Đối với những chai chứ hóa chất có nhãn bằng các thứ tiếng khác tiếng Việt hay tiếng Anh cần có thêm nhãn phụ ghi các thông tin và các cảnh báo nguy hiểm cần thiết theo đúng quy định.
Một số ký hiệu đặc trưng cho các loại hóa chất:
a Tính dễ nổ: hình tượng màu đen trên nền vàng hoặc da cam.
b Tính oxi hóa: hình tượng màu đen trên nền màu vàng hoặc da cam.
c Dễ cháy hoặc rất dễ cháy: hình tượng màu đen trên nền trắng
có kẻ sọc đỏ hoặc nửa trắng nửa đỏ (dễ cháy) hoặc nền đỏ (rất
dễ cháy).
d Rất dễ cháy khi gặp nước: hình tượng màu đen trên nền xanh
da trời.
e Cực độc hoặc rất độc: hình tượng màu đen trên nền trắng.
f Tính ăn mòn: hình tượng màu đen trên nền vàng hoặc da cam;
có thể thêm chữ “ăn mòn” màu trắng trên nền đen.
g Tính chất của thuốc ngành dược.
+ Vạch màu đỏ: thuốc độc thuộc nhóm I (cực độc hoặc rất độc) + Vạch màu vàng: thuốc độc thuộc nhóm II (độc).
Trang 7+ Vạch màu xanh: thuốc độc thuộc nhóm III (ít độc) Dưới đây là một số ví dụ về nhãn hóa chất thông dụng.
Trang 8(màu và số) nhằm giúp các nhân viên cứu hộ nhanh chóng, dễ dàng
xác định được mức độ nguy hiểm NFPA đáng giá mức độ độc hại
theo bốn tiêu chí chính được mã màu:
- Xanh lam: khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Đỏ: khả năng cháy nổ.
- Vàng: khả năng hoạt động hóa học (phản ứng).
- Trắng: các tính chất đặc biệt.
Trong đó các đặc tính được đánh giá theo cấp độ từ 0 (không nguy
Hiểm) đến 4 (rất nguy hiểm).
TÁC HẠI CỦA HÓA CHẤT
Các tác hại chung
Tác động kích thích của hóa chất làm hại những chức năng hoạt động của các
bộ phận cơ thể tiếp xúc với hóa chất như da, mắt, đường hô hấp.
Dị ứng
Hiện tượng dị ứng hóa chất hóa chất thường xảy ra với da và đường hô hấp khi cơ thể người lao động tiếp xúc trực tiếp với hóa chất.
Các hóa chất như nhựa epoxy, thuốc nhuộm hữu cơ, dẫn xuất nhựa than đá gây hiện tượng da bị dị ứng như vết phỏng nước,mụn nhỏ, viêm da Các hóa chất như toluene, formaldehyde gây dị ứng đường hô hấp.
Trang 9Gây ngạt thở (do oxi không đủ cho nhu cầu hoạt động của các tổ chức trong cơ
và rối loạn hành vi.
Khí CO, HCN, H2S chỉ cần hàm lượng nhỏ đã gây ra ngạt thở hóa học , ngăn cản máu vận chuyển oxi tới các bộ phận của cơ thể, gây bất tỉnh nhân sự, nếu không cứu chữa kịp thời gây tử vong.
Gây mê và gây tê
Khi tiếp xúc thường xuyên với một trong các hóa chất gây mê
và gây tê (C2H5OH, CS2 ,xăng, axeton ), nếu nồng độ thấp gây nghiện, còn nếu ở nồng độ cao sẽ làm suy yếu hệ thần kinh trung ương, gây ngất, thậm chí dẫn đến tử vong.
Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan chức năng
Tác hại của hóa chất làm cản trở hay gây tổn thương đến một hay nhiều cơ quan chức năng, có quan hệ mật thiết với nhau như gan, thận, hệ thần kinh, sinh dục, làm ảnh hưởng tới toàn
bộ cơ thể, gọi là nhiễm độc hệ thống Mức độ nhiễm độc hệ thống tùy thuộc loại, liều lượng, thời gian tiếp xúc với hóa chất Gan, hệ thần kinh (bao gồm não, cột sống và dây thần kinh kiểm tra chức năng cơ thể) có thể bị ảnh hưởng do tác động của hóa chất.
Trang 10Chất gây ung thư Loại ung thư
Môi trường và công nghiệp
Amiăng Ung thư phổiUng thư trung biểu mô
Formaldehyde Ung thư mũiUng thư vòm mũi họng
Thuốc trừ sâu, không có asen Ung thư phổi
Lối sống
Trang 11Chất gây ung thư Loại ung thư
Thuốc lá
Ung thư bàng quangUng thư cổ tử cungUng thư thực quảnUng thư vùng đầu cổUng thư thận
Ung thư phổiUng thư tuyến tụyUng thư dạ dàyThuốc *
Hóa chất nhóm alkyl (cyclophosphamide, chất
Diethylstilbestrol (DES) Ung thư cổ tử cung âm đạo ở phụ nữ phơi nhiễm
Ảnh hưởng đến thế hệ tương lai
Các hóa chất tác động đến cơ thể con người gây đột biến gen, tạo nên những biến đổi không bình thường cho thế hệ tương lai, như hậu quả của các chất độc dioxin-một hóa chất cực độc, có mặt trong chất diệt cỏ 2,4,5-T (chỉ cần 80g dioxin đủ giết chết hàng triệu người của thành phố) Kết quả nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm cho thấy 80-85% các chất gây ung thư có thể gây đột biến gen.
Trang 12Bệnh bụi phổi
Bệnh bụi phổi là bệnh do lắng đọng lâu dài các hạt bụi tại vùng trao đổi khí phổi, gây cho bệnh nhân hiện tượng ho dị ứng kéo dài, thở ngắn và gấp trong những hoạt động dùng nhiều sức lực Cho đến nay việc phát hiện sớm và chữa khỏi hoàn toàn bệnh bụi phổi còn khó khăn.
Bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam khi làm việc trong môi trường hóa chất và một
số hóa chất độc gây bệnh nghề nghiệp
Sau đây là danh sách 34 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm xã hội nếu đảm bảo đủ các điều kiện tạo Điều 46 Luật vệ sinh an toàn lao động
2015 và hướng dẫn chẩn đoán, giám định bệnh nghề nghiệp:
1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp.
2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp.
3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp.
4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp.
5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp.
6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp.
7 Bệnh hen nghề nghiệp.
8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp.
9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng.
10.Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp.
11.Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp.
12.Bệnh nhiễm độc trinitrotoluen nghề nghiệp.
13.Bệnh nhiễm độc asen nghề nghiệp.
14.Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp.
15.Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp.
16.Bệnh nhiễm độc cacbon monoxit nghề nghiệp.
17.Bệnh nhiễm độc cadimi nghề nghiệp.
18.Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn.
Trang 1324.Bệnh nốt dầu nghề nghiệp.
25.Bệnh sạm da nghề nghiệp.
26.Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm.
27.Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt và lạnh kéo dài.
28.Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên, hóa chất phụ gia cao su.
29.Bệnh Leptospira nghề nghiệp.
30.Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp.
31.Bệnh lao nghề nghiệp.
32.Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
33.Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp.
34.Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp
Đây là một số hóa chất thường gặp gây ra bệnh nghề nghiệp.
Nhiễm độc kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng trên 5 g/cm3 Các kim loại này có số nguyên tử cao và thường sẽ thể hiện tính kim loại tại nhiệt độ phòng.
Độc tính của kim loại nặng có thể gây ra một số bệnh nguy hiểm đến sức khỏe con người Khi bị nhiễm độc kim loại nặng, nếu không được phát hiện và điều trị đúng cách, nguy cơ mắc bệnh
Trang 14và tử vong rất cao Chì, thủy ngân, cadimi là một vài ví dụ cụ thể của nhóm kim loại có độc tính.
Một số kim loại nặng không ảnh hưởng đến sức khỏe con người Một số kim loại nặng khác rất cần thiết cho quá trình sinh lý của con người, ví dụ: kẽm có vai trò quan trọng trong nhiều phản ứng trong cơ thể con người, coban có trong thành phần vitamin B12
và sắt có trong hemoglobin; đồng, mangan, selen, crom và molyden là những nguyên tố vi lượng rất quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của con người; nhôm, bismuth, vàng, gali được sử dụng trong công nghiệp dược phẩm Tuy nhiên, những kim loại này sẽ gây nguy hại cho cơ thể khi xâm nhập vào cơ thể con người với một lượng lớn hơn cần thiết, hoặc quá trình bài tiết của
cơ thể hoạt động kém.
Độc tính kim loại nặng đối với cơ thể con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các triệu chứng cụ thể có thể thay đổi tùy thuộc vào lượng kim loại hấp phụ vào cơ thể, phơi nhiễm cấp tính hay mãn tính, độ tuổi và đường xâm nhập của kim loại nặng vào cơ thể Độc tính của một vài kim loại nặng tùy thuộc vào dạng hợp chất hóa học của chúng, ví dụ BASO4 là hợp chất không độc, tuy nhiên những muối Bari khác lại xâm nhập dễ dàng vào cơ thể, gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Nhiễm độc kim loại nặng có thể xảy ra thông qua con đường ăn uống, điều trị y tế, từ môi trường xung quanh, trong quá trình làm việc hoặc vui chơi.
- Cơ chế xâm nhập
Khi xâm nhập vào cơ thể, kim loại nặng kết hợp với oxi, nitơ và nhóm sulfhydryl trong protein dẫn đến sự thay đổi trong hoạt động của enzym Các kim loại nặng kết hợp với các nhóm sulfhydryl tạo thành metalloprotein, có cấu trúc phân tử giàu ligand thiol; các ligand này có thể kết hợp dễ dàng với cadimi, đồng, bạc Các protein khác tham gia vào quá trình vận chuyển, bài tiết do sự tạo thành các ligand như ferritin, transferrin, albumin, và hemoglobin.
- Ảnh hưởng kim loại nặng đến cơ quan trong cơ thể
Hầu hết các cơ quan trong cơ thể đều sẽ bị tác động bởi độc tính kim loại nặng Những hệ cơ quan bị tác động chủ yếu là hệ thần kinh trung ương, hệ sinh huyết, thận và tim mạch Mức độ ảnh
Trang 15hưởng đến các cơ quan tùy thuộc vào kim loại, nhiễm độc mãn tính hay cấp tính, mức độ tiếp xúc và độ tuổi của người bị nhiễm độc.
CO2 cũng gây ngạt nhưng không độc bằng CO.
- Nitơ oxit: Oxit nitơ có nhiều dạng, do nitơ có 5 hoá trị từ 1 đến
5 Do oxi hoá không hoàn toàn nên nhiều dạng oxit nitơ có hoá trị khác nhau hay đi cùng nhau, được gọi chung là NOx Có độc tính cao nhất là NO2 , khi chỉ tiếp xúc trong vài phút với nồng
độ NO2 trong không khí 5 phần triệu đã có thể gây ảnh hưởng xấu đến phổi, tiếp xúc vài giờ với không khí có nồng độ NO2
khoảng 15-20 phần triệu có thể gây nguy hiểm cho phổi, tim, gan; nồng độ NO2 trong không khí 1% có thể gây tử vong trong vài phút NOx bị oxi hoá dưới ánh sáng mặt trời có thể tạo khí ozon gây chảy nước mắt và mẩn ngứa da, NOx cũng góp phần gây bệnh hen, thậm chí ung thư phổi, làm hỏng khí quản.
- Lưu huỳnh dioxit: Khí SO2 xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan với nước bọt, từ đó qua đường tiêu hoá để ngấm vào máu SO2 có thể kết hợp với các hạt nước nhỏ hoặc bụi ẩm để tạo thành các hạt axít H2SO4 nhỏ li ti, xâm nhập qua phổi vào hệ thống bạch huyết Trong máu, SO2 tham gia nhiều phản ứng hoá học để làm giảm dự trữ kiềm trong máu gây rối loạn chuyển hoá đường và protêin, gây thiếu vitamin B và C, tạo ra methemoglobine để chuyển Fe2+ (hoà tan) thành Fe3+ (kết
Trang 16tủa) gây tắc nghẽn mạch máu cũng như làm giảm khả năng vận chuyển oxi của hồng cầu, gây co hẹp dây thanh quản, khó thở.
- Khí Clo: gây ngứa, ngạt thở, đau rát xương ức, ho, ngứa mắt và miệng, chảy nước mắt, tiết nhiều nước bọt Nếu bị nhiễm nặng
có thể đau đầu, đau thượng vị, nôn mửa, vàng da, thậm chí phù
nề phổi.
Ảnh hưởng của các dung môi hữu cơ
Dung môi hữu cơ được sử dụng rất phổ biến trong phòng thí nghiệm Dung môi hữu cơ có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, hấp thụ qua da Dung môi hữu cơ có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên.
- Khi tiếp xúc với các dung môi hữu cơ trong thời gian ngắn (nhiễm độc cấp tính) có thể gây ra những triệu chứng như rối loạn thần kinh trung ương; mất phương hướng, chóng mặt, lảo đảo, nhầm lẫn tiến vào vô thức, tê liệt, co giật, tử vong do ngừng hô hấp hay tim ngừng đập Đối với các loại dung môi hữu cơ khác nhau, các triệu chứng trên có thể diễn ra nhanh hay chậm.
- Một số dung môi hữu cơ thường gặp và ảnh hưởng
Nhiễm độc các chất VOCs: VOCs là tên gọi chung các chất lỏng hay chất rắn có chứa các bon hữu cơ rất dễ bay hơi Một số chất thông dụng như axeton, ethylacetate, buthylacetate Nguồn ô nhiễm VOCs phát sinh do đốt không triệt để xăng dầu, các dung môi hữu cơ tự bay hơi, bay hơi của xăng dầu, bay hơi của các hoá chất rơi vãi Cây xanh khi trao đổi khí ban đêm cũng phát xả VOCs.
Trang 17Nhìn chung, xăng và sơn là hai thứ phát xả VOCs nhiều nhất Chúng ít gây độc mãn tính mà chủ yếu gây độc cấp tính như chóng mặt, say nôn, sưng mắt, co giật, ngạt viêm phổi Chỉ một số ít chất có khả năng gây độc mãn tính thì lại tạo ra ung thư máu, bệnh thần kinh
Nhiễm độc Benzen: Benzen là một chất lỏng dễ bay hơi khi hỗn hợp với không khí có thể gây nổ Benzen khi xâm nhập vào cơ thể qua da (tiếp xúc trực tiếp) và qua phổi Khi xâm nhập, chừng 75% - 90% được cơ thể thải
ra trong vòng nửa giờ Phần còn lại tích luỹ trong mỡ và tuỷ xương, não sau đó được bài tiết chậm ra ngoài Phần benzen tích luỹ này có thể gây các biểu hiện bệnh lý: Gây
ra sự tăng tạm thời của bạch cầu; gây ra sự rối loạn oxy hoá - khử của tế bào dẫn đến tình trạng xuất huyết bên trong cơ thể; nếu hấp thu nhiều benzen cơ thể sẽ bị nhiễm độc với các hội chứng khó chịu, đau đầu, chóng mặt, nôn,
có thể dẫn đến tử vong vì suy hô hấp Nếu thường xuyên tiếp xúc với ben zen có thể gây nhiễm độc mãn tính Lúc đầu là rối loạn tiêu hoá, ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, rối loạn thần kinh, đau đầu, bị chuột rút, cảm giác kiến bò, thiếu máu nhẹ, xuất huyết trong, phụ nữ hay
bị rong kinh, khó thở do thiếu máu Tiếp theo là xuất huyết trong nặng, thiếu máu nặng, giảm bạch cầu Phụ
nữ bị nhiễm độc nặng có thể bị đẻ non hoặc sẩy thai đây
là bệnh nguy hiểm vì benzen có thể tích luỹ lâu dài trong tuỷ xương Bệnh có thể xuất hiện sau 2 năm kể từ khi bị nhiễm benzen.
Nhiễm độc Toluen: Toluen là chất dễ bay hơi, cháy nổ Chỉ cần một nồng độ nhỏ 1/1000, Toluen đã gây cảm giác mất thăng bằng, đau đầu, nếu nồng độ cao hơn có thể gây
ảo giác, choáng ngất.
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP, CHUYỂN HÓA CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ
Trang 18Sự xâm nhập, chuyển hóa và đào thải chất độc trong cơ thể
Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người qua 3 đường
là đường hô hấp, hấp thụ qua da, đường tiêu hóa.
Đường hô hấp: khi hít các hóa chất dạng khí, hơi hay bụi.
Đường hô hấp là đường xâm nhập hóa chất thông thường và nguy hiểm nhất với người lao động vì nó chiếm phần lớn nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và tới 95% nguyên nhân gây ra bệnh nghề nghiệp.
Hệ thống hô hấp bao gồm đường hô hấp trên (mũi, họng, miệng), đường thở (khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang) có chức năng hấp thụ oxi và thải khí cacbonic.
Khi thở mà thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động đúng cách thì không khí chứa các hóa chất ở dạng khí, hơi hay bụi sẽ kích thích các bô phận của hệ hô hấp, tới phế nang phổi để lắng đọng lại hoặc khuyếch tán qua thành mạch máu gây bệnh Tùy thuộc vào bản chất và dường kính hạt bụi, độ hòa tan của khí, hơi, bụi, nồng độ của chúng mà gây tác hại nhanh hay chậm đến cơ thể
Hấp thụ qua da
Da gồm 3 lớp: biểu bì, màng da và mô dưới da Độ dày của da cùng với lớp mồ hôi và tổ chức lớp mỡ dưới da có tác dụng như một lớp màn bảo vệ chống lại việc hóa chất xâm nhập vào
cơ thể và chống lại việc gây tổn thương cho da, nếu bỏ qua vai trò của vi sinh vật có hại.
Sự xâm nhập của hóa chất qua da có thể qua ba con đường: hấp thụ qua biểu bì gây viêm da xơ phát, hấp thụ tại nang lông kích thích phản ứng của da, xâm nhập qua da và mạch máu nếu bị bệnh ngoài da, gây nhiễm độc máu và các cơ liên đới.
Sự thẩm thấu của hóa chất qua da tỉ lệ thuận với độ hòa tan trong mỡ, độ phân cực, kích thước nhỏ của phân tử và còn phụ
Trang 19thuộc vào đặc tính giải phẩu và sinh lí của các vùng da khác nhau, độ pH, lưu lượng máu, sự hydrat, sựu chuyển hóa, đặc điểm khí hậu Các chất dễ tan trong mỡ thì độc tính cho hệ thần kinh càng cao Độ hòa tan trong mỡ được biểu thị bằng chỉ số Owerton-Mayer là tỉ số giữa độ hòa tan của một chất trong mỡ
so với nước.
Đường tiêu hóa
Hệ tiêu hóa bao gồm thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già Nguyên nhân chủ yếu để hóa chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa là do chất độc có trong thức ăn, đồ uống hoặc vô tình để bàn tay hay môi dính hóa chất cầm vào đồ ăn mà nuốt phải, hoặc do khí, hơi, bụi độc từ đường thở lọt vào bụng, hoặc
do hút thuốc tại môi trường hóa chất Thông thường hóa chất hấp thụ qua đường tiêu hóa ít hơn đường hô hấp và da; đồng thời đặt tính độc cũng giảm bớt do tác động của dịch dạ dày ở môi trường axit yếu và dịch tụy ở ruột ở môi trường kiềm yếu, hấp thụ bớt đi và hầu như được giải độc khi chuyển qua gan, mật, ruột nhờ các phản ứng sinh hóa phức tạp.
Sự chuyển hóa chất độc: gồm sự vận chuyển, phân bố, tích lũy và thải bỏ
Sự vận chuyển chất độc
Sau khi được hấp thụ vào cơ thể chất độc sẽ vào máu, bạch huyết và vài thể dịch khác Trong đó máu là bộ phận vận chuyển phần lớn chất độc dưới dạng phân tử và ion là chính Trong máu các chất độc có thể tồn tại dạng tự do hoặc kết hợp với một số chất trong thành phần của máu Việc khử một chất
Trang 20chất độc trong máu phụ thuộc vào ái lực liên kết của chất độc
đó vào các thành phần của máu Phần lớn các chất độc đều có ái lực với huyết tương và một số được phân bố giữa hồng cầu và huyết tương.
Việc tích lũy chất độc thường không xảy ra ngay tại các cơ quan đối tượng tấn công của chất độc mà tại các cơ quan có sựu phù hợp về cấu trúc và tính chất lí hóa Nói cách khác, khả năng tích lũy của háo chất trong cơ thể phụ thuộc vào độ phân cực, độ tan của chất độc, cấu trúc phân tử của chất độc và khả năng tiếp nhận của cơ quan trong cơ thể Các hợp chất không phân cực, các Polyclorobiphenyl (PCB), dioxin, dễ tích lũy trong mô
mỡ Huyết tương (plasma) máu là nơi tích lũy các hợp chất có khả năng liên kết protein với máu, xương là nơi tích lũy chì, radi, flor và thận là nơi tích lũy cadmi.
Sự thải bỏ chất độc
Việc đào thải các chất độc khỏi các tế bào của cơ thể như sự hấp thụ chúng Theo tốc độ nhanh, chậm của sự chuyển hóa vật chất với cơ thể, có thể chia thành hai hệ thống cơ quan đào thải chất độc: “hệ thống trao đổi nhanh” chiếm khoảng 30% lượng cơ thể, “hệ thống trao đổi chậm”
Trang 21Sự đào thải chất độc từ cơ thể con người ra môi trường xung quanh có thể nhờ sự thở, nước tiểu, chất bài tiết từ gan, mật, ruột, nước bọt, mồ hôi, tóc, sữa Đường bài tiết chất độc ra ngoài có giá trị chuẩn đoán, điều trị, giải độc kịp thời.
Các yếu tố làm tăng chức năng tác hại của hóa chất
Đặc tính sinh lý của chất độc
Chúng quyết định khả năng xâm nhập sâu vào cơ thể con người Các hóa chất dễ bay hơi có khả năng tạo nồng độ hóa chất cao tại nơi làm việc gây ngạt thở Các chất hóa học dễ hòa tan trong dịch thể, mỡ, nước càng nhiều thì càng độc hơn Tùy thuộc phản ứng đặc thù của các hóa chất với các bộ phận của cơ thể
mà có thể nhận biết sự tích lũy của chúng ở các cơ quan này và biểu hiện chứng bệnh tật của cơ thể Ở trong cơ thể con người, gan thận có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phá vỡ cấu trúc hóa học và giải độc nhờ quá trình biến đổi sinh học.
Nồng độ, cấu trúc hóa học và trạng thái tiếp xúc của chất độc
Về nguyên tắc, tác hại của hóa chất với cơ thể phụ thuộc vào lượng hóa chất đã hấp thụ, cấu trúc hóa học, thời gian, vị trí và diện tích tiếp xúc.
Khi hóa chất hấp thụ qua đường hô hấp, tác hại của hóa chất tới
cơ thể phụ thuộc chính vào thời gian tiếp xúc Thông thường, khi tiếp xúc với hóa chất nồng độ cao thời gian ngắn có thể bị nhiễm độc cấp tính, còn khi tiếp xúc với hóa chất qua đường hô hấp với thời gian dài nhưng nồng độ thấp sẽ xảy ra hai xu hướng: hoặc cơ thể chịu đựng được, hoặc khi hóa chất được tích lũy lượng lớn trong cơ thể có sức đề kháng kém, sẽ gây ra nhiễm độc mãn tính.
Trang 22Các chất gây bỏng như acid vô cơ HNO3, H2SO4, HCl; kiềm NaOH, Ca(OH)2 ; halogen lỏng, gây nguy hại tới tính mạng con người Khi bỏng nhẹ xảy ra ở chân tay và mắt, nếu sau 10 phút
mà không sơ cứu kịp thời sẽ trở nên bỏng nặng hơn.
Ảnh hưởng kết hợp của các hóa chất
Thường thì tác hại của nhiều hóa chất có thể lớn hơn tổng tác hại của từng hóa chất thành phần, do sự kết hợp tạo ra chất hóa học mới có tác hại hơn so với sức khỏe, gây ra nhiễm đôc bán cấp tính, mãn tính hay nguy hại tới tính mạng tùy theo thời gian tiếp xúc, nồng độ hóa chất và sức đề kháng của cơ thể.
Trường hợp nhiều chất tác dụng, người ta quy định nồng độ cho phép tính theo công thức:
C1/t1+C2/t2+C3/t3+ +Cn/tn ≤ 1 Trong đó:
C1, C2, ,Cn là nồng độ từng chất độc tìm thấy trong không khí
t1,t2, ,tn là nồng độ cho phép của chất độc tương ứng
Ví dụ: ở nơi lao động có hỗn hợp chất mà từng chất như rượu etylic, axetandehit, rượu butanol có nồng độ nhỏ hơn mức độ cho phép, song tổng hợp nồng độ các chất độc này lại lớn hơn mức độ cho phép (mg/m3)
600/1000+450/500+30/50+400/1000=2.73
Vì vậy khi làm việc hoặc tiếp xúc với hóa chất, nên tránh hoặc giảm tới mức thấp nhất số lượng loại hóa chất tiếp xúc.
Tính mẫn cảm của người tiếp xúc
Nguy cơ tác hại tiềm ẩn của hóa chất phụ thuộc vào tính nhạy cảm với hóa chất của từng người khi tiếp xúc với hóa chất, như giới tính, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, vấn đề bệnh có tính di
Trang 23truyền như dị ứng, môi trường lao động và biểu hiện dị ứng nếu có.
Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ bị nhiễm độc
Các vấn đề khác như tính chất của vi khí hậu nơi lao động; mức
độ lao động, chế độ dinh dưỡng, trang phục lao động, biện pháp
y tế, quá trình quản lý tổ chức công nghệ, có thể làm tăng nguy
cơ người lao động bị nhiễm độc Một số ví dụ thường gặp:
- Nhiệt độ cao làm tăng khả năng bay hơi của chất độc, tăng hoạt động tuần hoàn, hô hấp nên làm tăng khả năng hấp thụ chất độc
và tích lũy chúng.
- Độ ẩm không khí tăng, làm tăng khả năng phân giải một số hóa chất với nước, làm tăng khả năng tích khí ở niêm mạc, làm giảm sự thải độc bằng mồ hôi, nên làm tăng nguy cơ bị nhiễm độc.
- Chế độ dinh dưỡng không đủ hoặc không cân đối, làm giảm sức
đề kháng của cơ thể,dẫn tới khả năng nhiễm độc.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Hiếu, Tiêu chuẩn NFDA 704 về Hoá chất, Cẩm nang HCCN,
17/03/2017.
2. Merch &Co, Hoá chất thường gặp gây ung thư, Cẩm nang MSD,2021.
3. Quý Nguyễn, Danh sách 34 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH, Thư viện Pháp luật, 22/09/2020.
V/ Nguyên tắc và biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tác hại của hóa chất 5.1 Bốn nguyên tắc biện pháp cơ bản trong phòng ngừa tắc hại của hóa chất
Trang 24Mục đích của hoạt động dự phòng tác hại của hóa chất là nhằm loại trừ hoặc giảm tới mức thấp nhất mọi rủi ro bởi các hóa chất nguy hiểm độc hại cho sức khỏe con người
và môi trường sinh thái góp phần trong sự phát triển kinh tế xã hội bền vững
- Hoạt động kiểm soát hóa chất dựa vào 4 nguyên tắc chính gồm:
+ Thay thế: là loại bỏ các chất độc hại, nguy hiểm hoặc thay thế chúng bằng một thứ khác ít nguy hiểm hơn hoặc không còn nguy hiểm để đảm bảo an toàn cho con người
+ Trang trị phương tiện bảo hộ cá nhân giúp họ hạn chế tiếp xúc trục tiếp với hóa chất
để tránh gây ra những nguy hại cho con người
1 Hạn chế hoặc thay thế hóa chất độc hại
Cố gắng bỏ hoặc hạn chế, hoặc thay thế hóa chất đọc hơn, nguy hiệ hơn bằng một hóa chất ít độc hại hơn Công việc này đạt được hiệu quả kinh tế, kĩ thuật, môi trường lâu dài và tốt nhất tiến hành ngay từ giai đoạn thiết kế và lập kế hoạch sản xuất qua ba bước cơ bản:
- Đánh giá tác hại của chu trình sử dụng hóa chất với con người và môi trường
- Hạn chế đến mức thấp nhất lượng hóa chết sử dụng hoặc lưu trữ để tránh tai nạn và sự cố xảy ra trong tình thế khẩn cấp
- Xác định và lựa chọn giải pháp thay thế hợp lý và phù hợp nhất về quy trình sử dụng hóa chất an toàn cho sức khỏe con người và môi trường sinh thái lâu bền
Trang 252 Bao che hoặc cách ly nguồn phát sinh hóa chất nguy hiểm
Nguyên tắc ngăn cách quá trình sản xuất độc hại này nhằm hạn chế tới mức thấp nhất số lượng người lao động tiếp xúc với hóa chất và hạn chế lượng hóa chất nguy hiểm cháy nổ và độc hại (mặc dù đã có biển báo và thông báo tại nơi sản xuất hoặc kho chứa, hoặc trên phương tiện vận chuyển) có thể gây nguy hiểm tới người lao động, dân cư và môi trường xung quanh
Nếu có thể, thực hiện tự động hóa và điều khiển từ xa tốt nhất
Có thể bằng cách bao che toàn bộ máy móc, những điểm phát sinh bụi của băng chuyền hoặc bao che quá trình sản xuất các chất ăn mòn… để hạn chế sự lan tỏa hơi, khí độc hại, nguy hiểm tới môi trường làm việc Cũng có thể giảm sự tiếp xúc với các hóa chất độc hại bằng việc di chuyển các qui trình và công đoạn sản xuất các hóa chất này tới vị trí an toàn, cách xa người lao động trong nhà máy hoặc xây tường để cách lychúng ra khỏi các quá trình sản xuất có điều kiện làm việc bình thường khác chẳng hạn như cách ly quá trình phun sơn với các quá trình sản xuất khác trong nhà máy bằng các bức tường hoặc rào chắn…
Thường xuyên kiểm tra sự bao kín máy móc, thiết bị chứa độc để xử lý, sữa chữa kịpthời sự rò rỉ, nứt hở
Cần làm sạch thường xuyên các bức tường và bề mặt trang thiết bị, nhiễm bẩn
Bảo đảm an ninh và bảo vệ kho hóa chất với lượng hóa chất hạn chế như có thể
Bên cạnh đó, cần phải cách ly hóa chất dễ cháy nổ với các nguồn nhiệt, chẳng hạn nhưđặt thuốc nổ ở xa các máy mài, máy cưa…
Hiệu quả tương tự có thể nhận được khi sử dụng những kho hóa chất an toàn và hạn chế số lượng những hóa chất nguy hiểm cần sử dụng tại nơi làm việc trong từng ngày,
Trang 26từng ca Điều này thực sự rất có ích nếu quá trình sản xuất thực hiện bởi một số lượng rất ít người lao động và trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân.
3 Thông gió
Trong trường hợp hóa chất dễ bay hơi, việc thông gió được xem như là một hình thức kiểm soát tốt nhất sau việc thay thế hoặc bao che Nhờ các thiết bị thông gió thích hợp, người ta có thể ngăn không cho bụi, hơi, khí độc thoát ra từ quá trình sản xuất tiến vào khu vực hít thở của người lao động và chuyển chúng bằng các ống dẫn tới bộ phận xử lý (xyclo, thiết bị lắng, thiết bị lọc tĩnh điện…) để khử độc trước khi thải ra ngoài môi trường
Tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà người ta có thể bố trí hệ thống thông gió cục bộ ngay tại nơi phát sinh hơi, khí độc, hay hệ thống thông gió chung cho toàn nhà máy hoặc áp dụng kết hợp cả 2 hệ thống
Hệ thống thổi cục bộ, còn được gọi là hoa sen không khí, thường được bố trí để thổi không khí sạch và mát vào những vị trí thao tác cố định của công nhân mà tại đó thường tỏa nhiều khí hơi có hại và nhiều nhiệt
Đối với hệ thống hút cục bộ, miệng hút của hệ thống phải đặt sát, gần đến mức có thể với nguồn phát sinh bụi, hơi, khí độc để ngăn ngừa tác hại của nó đối với những ngườilao động làm việc gần đó Đã có những hệ thống thông gió cục bộ hoạt động rất hiệu quả trong việc kiểm soát các chất độc như: chì, amiăng, dung môi hữu cơ
Hệ thống thông gió chung còn được hiểu là hệ thống làm loãng nồng độ hóa chất Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc làm loãng không khí có bụi hoặc hơi hóa chất thông qua việc mang không khí sạch từ ngoài vào và lấy không khí bẩn từ nơi sản xuất ra
Có thể thực hiện điều này bằng các thiết bị vận chuyển khí (máy bơm, quạt …) hoặc đơn giản chỉ là nhờ việc mở cửa sổ, cửa ra vào tạo sự luân chuyển tự nhiên của không khí Việc bố trí những luồng khí này phải được thực hiện ngay từ khâu thiết kế toà nhà Phương pháp thông gió cưỡng bức bằng máy có ưu điểm hơn thông gió tự nhiên
là có thể kiểm soát được nồng các hóa chất nguy hiểm có trong không khí bơm vào vàthải ra Bởi chỉ làm loãng độc chất thay cho việc loại bỏ chúng trong môi trường làm việc, nên hệ thống này chỉ khuyến nghị dùng cho những chất ít độc, không ăn mòn và với số lượng nhỏ
Để đảm bảo hiệu quả, trước khi thi công các bản thiết kế hệ thống thông gió đã được các chuyên gia hoặc những người đã qua đào tạo chuyên môn về vấn đề này kiểm tra
Hệ thống thông gió phải được bảo dưỡng thường xuyên để đảm bảo luôn hoạt động cóhiệu quả
4 Biện pháp bảo vệ cá nhân
Được trang bị cho người lao động theo quy định của nhà nước ban hành cho từng lĩnh vực công việc để phòng ngừa hoặc giảm tác hại của hóa chất nguy hiểm cháy nổ và độc hại trong sản xuất đối với người lao động
Trang 27Phương tiện bảo vệ cá nhân đặc thù trong từng công việc tiếp xúc với hóa chất: phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp, bảo vệ mắt và bảo vệ than thể - đều được kiểm traphẩm chất trước khi sử dụng và giữ gìn bảo quản cẩn thận Sau đây là một số phương tiện bảo vệ cá nhân.
Một số phương tiện bảo vệ cá nhân khi tiếp xúc với hóa chất.
Phương pháp bảo vệ cơ quan hô hấp
Khẩu trang chỉ có tác dụng lọc bụi Tùy thuộc vào kích cỡ bụi mà chọn vật liệu làm khẩu trang khác nhau
Bán mặt nạ có thể lọc cả bụi và hơi khí đọc tuỳ thuộc vật liệu hấp thụ chứa trong hộp
lọ, có 2 loại: che kín nửa mặt hoặc che cả mặt
Mặt nạ phòng độc để che mũi và mồm người lao động, ngăn chặn sự thâm nhập của hóa chất vào cơ thể qua đường hô hấp Dùng mặt nạ phòng độc khi phải tiếp xúc với hóa chất trong các tình huống sau:
– Nơi phải tiến hành kiểm soát tạm thời trước khi tiến hành các biện pháp kiểm soát
kỹ thuật
– Nơi không thực hiện được những kiểm tra về kỹ thuật
– Để bổ sung vào những biện pháp kiểm soát kỹ thuật
– Trong trường hợp khẩn cấp
* Việc lựa chọn loại mặt nạ phòng độc sẽ tùy thuộc theo các yếu tố:
– Đặc tính của một hoặc của nhiều chất độc hại phải tiếp xúc;
– Nồng độ tối đa của các hóa chất tại nơi làm việc;
– Thuận tiện và hợp với khuôn mặt của người sử dụng để ngăn chặn chất độc lọt qua
Trang 28lọc khí chỉ dùng khi nồng độ chất độc có trong không khí không quá 2% và hàm lượng ôxy trên 18% Những mặt nạ lọc độc này được thiết kế theo hình thức một nửa mặt (che mồm, mũi và cả cằm) hoặc là che kín cả mặt Có rất nhiều kiểu mặt nạ lọc độc khác nhau tùy theo loại hóa chất phải xử lý song không có thiết bị lọc, hoặc mặt
nạ lọc độc nào có thể loại bỏ hoàn toàn hóa chất nguy hiểm Vì vậy, để chọn được loạimặt nạ thích hợp nhất thiết phải tuân theo chỉ dẫn của người sản xuất hoặc người cungcấp mặt nạ phòng độc
– Mặt nạ cung cấp không khí: là loại cung cấp liên tục không khí không độc và là mặt
nạ bảo vệ người sử dụng ở mức cao nhất Không khí có thể bơm vào từ một nguồn ở
xa (được nối với một vòi áp suất cao), hoặc từ một dụng cụ cấp khí xách tay (như máynén hoặc bình chứa không khí hay ô xy lỏng dưới áp suất cao) Loại xách tay này được minh hoạ ở hình 26 và được gọi là bình dưỡng khí Mặt nạ có bình dưỡng khí được thiết kế bao phủ toàn bộ khuôn mặt
Để đảm bảo sử dụng có hiệu quả, người lao động phải được huấn luyện, đào tạo cách
sử dụng, sửa chữa và bảo dưỡng mặt nạ phòng độc Đeo mặt nạ phòng độc kém phẩm chất có thể còn nguy hiểm hơn không đeo gì, vì khi đó người lao động nghĩ rằng họ được bảo vệ nhưng thực tế thì không
Phương tiện bảo vệ mắt
Tổn thương về mắt có thể do bị bụi, các hạt kim loại, đá màu, thủy tinh, than …, các chất lỏng độc bắn vào mắt; bị hơi, khí độc xông lên mắt; và cũng có thể do bị các tia bức xạ nhiệt, tia hồng ngoại, tia tử ngoại… chiếu vào mắt
Các loại phương tiện bảo vệ mắt như các loại kính an toàn, mặt nạ cầm tay khi hàn, mặt nạ hoặc mũ mặc nạ liên đầu được lựa chọn sử dụng tùy theo các trường hợp cụ thể để ngăn ngừa tai nạn chấn thương hay nhiễm bệnh về mắt khi tiếp xúc với bụi rắn (kim loại, than đá), chất lỏng, hơi khí độc, tia bức xạ nhiệt, tía hồng ngoại, tia tử ngoại…
Các loại kính bảo vệ mắt và mặt nạ che mặt
Quần áo bảo vệ, găng tay, tạp dề, ủng được dùng để bảo vệ cơ thể ngăn không cho hóachất thâm nhập qua da Các loại này phải được làm bằng những chất liệu không thấm
Trang 29nước hoặc không bị tác động phá hoại bởi hóa chất tiếp xúc khi làm các công việctương ứng Sử dụng găng tay là một yêu cầu bắt buộc khi làm việc với hóa chất đậmđặc, có tính ăn mòn cao Những hóa chất này thường thấm xuyên qua da và gây tổnthương cho da qua việc làm bỏng hoặc cháy da Găng tay phải dầy ít nhất 0,4mm và
đủ mềm để làm những công việc đơn giản bằng tay Tùy thuộc vào loại hóa chất vàthời gian tiếp xúc mà sẽ dùng loại găng tay cụ thể Ví dụ găng tay làm bằng ni lonhoặc bằng da là thích hợp cho việc bảo vệ tay từ bụi, trong khi đó găng tay làm bằngcao su là thích hợp cho việc chống lại các chất ăn mòn và việc pha chế hóa chất vớidung môi hữu cơ chẳng hạn như xy-len đòi hỏi phải được trang bị găng tay với chấtlượng cao hơn
Kem bảo vệ và thuốc rửa cũng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ da Kem có nhiều tácdụng, nếu được lựa chọn và sử dụng chính xác thì chúng rất hữu ích Tuy nhiên,không có một loại kem nào dùng cho tất cả các mục đích, một vài loại dùng để chốnglại các dung môi hữu cơ, trong khi đó các loại kem khác được sản xuất để dùng khitiếp xúc với những chất hòa tan trong nước
Quần áo bảo vệ phải được giặt ngay sau khi dùng không mặc quần áo đã bị nhiễm hóachất
Nhìn chung, quần áo nên:
– Vừa vặn, thoải mái để cơ thể có thể cử động một cách dễ dàng;
– Trang bị riêng cho từng cá nhân để sử dụng hàng ngày;
– Bảo quản chu đáo, được khâu vá, sửa chữa khi cần thiết;
– Được làm sạch, không để dính hóa chất
*Phương tiện bảo vệ cá nhân phải tương xứng với hóa chất nguy hiểm và phải giữ gìnbảo quản cẩn thận và phải phù hợp đối với người lao động
Vệ sinh cá nhân
Trang 30Vệ sinh cá nhân nhằm giữ cho cơ thể sạch sẽ, tránh nhiễm độc qua da, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa.
Những nguyên tắc cơ bản của vệ sinh cá nhân trong khi sử dụng hóa chất là:
- Tắm và rửa sạch các bộ phận của cơ thể đã tiếp xúc với hóa chất sau khi làm việc, trước khi ăn, uống, hút thuốc
- Kiểm tra sức khỏe và cơ thể thường xuyên để đảm bảo rằng da luôn sạch sẽ và khỏe mạnh Băng bảo vệ bất cứ bộ phận nào của cơ thể bị trầy sước hoặc bị lở loét Giữ móng tay, móng chân sạch và ngắn
- Luôn tránh tự gây nhiễm cho bản thân, đặc biệt là khi khử trùng và cởi bỏ quần
áo bảo vệ Đừng bao giờ mang các vật bị nhiễm bẩn như rẻ lau bẩn, hoặc những dụng cụ trong túi quần áo bảo vệ cá nhân Hàng ngày, loại bỏ và giặt sạch riêng rẽ bất cứ chỗ nhiễm bẩn nào của quần áo bảo vệ cá nhân
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với các sản phẩm gây dị ứng như mẩn mụn, nổi mề đay
ở da
- Trong trường hợp có thể thì ưu tiên giải pháp sử dụng hóa chất không độc, không đòi hỏi trang phục, phương tiện bảo vệ cá nhân để tạo cảm giác thuận tiện, thoải mái khi làm việc
- Cấm ăn, uống, hút thuốc lá ở vùng bị ô nhiễm độc hại
- Người quản lí cần cung cấp đầy đủ những điều kiện để người lao động sau khi làm việc với hóa chất dễ dàng tắm rửa, thay, giặt sạch và bảo quản quần áo, trang phục bảo hộ cá nhân
5.2 Tổ chức đội cứu hộ
1 Sơ tán – sơ cứu thương
Tại nơi làm việc phải có biển báo – báo hiệu nơi nguy hiểm và dấu hiệu quy điịnh lỗi
sơ tán (lối thoát nạn cho người và sơ tán của cải cần thiết) khi có sự cố với chất độc nguy hiểm hoặc kho bị cháy nổ
Lối thoát nạn đảm bảo 2 điều kiện tối thiểu là thông thoáng và ánh sáng (ngay cả khi cúp điện) dẫn đến nơi an toàn
Phương tiện bảo vệ cá nhân tốt, thuận tiện cho sử dụng sau khi đã được đào tạo, huấn luyện và cung cấp thiết bị, phương tiện sơ cấp cứu cần thiết như bồn nước rửa mặt, thuốc, bang ca, xe cấp cứu
2 Biện pháp sơ cứu kịp thời khi nhiễm độc có thể là
Đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay bỏ quần áo, chú ý giữ yên tĩnh và ủ
ấm cho nạn nhân
Cho ngay thuốc trợ tim hoặc hô hấp nhân tạo sau khi bảo đảm khí quản thông suốt Nếu mất tri giác thì châm vào 3 huyệt: khúc trì ( co khuỷu tay vao ngực, huyệt ở đầu lằn nếp gấp khuỷu), ủy trung ( giữa nếp lằn ngang giữa khoeo chân), thập tuyền ( huyệt cách móng tay 1mm) cho chảy máu hoặc bấm ngón tay vào các huyệt đó rồi
Trang 31đưa nạn nhân ở trạng thái lơ mơ hoặc bất tỉnh tới bệnh viện càng nhanh càng tốt vvoiws cách di chuyển nạn nhân rất cẩn thận.
Trường hợp nuốt phải chất độc: Loại bỏ tất cả tạp chất còn sót lại trong miệng của nạn nhân Nếu nghi ngờ chất độc là chất tẩy rửa gia dụng hoặc một số loại hóa chất khác, cần đọc thông tin trên nhãn của bao bì
và làm theo hướng dẫn xử trí ngộ độc do tai nạn nếu có;
Trường hợp chất độc trên da: Cởi bỏ quần hoặc áo đã bị dính chất độc bằng găng tay Rửa sạch da trong vòng 15 - 20 phút dưới vòi nước chảy;
Trường hợp chất độc trong mắt: Nhẹ nhàng rửa mắt bằng nước mát hoặcnước ấm trong ít nhất 15 phút hoặc cho đến khi có sự giúp đỡ từ các nhân viên y tế;
Trường hợp hít phải chất độc: Đưa nạn nhân vào nơi có không khí trong lành càng sớm càng tốt Nghiêng đầu nạn nhân sang một bên nếu có nôn
Gọi cho bệnh viện hoặc trung tâm kiểm soát chất độc trong khu vực để được hướng dẫn thêm;
Mang chai, gói thuốc hoặc bao bì có nhãn và tất cả thông tin có liên quan đến chất độc
để gửi cho đội cứu thương cùng với nạn nhân
VI/ Mối nguy hiểm của hóa chất cơ bản
Mối nguy hiểm về hóa chất có thể rất nguy hiểm đối với sức khỏe của bạn Điều quan trọng là phải đặc biệt chú ý đến thiết bị cũng như công cụ của bạn để đảm bảo xử lý đúng và an toàn Các nguy cơ tiềm ẩn của việc tiếp xúc với hóa chất bao gồm: tổn thương hô hấp, bỏng, viêm da, mất thị giác và một số tổn thương khác Dưới đây sẽ trình bày một số chất nguy hại thường gặp về tính chất tác hại và xử lý khi gặp tai nạn với chúng
6.1- Axit clohydric HCL
Tính chất hóa lý
Là dung dịch axit mạnh, không có tính chất oxy hóa,
dung dịch đậm đặc ở 25oC có nồng độ khoảng 36,5%
Dung dịch HCL đậm đặc luôn tạo cân bằng lỏng – hơi
nên bên trên luôn tồn tại một lượng hơi HCL Hơi này
rất háo nước, do đó luôn tạo thành dạng hydrat của
HCL dưới dạng sương mù hay mù axit
Trang 32 Tác hại Axit Clohydric (HCl)
Category 3 Nguy hiểm Độc nếu hít phải
Được xếp vào Phân loại 3 trên
cơ sở 1411 ppm sau khi thống kê,tính toán từ LC50 = 4.2, 4.7 và 283mg/L/60min (SIDS (2002)Độc
Category 2 Nguy hiểm Hít phải có thể gây tử vong
Rat LC50 = 1.68mg/L/1h đối với chuột khi hít dạng bụi ( từ bình phun ) (SIDS (2002) Cũng được xếp vào Phân loại 2 trên cơ sở 4 giờ với mức 0,42 mg/l
Có báo cáo về trường hợp ăn mòn ở thỏ gây thương tổn da , thử nghiệm thời gian 1-4 giờTrên hàm lượng (SIDS (2002)), gây kích ứng và lỡ loét, gây bạc màu da trên chuột khi phơi nhiễm
từ 5-30 phút (SIDS (2002)), cũng
có thể gây kích ứng nhẹ hoạch nghiêm trọng, gây đau đớn hoặcbỏng (SIDS (2002))
Với các đặc tính nêu trên hóa chất có tính ăn mòn và xếp vào Category 1A-1C
Gây thương tổn, hư hỏng mắt do axit HCl dạng dung dịch nước làkết quả thử nghiệm với nhiều hơn
2 loại thú ( bao cả thỏ) (SIDS (2002)), kết quả gây thương tổn thường xuyên hoặc mất thị lực, đây cũng là chỉ định cho người
(Kích ứng hô hấp) có thể gây
dị ứng với triệu
[Kích ứng hô hấp]
Được đưa vào danh sách hóa chấtnhạy kích ứng suyển (bệnh) nghềnghiệp theo Ủy Ban nghề nghiệp
Trang 33và Môi trường Nhật bản Nó được xếp vào Category 1
Có báo cáo về gây co thắt cuống phổi ở người khi phơi nhiễm đối với chất tẩy rửa có chứa HCl
Và triệu chứng suyển cũng xảy
ra khi bị kích ứng nhẹ (ACGIH (2003))
Về kích ứng da : có bổ sungthông tin làết quả âm tính khi thửnghiệm liều lượng cao đối với lợn Guinea, chuột
- Tác hại đến môi trường
Được xếp vào Category 1
Từ 48-hour EC50=0.492mg/L (SIDS, 2005)
- Các đường tiếp xúc và triệu chứng
– Đường mắt: Ăn mòn, đau Bỏng sâu
nghiêm trọng
– Đường thở: Ăn mòn, có cảm giác rát Thở
gấp, đau cổ họng
Trang 34– Đường da: Kích ứng, ăn mòn da
– Đường tiêu hóa: Ăn mòn, đau Bị bỏng HCl Nguồn ảnh Bệnh Viện Nhi
Xử lí khi gặp tai nạn với HCl
- Bắn vào mắt: lập tức rửa ngay bằng nước nhiều lần
- Bắn vào da: dội bằng nước và rửa lại bằng dung dịch soda 2-3%
- Ngộ độc đường hô hấp giải độc bằng cách cho hít hơi NaHCO3 0.03%
- Uống phải axit: uống thuốc gây nôn và rữa dạ giày, uống sữa tươi,…
- Hít phải khí HCl: di chuyển nạn nhân đến nơi thoáng mát nhanh chóng, làm hô hấp nhân tạo (nếu choáng váng) cho uống nhiều nước và thở oxy, sau đó nhanhchống đưa đến bệnh viện gần nhất
6.2 Axit sunfuricc H2SO4
Tính chất hóa lý
Axit sunfuric có hai loại, axit sunfuric lỏng và
axit sunfuric đặc Mỗi loại sẽ có những tính chất
vật lý và tính chất hóa học khác nhau
H2SO4 đặc hay lỏng đều có điểm chung tồn tại
dưới dạng chất lỏng, không màu, không mùi và
không vị
H2S04 lỏng có đặc tính là khó bay hơi và tan
vô hạn trong nước Còn H2SO4 đặc nổi bật với
khả năng hút nước rất mạnh và tỏa nhiều nhiệt
Vì vậy bạn chú ý không nên cho nước vào axit
mà chỉ được phép cho axit vào nước Để đánh
trường hợp bị bỏng xảy ra khi nước tác dụng với
axit Và H2SO4 còn có thể pha loãng ra để trở thành H2SO4 lỏng Nhưng bạn nhớ thực hiện đúng quy trình ở trên để không gặp những tình trạng nguy hiểm
- Đối với axit sunfuric lỏng
+ Đây là một loại axit có đặc tính cực kỳ mạnh nên có đầy đủ những tính chất hóa học của một loại axit thông thường Điển hình như:
+ Làm thay đổi màu quỳ tím sang đỏ
+ Phản ứng với các kim loại, bazo, oxit bazo, muối để tạo ra những chất hóa học như mong muốn
- Đối với axit sunfuric đặc
+ Axit sunfuric đặc có những tính chất hóa tương tự như axit sunfuric lỏng - - Ngoài ra, còn một số đặc trưng riêng của loại axit này đó là:
+ Khi tác dụng với kim loại, thêm đồng (Cu) vào thì dung dịch sẽ tạo ra màu xanh
Trang 35+ H2SO4 đặc còn có tính chất háo nước rất mạnh Ví dụ như đưa H2SO4 đổ vào chén đường trắng thì chỉ sau vài phút nước sẽ chuyển thành màu đen và phun trào.
Tác hại
Như chúng ta đã biết, axit sunfuric H2SO4 được ứng dụng khá nhiều trong đời sống Tuy nhiên, H2SO4 cũng là một hóa chất nguy hiểm, có thể gây bỏng hoặc nặng hơn nữa là tử vong nếu tiếp xúc trực tiếp hay không may bị bắn vào người Do đó, khi sử dụng cần tuân thủ tuyệt đối các lưu ý dưới đây để đảm bảo an toàn cho bản thân:
Đeo găng tay dày dặn, đạt chuẩn
Mặc đầy đủ quần áo bảo hộ khi tiếp xúc với hóa chất
Khi sử dụng đeo kính và mũ đầy đủ
Không đi dép hay chân đất khi sử dụng H2SO4, nên đi giày bảo hộ hoặc ủng
Tuyệt đối không xử lý nó trên một băng ghế mở
Tuyệt đối không đổ axit ra khỏi chai
Tuyệt đối không đổ nước thẳng vào
chai chứa để tẩy rửa
Không đổ H2SO4 vào hệ thống nước
thải chung
Khi đun nóng H2SO4sẽ giải phóng ra
chất SO2 và SO3, đây là những loại
khí rất độc hại, có thể cần trang bị mặt nạ phòng độc nếu đun nóng axit với số lượng lớn
- Trường hợp tai nạn tiếp xúc trên da (bị dây vào da);
+ Triệu chứng: Tấy đỏ, phồng rộp, bỏng da nghiêm trọng,
+ Cách xử lý: Rửa nước nhiều lần, sau đó dùng dung dịch NAHCO3 (2.5%) rửa đến khi ph=7 sau đó chuyển đến cơ sở y tế điều trị
- Trường hợp tai nạn tiếp xúc theo đường hô hấp (hít thở phải hóa chất nguy hiểm dạng hơi, khí):
+ Triệu chứng: Có cảm giác rát, đau cổ họng, ho, hơi thở nặng nhọc
Trang 36+ Cách xử lý: Chuyển nơi thoáng khi nghỉ ngơi, đặt nạn nhân tư thế nửa nằm, nửa ngồi, thổi ngạt khi cần thiết, cho thở không khí giàu oxi Chuyển cơ sở y tế điều trị và theo dõi.
- Trường hợp tai nạn theo đường tiêu hóa (ăn, uống nuốt nhầm hóa chất)
+ Triệu chứng: Đau ở khoang bụng, cảm giác bỏng rát, bị sốt và suy sụp
+ Cách xử lý: Chuyển ngay đến cơ sở y tế điều trị
- Biện pháp xử lý khi rò rỉ, tràn đổ
+ Khi tràn đổ, dò rỉ ở mức nhỏ: Pha loãng bằng nước hoặc vật liệu khô như cát hoặc
trung hòa bằng NA2CO3 loãng, tìm mọi biện pháp bịt kín chỗ hở
+ Khi tràn đổ, dò rỉ lớn ở diện rộng: Nhanh chóng tìm cách dùng đất, cát đắp làm bờ
chặn không cho axit lan rộng sau đó trung hòa bằng vôi hoặc Na2CO3 loãng phun lên trên tránh hơi axit lan rộng Báo với cơ quan quản lý môi trường, biết kịp thời xử lý Dung dịch sau xử lý phải thu gom xử lý tiếp trước khi thải vào môi trường
- Khi sử lý cần sử dụng các dụng cụ bảo hộ, tránh để H2SO4 dây vào người sẽ gây bỏng, nặng có thể dẫn đến tử vong
6.3 Kiềm (NAOH)
Tính chất hóa lý
NaOH là khối tình thể không màu, khối lượng riêng 2,02 Hấp thụ nhanh CO2 và nước trong không khí, chảy rữa và biến thành Na2CO3 tan trong nước, tan nhiều trongrượu và không tan trong ether NaOH tan trong nước tỏa nhiều nhiệt nên khi hòa tan NaOH rắn cần tránh tiếp xúc và hơi nước bốc lên có thể kèm theo NaOH
Dung dịch NaOH có độ nhớt cao, có tính ăn mòn thủy tinh và có khi năng ăn mòn
da rất nhanh, đặc biệt khi đậm đặc
Xử lý khi gặp sự cố
Kiềm là dung dịch kém bay hơi, nên sự cố xảy ra với hơi dung dịch thường không có Nhưng ngược lại, với nồng độ cao thì kiềm có tính ăn mòn rất mạnh, nhưng tốc độ không cao lắm Vì vậy khi bị dung dịch kiềm rơi vào da, phải nhanh chóng rửa bằng nước thật nhiều, sau đó đưa đến bệnh viện nếu thấy biểu hiện nặng (da nhợt đi, nếu dung dịch kiềm nóng thì đỏ ửng, rát da ), nếu để lâu thì độ bỏng sẽ nặng và rất nguy hiểm
6.4 Axit nitric HNO3
Tính chất hóa lý
Axit nitric là một axit độc và ăn mòn có thể dễ gây cháy Axit nitric tinh khiết không màu sắc còn nếu để lâu sẽ có màu hơi vàng do sự tích tụ của các ôxit nitơ Dung dịch
có hơn 86% axit nitric, được gọi là axit nitric bốc khói, gồm axit nitric bốc khói trắng
và axit nitric bốc khói đỏ, tùy thuộc vào số lượng điôxít nitơ hiện diện
Trang 37Axit nitric khan tinh khiết (100%) là một chất lỏng với tỷ trọng khoảng 1522
kg/m^3, đông đặc ở nhiệt độ -42°C tạo thành các tinh thể trắng, sôi ở nhiệt độ 83°C
Bị phân hủy dưới tác động của ánh sáng, kể cả tại nhiệt độ trong phòng, axit nitric khan nên được cất chứa ở nhiệt độ dưới 0°C để tránh bị phân hủy
Axit nitric là một chất ôxi hóa mạnh, và các phản ứng của axit nitric với các hợp chất như cyanit, carbit, và bột kim loại có thể gây nổ Các phản ứng của axit nitric với nhiều hợp chất vô cơ, như turpentine, rất mãnh liệt và tự bốc cháy
Sự cố và xử lý khi gặp sự cố
Nếu axit nitric dính vào mắt sẽ bỏng mắt trầm trọng, gây viêm kết mạc và tổn thương giác mạc; các tổn thương này rất khó điều trị Nếu để axit nitric dính vào mắt, cần nhanh chóng đến các cơ quan y tế gần nhất, không để nạn nhân dùng tay dụi mắt hay nhắm mắt, cần rửa nước liên tục trong vòng 30 phút trước khi chuyển đến trạm y tế
Axit nitric dính lên da sẽ gây bỏng da và loét da, hoặc gây kích ứng da nếu dính một lượng nhỏ Khi axit dính lên da, cần rửa bằng xà phòng dưới vòi nước ít nhất 15 phút, cởi bỏ trang phục, giày dép Giặt sạch quần áo trước khi sử dụng lại và tiêu hủy giày dép dính axit
Khi uống phải axit nitric có thể gây nên ảnh hưởng lâu dài đến đường tiêu hóa, gâybỏng, đường tiêu hóa và có thể có ảnh hưởng đến các hệ cơ quan Nạn nhân uống phảiaxit nitric cần được cho uống 2 – 4 cốc sữa, nước ngay lập tức, tuyệt đôí không cho bất kì vật gì vào miệng nạn nhân và chuyển đến cơ quan y tế gần nhất
Khi hít phải axit nitric với một lượng nhỏ, các hiện tượng kích ứng có thể sẽ không diễn ra ngay lập tức Tuy nhiên, nếu hít phải, một lượng lớn sẽ gây bỏng đường hô hấp, co thắt, viêm, phù nề thanh quản, tắc,đường thở và dẫn đến tử vong Khi phát hiện nạn nhân, cần đưa nạn nhân đến nơi có không khí trong lành, cho nạn nhân thở oxy, không dùng miệng tiến hành hô hấp nhân tạo; trường hợp nạn nhân ngừng thở, tiến hành các biện pháp hộ hấp nhân tạo bằng các phương tiện thích hợp
6.5 Kali hydroxyt KOH: có tác dụng tương tự như kiềm NaOH
Tính chất hóa lý
KOH tồn tại ở thể rắn, màu trắng, hút ẩm mạnh Khi để trong không khí, KOH hút
ẩm mạnh, thoạt đầu, KOH bị ướt, sau đó tan thành dung dịch Khí CO2 trong không khí sẽ tác dụng với dung dịch tạo thành K2CO3 KOH có độ tan lớn trong nước, trongquá trình hòa tan phát ra một lượng nhiệt lớn
Tác hại và cách xử lí sự cố
KOH có thể gây bỏng da, bỏng giác mạc, khi tiếp xúc với KOH trong một thời gian dài sẽ gây bị viêm da Khi dính KOH vào da và mắt, cần rửa kỹ bằng xà phòng dưới vòi nước ít nhất 15 phút Nếu uống phải KOH, nạn nhận không bị nôn mửa, tuy nhiên cần phải đưa nạn nhân đến cơ quan y tế gần nhất
Trang 386.6 Acetone.
Tính chất hóa lý
Acetone là chất lỏng không màu, dễ bay hơi, được sử dụng như một loại dung môi hữu cơ phổ biến trong phòng thí nghiệm và trong đời sống hằng ngày, acetone còn được sử dụng rất nhiều trong mỹ phẩm, y tế, phụ gia thực phẩm và đóng gói thực phẩm
Tác hại và cách xử lí sự cố
Acetone rất độc, có thể gây kích ứng da có thể gây trầm cảm hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương gan và thận, gây kích ứng đường hô hấp Acetone lỏng và hơi acetone rất dễ bắt cháy Nếu acetone dính vào mắt sẽ gây rát, đỏ mắt, rách, viêm và tổn thương giác mạc, cần rửa mắt dưới vòi nước sạch ít nhất 15 phút và đi đến cơ quan
y tế gần nhất
Da khi dính phải acetone sẽ bị ửng đỏ, khô, và viêm Cần rửa sạch - dưới vòi nước
ít nhất 15 phút, cởi bỏ quần áo dính phải acetone
Khi uống nhầm acetone sẽ gây kích ứng đường tiêu hóa, trầm cảm hệ thần kinh trung ương, suy thận, và tổn thương gan Triệu chứng có thể bao gồm: đau đầu, kích thích, mệt mỏi, buồn nôn, nôn và hôn mê Có thể gây tổn thương gan và thận Có thể gây trầm cảm hệ thần kinh trung ương; đầu tiên người uống phải sẽ có cảm giác phấn khích, tiếp theo là nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, và buồn nôn Trong một số trường hợp đặt biệt có thể bị bất tỉnh, hôn mê và có thể tử vong do suy hô hấp
Hít phải: Hít phải nồng độ cao có thể gây ra hiệu ứng hệ thống thần kinh trung ương, đặc trưng bởi buồn nôn, nhức đầu, chóng mặt, bất tỉnh và hôn mê Gây kích ứngđường hô hấp Có thể gây tổn thương gan và thận
Khi uống, hít phải acetone cần đến bệnh viện hoặc cơ quan y tế gần nhất để được chăm sóc kịp thời và đúng cách
6.7 Dimethyl ether
Tính chất hóa lý
Dimethyl ether là chất lỏng trong suốt, không màu, dễ bắt cháy, có thể tạo thành hỗn hợp nổ với không khí Dimethyl ether có tác dụng gây mê, có thể gây kích ứng da, mắt, niêm mạc
Tác hại và cách xử lí sự cố
Dimethy ether khi bay hơi có thể gây ra hiện tượng bỏng lạnh đối với da, mắt, giác mạc Khi hít phải dimethy ether có thể gây ngủ, mờ mắt, nhức đầu, bất tỉnh, rối loạn nhịp tim, và suy hô hấp do trầm cảm hệ thần kinh trung ương và gây ra tử vong do thiếu oxy
Khi dính dimethy ether vào mắt, da cần rửa sạch dưới vòi nước ít nhất 15 phút, cần
mở mắt to khi rửa để đảm bảo sạch hoàn toàn hóa chất bám trong nhãn cầu Nếu uống hay hít phải dimethyl ether cần đến ngay các cơ quan y tế gần nhất
Trang 396.8 Axit hydroflouric HF
Tính chất hóa lý
HF là một hóa chất có khả năng ăn mòn lớn, là hóa chất cực độc với cơ thể con người Khi tiếp xúc qua da, hít phải, nuốt phải, HF có thể xâm nhập dễ dàng, gây ngộ độc
Mắt tiếp xúc với HF có thể bị mù lòa, hư hỏng vĩnh viễn HF dễ dàng thâm nhập vào da người, phá hủy các mô mềm và xương gây mất canxi do khi xâm nhập vào cơ thể HF tác dụng dễ dàng với ion Ca2+ và Mg2+ trong cơ thể Bỏng HF thường rất đau đớn và khó chữa trị Khi da tiếp xúc với HF có nồng độ cao (khoảng 50% hoặc cao hơn) các mô ngay lập tức bị phá hủy nghiêm trọng và các cơ quan trong cơ thể sẽ bị ngộ độc fluoride Khi tiếp xúc với HF ở nồng độ thấp sẽ không gây cảm giác đau hay bỏng da ngay lập tức mà các triệu chứng này sẽ xuất hiện sau đó vài giờ
Hít phải hơi HF sẽ gây tổn thương nghiêm trọng cho phổi, có thể gây phù phổi dẫn đến tử vong Các hiện tượng này diễn ra chậm và các triệu chứng diễn ra không rõ ràng trong vòng vài giờ sau khi hít phải Nồng độ HF trong không khí giới hạn trong một ca làm việc 8h của người lao động là 3 ppm Khi nồng độ HF trong không khí là 10-15 ppm sẽ gây kích ứng mắt, da và đường hô hấp, 30 ppm được coi là nguy hiểm cho cuộc sống và sức khỏe và có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, trên 50 ppm tiếp xúc trong thời gian ngắn có thể gây tử vong
Calcium gluconate gel là hóa chất chuyên dụng để cấp cứu khi da tiếp xúc với HF Calcium gluconate kết hợp với HF để tạo thành florua canxi không hòa tan, do đó ngăn ngừa quá trình mất canxi từ các mô và xương Cất giữ gel calcium gluconate trong tủ y tế gần nhất khi làm việc với HF Calcium gluconate có một hạn sử dụng khángắn, cần được lưu giữ trong tủ lạnh, không sử dụng calcium gluconate đã hết hạn Sửdụng găng tay dùng một lần để lấy calcium gluconate
Trong khu vực làm việc có sử dụng HF cần trang bị bồn rửa và vòi hoa sen để cấp cứukhi có sự cố xảy ra
Dính HF vào mắt: lập tức rửa mắt dưới vòi nước ít nhất 15 phút, không nhỏ calciumgluconate vào mắt, đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất
Khi dính HF vào da: rửa bàn tay hoặc cánh tay vào nước nếu vùng da bị dính HF có diện tích nhỏ, hoặc ngâm cơ thể vào nước nếu phía trên cánh tay, cơ thể, chân dính
HF Nếu có sẵn calcium gluconate, rửa vùng da dính HF trong 5 phút, sau đó bôi calcium gluconate lên vùng da này nhằm hạn chế tác dụng của ion F, bôi calcium gluconate lên vết thương mỗi 15 phút Nếu không có sẵn calcium gluconate, rửa vùng
da dính HF tối thiểu 15 phút Hủy toàn bộ trang phục, giày dính HF
Uống phải HF: cần cho nạn nhân uống một lượng nước lớn để giảm nồng độ HF, không gây nôn ói cho nạn nhân Cho nạn nhân uống sữa có bổ sung Mg để giảm ảnh hưởng của HF
Trang 40Hít HF: đưa nạn nhân ra vùng có không khí trong lành.
Trong tất cả các trường hợp, cần nhanh chóng cấp cứu nạn nhân và đưa nạn nhân đến
cơ quan y tế gần nhất
6.9 Axid tricloro acetic
Là hóa chất rất nguy hiểm khi tiếp xúc với da, mắt, hệ tiêu hóa, hô hấp Khi dính vào mắt axit tricloro acetic có thể gây tổn thương giác mạc hoặc mù lòa, dính vào da có thể gây viêm da, nóng, kích ứng da Khi uống phải có thể gây kích thích đường hô hấp, tiêu hóa, như gây bỏng, ho, hắt hơi Khi hít phải một lượng lớn có thể gây tổn thương nặng cho phổi dẫn đến nghẹt thở, bất tỉnh và tử vong Có khả năng gây ung thư nếu tiếp xúc trong thời gian dài phân loại A3 của ACGIH (đối với động vật), loại
3 của IARC (không phân loại với con người) Có thể gây đột biến cho vi khuẩn và nấm men
Khi bị dính vào mắt cần rửa ngay bằng nước lạnh ít nhất 15 phút, rửa vùng da bị dính hóa chất bằng xà phòng và bôi thuốc sát khuẩn Khi hít phải cần đưa nạn nhân ra khu vực có không khí trong lành, làm hô hấp nhân tạo; khi cần thiết, đưa nạn nhân đến
cơ quan y tế gần nhất
6.10 Thủy ngân và các hợp chất
Thủy ngân lỏng ít độc, nhưng hôi, các hợp chất và muối của nó là rất độc và là nguyên nhân gây ra các tổn thương não và gan khi con người tiếp xúc, hít thở hay ăn phải
Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp chất hữu cơ của thủy ngân Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhung thủy ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trường vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong các cơ thể sinh vật Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong Nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật đối với các thai nhi Không khí ở nhiệt độ phòng có thể bão hòa hơi thủy ngân cao hơn nhiều lần so với mức cho phép, cho dù nhiệt độ sôi của thủy ngân là không thấp
Thủy ngân cần được tiếp xúc một cách cực kỳ cẩn thận Các đồ chứa thủy ngân phải đậy nắp chặt chẽ để tránh rò rỉ và bay hơi Khi đốt nóng thủy ngân hay các hợp chất của nó, phải tiến hành trong điều kiện thông gió tốt và người thực hiện phải đội
mũ có bộ lọc khí Ngoài ra, một số ôxít có thể bị phân tích thành thủy ngân, nó có thể bay hơi ngay lập tức mà không để lại dấu vết
Khi thủy ngân rơi ra môi trường xung quanh cần rắc ngay lưu huỳnh lên bề mặt giọt thủy ngân, lưu huỳnh sẽ tạo hỗn hồng với thủy ngân và ngăn chặn quá trình bay hơi của thủy ngân, sau đó dùng dụng cụ gom hỗn hồng vào trong vật chứa kín và đưa
đi xử lý, tránh vứt bừa bãi gây ô nhiễm môi trường xung quanh