1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUY tắc AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM

6 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 26,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY TẮC AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM Bảo hiểm trong phòng thí nghiệm hoá học Việc bảo đảm an toàn trong khi làm thí nghiệm là một công tác cơ bản, rất quan trọng của mọi người vào làm việc ở trong phòng thí nghiệm hoá học Những quy tắc cơ bản để đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm và một số phương pháp cấp cứu đầu tiên trình bày dưới đây cũng có thể giúp chúng ta tham khảo trong việc phòng và chống chất độc hoá học, chống ô nhiễm môi trường 1 Quy tắc về kĩ thuật bảo hiểm khi làm thí nghiệm a Thí nghi.

Trang 1

QUY TẮC AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM Bảo hiểm trong phòng thí nghiệm hoá học

Việc bảo đảm an toàn trong khi làm thí nghiệm là một công tác cơ bản, rất quan trọng của mọi người vào làm việc ở trong phòng thí nghiệm hoá học

Những quy tắc cơ bản để đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm và một số phương pháp cấp cứu đầu tiên trình bày dưới đây cũng có thể giúp chúng ta tham khảo trong việc phòng và chống chất độc hoá học, chống ô nhiễm môi trường

1 Quy tắc về kĩ thuật bảo hiểm khi làm thí nghiệm

a Thí nghiệm với chất độc

Trong phòng thí nghiệm hoá học có nhiều chất độc như thuỷ ngân (gây rối loạn thần kinh, làm rụng răng,…), hợp chất của asen, photpho trắng (làm mục xương hàm, làm bỏng,…), hợp chất xianua, khí cacbon oxit (thở không khí chứa 1% về thể tích khí cacbon oxit có thể làm người ta bị chết), khí hiđro sunfua (người ngửi phải không khí

có chứa 1,2mg/l trong 10 phút cũng có thể chết), khí nitơ peoxit, khí sunfurơ, amoniac, clo, brom phá huỷ nặng cơ quan hô hấp; brom lỏng gây bỏng da, rượu metylic, phenol, axit foocmic (gây bỏng da),… Uống phải một lượng rượu metylic, khoảng 10ml, có thể gây mù mắt; benzen, xăng cũng là những chất độc Do đó phải thận trọng khi sử dụng các chất này và phải theo đúng các quy tắc sau đây:

– Nên làm thí nghiệm với các chất khí độc ở trong tủ hốt hoặc ở nơi thoáng gió và

mở rộng cửa phòng Chỉ nên lấy lượng hoá chất tối thiểu để làm được nhanh và giảm bớt khí độc bay ra

– Không được nếm và hút các chất độc bằng miệng Phải có khẩu trang và phải thận trọng khi ngửi các chất Không hít mạnh hoặc kề mũi vào gần bình hoá chất mà chỉ dùng bàn tay phẩy nhẹ hơi hoá chất vào mũi

– Đựng thuỷ ngân trong các lọ dày, nút kín và nên có một lớp nước mỏng ở trên Khi rót và đổ thuỷ ngân, phải có chậu to hứng ở dưới và thu hồi lại ngay các hạt nhỏ rơi vãi (dùng đũa thuỷ tinh gạt các hạt thuỷ ngân vào các mảnh giấy cứng) Nếu có nhiều hạt nhỏ rơi xuống khe bàn thì cần phải rắc một ít bột lưu huỳnh vào đó Không được lấy thuỷ ngân bằng tay

– Phải hạn chế, tránh thở phải hơi brom, khí clo và khí nitơ peoxit; không để luồng hơi brom, khí clo, nitơ peoxit vào mắt hoặc brom lỏng dây ra tay

b Thí nghiệm với các chất dễ ăn da và làm bỏng

Có nhiều chất dễ ăn da và làm bỏng như axit đặc, kiềm đặc, kim loại kiềm, photpho trắng, brom, phenol,…

Khi sử dụng các chất trên phải giữ gìn không để dây ra tay, người và quần áo, đặc biệt là mắt Nên dùng kính che mắt khi cần phải quan sát thật gần

Không đựng axit đặc vào các bình quá to; khi rót, khi đổ không nên nâng bình quá cao so với mặt bàn

Khi pha loãng axit sunfuric cần phải đổ axit vào nước mà không được làm ngược lại, phải rót chậm từng lượng nhỏ và khuấy đều

Khi đun nóng dung dịch các chất dễ ăn da, làm bỏng phải tuyệt đối tuân theo quy tắc đun nóng hoá chất trong ống nghiệm (hướng miệng ống nghiệm về phía không có người)

c Thí nghiệm với các chất dễ bắt lửa

Các chất dễ cháy như rượu cồn, dầu hoả, xăng, ete, benzen, axeton,… rất dễ gây

ra các tai nạn cháy nên phải cẩn thận khi làm thí nghiệm với các chất đó

– Nên dùng những lượng nhỏ các chất dễ bắt lửa, không để những bình lớn đựng các chất đó ra bàn thí nghiệm Phải để xa lửa khi rót các dung dịch dễ cháy Không để gần lửa và không đựng các chất đó trong bình có thành lọ mỏng hay rạn nứt và không

có nút kín

Trang 2

– Khi phải đun nóng các chất dễ cháy, không được đun trực tiếp mà phải đun cách thuỷ

– Khi sử dụng đèn cồn, không nên để bầu đựng cồn gần cạn (vì khi cồn chỉ còn 1/4 của bầu thì có thể nổ gây ra tai nạn) Khi rót thêm cồn vào đèn phải tắt đèn trước

và dùng phễu Không châm lửa đèn cồn bằng cách chúc ngọn đèn nọ vào ngọn đèn kia

mà phải dùng đóm

d Thí nghiệm với các chất dễ nổ

Các chất dễ nổ ở phòng thí nghiệm thường là các muối clorat, nitrat Khi làm thí nghiệm với các chất đó, cần thực hiện những yêu cầu sau đây:

– Tránh đập và va chạm vào các chất dễ nổ Không để các chất dễ nổ gần lửa – Khi pha trộn các hỗn hợp nổ cần hết sức thận trọng, dùng đúng liều lượng đã quy định Không tự động thí nghiệm một cách liều lĩnh nếu chưa nắm vững kĩ thuật và thiếu phương tiện bảo hiểm Chẳng hạn đập hỗn hợp nổ kali clorat và lưu huỳnh, đốt

với oxi,…

– Tuyệt đối không cho học sinh làm những thí nghiệm quá nguy hiểm như đập hỗn hợp kali clorat và photpho khi thiếu những điều kiện bảo đảm thật đầy đủ

– Trước khi đốt cháy một chất khí nào, hiđro chẳng hạn, phải thử thật kĩ xem chất

đó đã nguyên chất chưa, vì các khí cháy được, khi trộn lẫn với không khí, thường tạo thành hỗn hợp nổ

– Không được vứt natri, kali với lượng lớn vào chậu nước, vào bể rửa, vì dễ gây tai nạn nổ

2 Cách cứu chữa khi gặp tai nạn và những phương pháp cấp cứu đầu tiên

a Khi bị thương

Khi bị đứt tay chảy máu nhẹ (rớm máu hoặc chảy máu chậm), dùng bông thấm máu rồi dùng bông bôi thuốc sát trùng (cồn 90°, thuốc tím loãng, cồn iot, thuốc đỏ,…)

Có thể dùng dung dịch sắt (III) clorua để cầm máu Sau đó băng lại

Nếu vết thương làm rách động mạch, máu bị phun ra mạnh, phải gọi ngay cán bộ

y tế đến làm ga rô Trong khi chờ đợi, dùng dây cao su hay khăn mặt nhỏ buộc chặt ngay phía trên vết thương Cần giữ vết thương khỏi bị nhiễm trùng bằng cách đắp bông sạch lên vết thương rồi băng kín

b Khi bị bỏng

Nếu bị bỏng bởi vật nóng cần đắp ngay bông có tẩm dung dịch 1% thuốc tím vào vết bỏng, nếu bỏng nặng thì dùng dung dịch thuốc tím đặc hơn Sau đó bôi vadơlin lên

và băng vết bỏng lại Có axit picric hoặc tananh 3% bôi lên vết bỏng càng tốt Nếu có những vết phồng trên vết bỏng thì không được làm vỡ vết phồng đó

Nếu bị bỏng vì axit đặc, nhất là axit sunfuric đặc, thì phải dội nước rửa ngay nhiều lần, nếu có vòi nước thì cho chảy mạnh vào vết bỏng 3 – 5 phút, sau đó rửa bằng dung dịch 10% natri hiđrocacbonat, không được rửa bằng xà phòng

Bị bỏng vì kiềm đặc thì lúc đầu chữa như bị bỏng axit, sau đó rửa bằng dung dịch loãng axit axetic 5% hay giấm

Nếu bị axit bắn vào mắt, phải nhanh chóng dùng bình cầu tia phun mạnh vào mắt, rồi rửa lại bằng dung dịch 3% NaHCO3 Nếu là kiềm thì rửa bằng dung dịch 2% axit boric

Khi bị bỏng vì photpho thì phải nhúng ngay vết thương vào dung dịch thuốc tím hay dung dịch 10% bạc nitơrat, hoặc dung dịch 5% đồng sunfat Sau đó đến trạm y tế

để lấy hết photpho còn lẫn trong vết bỏng Tuyệt đối không bôi vadơlin hay thuốc mỡ lên vết bỏng vì photpho hoà tan trong các chất này

Trang 3

Nếu bị bỏng vì brom lỏng thì phải giội nước rửa ngay, rồi rửa lại vết bỏng bằng dung dịch amoniac sau đó rửa bằng dung dịch 5% natri thiosunfat Na2S2O3, rồi bôi vadơlin, băng lại và đến trạm y tế để cứu chữa tiếp tục

c Khi bị ngộ độc

– Ăn hoặc uống phải chất độc: Nếu ăn phải asen và hợp chất của asen, phải làm

cho bệnh nhân nôn ra (chẳng hạn bằng cách móc tay vào tiểu thiệt) Cho uống than hoạt tính hoặc cứ 10 phút thì cho uống một thìa con dung dịch sắt (II) sunfat (1 phần FeSO4 và 3 phần nước) Tốt hơn thì dùng hỗn hợp dung dịch sắt sunfat nói trên với huyền phù của magie oxit pha trong nước (20g MgO trong 300ml nước) Sau đó cấp tốc đưa bệnh nhân vào bệnh viện để rửa ruột

Nếu ăn phải hợp chất của thuỷ ngân, cần làm cho bệnh nhân nôn ra, cho uống sữa có pha lòng trắng trứng, sau đó cho bệnh nhân uống thêm than hoạt tính

Nếu bị ngộ độc vì photpho trắng, cho uống thuốc nôn (dung dịch loãng đồng sunfat: 0,5g đồng sunfat trong 1 – 1,5 lít nước) Cho uống nước đá Không được uống sữa và lòng trắng trứng hoặc dầu mỡ vì các chất này hoà tan photpho

Nếu bị ngộ độc vì axit xianhiđric và muối xianua (có trong lá cây trúc đào và một

số củ sắn làm người ta bị say) thì làm cho bệnh nhân nôn ra, uống dung dịch 1% natri thiosunfat Na2S2O3 hoặc dung dịch thuốc tím rất loãng 0,025% đã được kiềm hoá bằng natri hiđrocacbonat, làm hô hấp nhân tạo, dùng nước lạnh xoa gáy Cho uống dung dịch đặc glucozơ hoặc đường

– Hít phải chất độc nhiều: Khi bị ngộ độc vì các chất khí độc, cần đình chỉ thí

nghiệm, mở ngay cửa và cửa sổ, đưa ngay bệnh nhân ra ngoài chỗ thoáng gió, đưa các bình có chứa hoặc sinh ra khí độc vào tủ hốt hoặc đưa ra ngoài phòng Cần cởi thắt lưng, xoa mặt và đầu người bị ngộ độc bằng nước lã, cho ngửi dung dịch amoniac

Nếu bị ngộ độc vì clo, brom: cần đưa bệnh nhân ra chỗ thoáng, cho thở bằng oxi nguyên chất Nếu cần thiết thì làm hô hấp nhân tạo

Nếu bị ngộ độc vì hiđro sunfua: cần cho bệnh nhân thở ở chỗ thoáng, nếu cần thì cho thở bằng oxi

Nếu bị ngộ độc amoniac: Khi hít phải quá nhiều amoniac, cần cho bệnh nhân hít hơi nước nóng Sau đó cho uống nước chanh hay giấm

d Tủ thuốc cấp cứu của phòng thí nghiệm

Để cấp cứu khi bị thương hay bị hỏng, phòng thí nghiệm cần có tủ thuốc đựng sẵn một số thuốc thông dụng sau đây:

1) Cồn iot 5%

2) Dung dịch 3% natri bicacbonat (natri hidro cacbonat, NaHCO3)

3) Dung dịch 5% amoniac (5% NH3)

4) Dung dịch 2% axit boric (2% H3BO3)

5) Dung dịch loãng (2 – 3%) thuốc tím (đựng trong lọ màu nâu)

6) Dung dịch sắt (III) clorua đặc

7) Dung dịch 3% axit axetic

8) Dung dịch 5% đồng sunfat

9) Các loại bông băng, gạc đã được tẩy trùng

Trang 4

QUY TẮC AN TOÀN PHÒNG THÍ NGHIỆM

1 Quy tắc an toàn khi làm việc trong phòng thí nghiệm

Tất cả các thí nghiệm có sử dụng chất độc dễ bay hơi, có mùi khó chịu, các khí độc hoặc các axit đặc phải được tiến hành trong tủ hốt hoặc nơi thoáng gió Cần tìm hiểu

về các hoá chất dùng trong PTN để biết các đặc tính như: tính độc, khả năng cháy, nổ, để tránh xảy ra những sai sót khi tiến hành thí nghiệm, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc

a Làm việc với các chất độc:

- Trong PTN Hoá học có nhiều loại hoá chất thường gặp nhưng lại có độc tính cao

như: HCN, NaCN/KCN, Me2SO4, Hg, HgCl2, CO, Cl2, Br2, NO, NO2, H2S, NO2, hay các loại chất dùng trong mảng Tổng hợp Hữu cơ như: CH3OH, pyriđin C5H5N, THF,

benzen, toluen, acrylonitrin, anilin, HCHO, CH2Cl2 Tất cả các chất không biết rõ ràng đều được coi là chất độc Khi làm việc với các hoá chất này cần chú ý kiểm tra

chất lượng dụng cụ chứa đựng và dụng cụ tiến hành thí nghiệm Đặc biệt tuân thủ chặt chẽ các điều kiện đã nêu trong giáo trình, tài liệu đã được chuẩn bị trước

- Không trực tiếp đưa hoá chất lên mũi và ngửi mà phải để cách xa và dùng tay

phất nhẹ cho chúng lên mùi

- Sau khi làm việc phải rửa mặt, tay và các dụng cụ (nên dùng xà phòng).

- Cất giữ, bảo quản hoá chất cẩn thận.

b Làm việc với các chất dễ cháy:

- Các chất thuộc nhóm chất dễ cháy, dễ bay hơi bốc lửa là Et2O, Me2CO, ROH,

dầu hoả, xăng, CS2, benzen, Khi làm việc với chúng cần chú ý là chỉ được phép đun nóng hay chưng cất chúng trên nồi cách thuỷ hoặc cách không khí trên bếp điện kín

- Khi làm thí nghiệm cần dùng lượng nhỏ, pha chế dung dịch phải để xa ngọn lửa

… khi đun nóng chúng thì không được đun trực tiếp mà phải đun cách thủy

- Không dùng bình quá lớn để đựng các loại này và phải để chúng ở xa nguồn lửa (như đèn cồn, bếp điện …)

- Khi sử dụng đèn cồn phải theo đúng những nguyên tắc đã quy định

- Không để gần nguồn nhiệt, cầu dao điện,

- Khi tiến hành kết tinh từ các dung môi dễ cháy thì cần thực hiện trong dụng cụ

riêng, có lắp sinh hàn hồi lưu

c Làm việc với các chất dễ nổ:

Khi làm việc với các chất như H2, kiềm (kim loại & dung dịch), NaNH2/KNH2, axit đặc, các chất hữu cơ dễ nổ (đặc biệt là các polynitro) cũng như khi làm việc dưới

áp suất thấp hay áp suất cao cần phải đeo kính bảo vệ (làm bằng thuỷ tinh hữu cơ) để che chở cho mắt và các bộ phận quan trọng trên gương mặt

Các chất gây nổ thường có trong phòng thí nghiệm như: các muối ni trat, muối clorat v.v… Các chất này cần để xa nguồn lửa, khi pha trộn chúng cần thận trọng, theo đúng tỷ lệ về khối lượng quy định Khi làm thí nghiệm phải có phương tiện bảo hiểm, không cho hoc sinh làm thí nghiệm nổ mà độ an toàn chưa cao Khi đốt các chất khí như: H2, C2H2, CH4 v.v… phải thử độ nguyên chất của chúng tránh để lẫn oxi không

Trang 5

khí tạo ra hỗn hợp nổ nguy hiểm Không được cho natri lượng lớn vào nước vì sẽ gây tai nạn do nổ cháy

Cách thử: Thu khí H2 qua H2O vào những ống nghiệm cỡ nhỏ Dùng ngón tay bịt miệng ống chứa H2 và đưa miệng ống vào gần ngọn lửa đèn cồn Mở ngón tay ra, hỗn hợp khí H2 và O2 (trong không khí) sẽ cháy với tiếng nổ khá to Tiếp tục lấy và đốt cho đến khi không còn tiếng nổ nữa là H2 đã tinh khiết

Không được cúi đầu về phía các chất lỏng đang đun sôi hoặc chất rắn đang đun nóng chảy để tránh bị hoá chất bắn vào mặt (có nhiều trường hợp không lưu ý vấn đề này) Khi đun nóng các dung dịch trong ống nghiệm phải dùng cặp và luôn chú ý quay miệng ống nghiệm về phía không có người, đặc biệt là khi đun nóng axit đặc hoặc kiềm đặc Phải biết chỗ để và sử dụng thành thạo các dụng cụ cứu hoả, các bình chữa cháy

và hộp thuôc cứu thương để khi sự cố xảy ra có thể xử lí nhanh chóng và hiệu quả

d Thí nghiệm với chất ăn da, gây bỏng

Kiềm đặc, axit đặc, kim loại kiềm, phenol v.v Khi làm thí nghiệm phải thận trọng tránh để chất này dính vào tay, quần áo, đặc biệt là mắt (nên dùng kính bảo hộ)

Khi pha loãng axit H2SO4 đặc phải rất thận trọng: đổ từ từ axit đặc vào nước, khuấy đều và cấm làm ngược lại

Khi đun nóng dung dịch các chất loại này phải tuân theo quy tắc đun nóng hóa chất trong ống nghiệm

2 Cách sơ cứu chấn thương và ngộ độc trong PTN:

Vấn đề này sẽ chỉ được nói chung chung bởi có nhiều trường hợp tai nạn PTN và mỗi trường hợp có 1 cách xử lí khác nhau

a Tủ thuốc sơ cứu trong phòng thí nghiệm hóa học

Tủ thuốc sơ cứu PTN hóa học nên để ở vị trí thích hợp nhất và do cán bộ thí nghiệm trực tiếp quản lý

Tủ thuốc gồm:

- Dụng cụ: bông y tế, gạc, băng, panh gắp, kéo, bộ xy lanh – kim tiêm

- Thuốc

+ Thuốc cầm máu: dung dịch cồn iot 5%

+ Thuốc sát trùng: dung dịch thuốc tím (KMnO4 5%), cồn 400

+ Thuốc chữa bỏng: dung dịch natri hiđrocacbonat (NaHCO3) 5%, dung dịch amoniac (NH4OH) 2%, dung dịch đồng sunfat (CuSO4) 2%, dung dịch axit axetic (CH3COOH) 2%

+ Thuốc trợ lực vitamin B1, C, K, đường glucozơ hoặc đường saccrozơ…

b Một số thao tác sơ cứu trong phòng thí nghiệm

- Trường hợp bị bỏng:

+ Khi bị axit đặc (H2SO4, HNO3, HCl, HOAc, ) hoặc brom, phenol bắn

hoặc rơi vào da thì phải rửa ngay bằng vòi nước mạnh trong vài phút, sau đó dùng bông tẩm NaHCO3 2% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên chỗ bỏng và băng lại

+ Khi bị bỏng do vật nóng, thuỷ tinh, mảnh sứ thì phải gắp các mảnh chất rắn đó ra và dùng bông tẩm KMnO4 3% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên vết bỏng, sau đó băng lại bằng thuốc có tẩm thuốc mỡ chứa bỏng

+ Khi bị hoá chất bắn vào mắt thì phải rửa bằng nước nhiều lần để sơ cứu

và đem đến bệnh viện gấp

+ Vết bỏng do dung môi dễ cháy như benzen, axeton (C6H6,

CH3COCH3 v.v….) Dùng khăn vải, khăn tẩm nước chụp lên chỗ cháy trên người nạn nhân, sau đó dùng cát hoặc bao tải ướt dập đám cháy Không dùng nước để rửa vết bỏng mà dùng gạc tẩm dung dịch thuốc tím (KMnO4 1%) hoặc axit picric H3BO3 2% đặt nhẹ lên vết thương bỏng

Trang 6

+ Vết bỏng do kiềm đặc: Xút ăn da, potat ăn da (NaOH, KOH) Dùng nước sạch để rửa vết thương nhiều lần, sau đó rửa bằng dung dịch axit axetic 5% Nếu kiềm bắn vào mắt thì phải rửa bằng nước sạch nhiều lần sau dung dịch axit boric (H3BO3 2%)

+ Vết bỏng do axit đặc như axit sunfuric, nitric (H2SO4, HNO3…) Trước tiên rửa bằng nước sạch nhiều lần, sau dùng dung dịch amoniac 5% hoặc dung dịch NaHCO3 10%, loại bỏ các phương tiện dính axit trên vùng bị bỏng (không nên dùng xà phòng để rửa vết thương) Nếu axit rơi vào mắt thì nhanh chóng rửa kỹ nhiều lần bằng nước sạch, nước cất, nước đun sôi để nguội sau dùng dung dịch natri hydro cacbonat (NaHCO3) 3%

+ Vết bỏng do phốt pho (P) Trước tiên rửa vết bỏng bằng dung dịch đồng sunphat (CuSO4) 2% Không dùng thuốc mỡ hoặc vazơlin… Tiếp theo dùng gạt tẩm dung dịch đồng sunphat 2% hoặc dung dịch thuốc tím (KMnO4) 3% đặt lên vết thương Vết bỏng loại này lâu khỏi hơn với vết bỏng khác, cần tránh gây nhiễm trùng

- Trường hợp bị ngộ độc:

+ Ngộ độc do uống nhầm axit Trước tiên cho nạn nhân uống nước đá, vỏ trứng nghiền nhỏ (1/2 thìa con trong cốc nước) và cho uống bột magie oxit (MgO) trộn với nước cho uống nước (29 gam trong 300 ml nước) và uống từ từ Không dùng thuốc tẩy

+ Ngộ độc do hút phải kiềm (amoniac, xút ăn da…) sơ cứu nạn nhân bằng

cách uống giấm loãng (axit axetic 2%) hoặc nước chanh Không được uống thuốc tẩy

+ Ngộ đốc do ăn phải hợp chất của thuỷ ngân, trước hết cần cho nạn nhân

nôn ra rồi cho uống sữa có pha lòng trắng trứng Sau đó cho nạn nhân uống than hoạt tính

+ Ngộ độc do phốt pho trắng, trước hết cần làm cho nạn nhân nôn ra, rồi

uống dung dịch đổng sunphat (CuSO4) 0,5 gam trong một lít nước và cho uống nước

đá Không được uống sữa, lòng trắng trứng, dầu mỡ vì các chất này hoà tan photpho

+ Ngộ độc vì hỗn hợp chì, cho nạn nhân uống natri sunphat (Na2SO4) 10% hoặc magie sun phat (MgSO4) 10% trong nước ấm vì các chất này sẽ tạo thành kết tủa với chì Sau đó uống sữa lòng trắng trứng và uống than hoạt tính

+ Ngộ độc do hít phải khí độc như khí clo, brom (Cl 2 , Br 2 ) cần đưa nạn

nhân ra chỗ thoáng, nới dây thắt lưng, cho thở không khí có một lượng nhỏ amniắc hoặc có thể dùng hỗn hợp cồn 900C với amoniac

+ Ngộ độc do hít phải khí hiđro sunfua, các bon oxit… (H 2 S, CO), Cần đưa

nạn nhân nằm ở chỗ thoáng, cho thở bằng oxi nguyên chất, làm hô hấp nhân tạo nếu cần thiết

+ Ngộ độc do hít phải quá nhiều amoniac, cần cho nạn nhân hít hơi nước

nóng, sau đó cho uống nước chanh hoặc giấm loãng

Ngày đăng: 19/04/2022, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

w