1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

37 440 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế, Chứng khoán
Thể loại Luận văn, Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 66,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hợp đồng quyền chọn bán Put options: Là một thỏa thuận giao dịch một lượng tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options C sẽ trả cho người bánPut options D một khoản tiền, gọ

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Giới thiệu về quyền chọn

1.1.1 Định nghĩa

1.1.1.1 Quyền chọn

Quyền chọn là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọnquyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán xác định trước trong khoảngthời gian nhất định với mức giá được xác định trước

Như vậy việc yêu cầu thực hiện quyền chọn là quyền mà không phải nghĩa vụcủa người mua quyền chọn trong khi người bán phải thực hiện nghĩa vụ của mình khingười mua yêu cầu Do đó, người mua quyền chọn có thể yêu cầu thực hiện quyềnchọn, để quyền chọn hết hạn, hoặc bán lại quyền chọn trên thị trường Chính vì vậyngười mua quyền chọn được xem là NĐT có vị thế dài hạn và người bán ở vị thế ngắnhạn trên hợp đồng

Một hợp đồng quyền chọn bao giờ cũng phải có đầy đủ ít nhất 5 nội dungchính: chứng khoán cơ sở, quy mô hợp đồng, thời gian đáo hạn, giá thực hiện và giáphí quyền chọn Riêng giá phí quyền chọn là nội dung có thể thương lượng giữa cácbên tham gia Giá phí quyền chọn chính là mức giá của quyền chọn mà bên muaquyền chọn phải trả cho bên bán

1.1.1.2 Quyền chọn mua:

Quyền chọn mua là một loại quyền chọn cho phép người sở hữu quyền chọnđược quyền mua một số lượng chứng khoán của một loại chứng khoán nhất định vớigiá xác định trước trong một thời hạn ấn định

Thời gian có hiệu lực của hợp đồng quyền chọn được xác định đến ngày đáohạn Giá thực thi quyền chọn được gọi là giá thực hiện

1.1.1.3 Quyền chọn bán:

Quyền chọn bán là một loại quyền chọn cho phép người sở hữu quyền chọnđược quyền bán một số lượng chứng khoán của một loại chứng khoán nhất định vớigiá xác định trước trong một thời hạn ấn định

Trang 2

1.1.2 Phân loại hợp đồng quyền chọn

1.1.2.1 Theo quyền của người mua

- Hợp đồng quyền chọn mua (Call options): Là một thỏa thuận giao dịch một

lượng tài sản cơ sở nhất định, trong đó người mua call options (A) sẽ trả cho ngườibán call options (B) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn(options premium) và A sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua mộtlượng tài sản cơ sở đó theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày hoặcmột khoảng thời gian xác định trong tương lai B nhận được tiền từ A nên B có tráchnhiệm phải bán lượng tài sản cơ sở đó với giá thực hiện đã thỏa thuận vào ngày đáohạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu) hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi A muốn thựchiện quyền mua của mình Vào ngày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúchợp đồng), sau khi xem xét với mức giá giao ngay của tài sản cơ sở ở ngày này, nếuthấy có lợi cho mình, tức giá tài sản cơ sở lớn hơn giá thực hiện, A có thể thực hiệnquyền của mình để được mua lượng tài sản cơ sở đó ở mức giá thực hiện, rồi ra thịtrường bán lại với giá cao hơn để thu một khoản lợi nhuận Nếu thấy giá của tài sản cơ

sở dưới giá thực hiện, A có thể không cần phải thực hiện quyền mua của mình, vàchịu lỗ tiền phí quyền chọn

- Hợp đồng quyền chọn bán (Put options): Là một thỏa thuận giao dịch một

lượng tài sản cơ sở nhất định, theo đó người mua Put options (C) sẽ trả cho người bánPut options (D) một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí Put options và C

sẽ có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ phải bán lượng tài sản cơ sở đó theo mộtmức giá đã thỏa thuận trước (giá thực hiện) vào một ngày hoặc một khoảng thời gianxác định trong tương lai D nhận được tiền từ C, nên có nghĩa vụ phải mua lượng tàisản cơ sở đó ở mức giá thực hiện vào ngày đáo hạn (nếu là quyền chọn kiểu Châu Âu)hoặc bất kì ngày nào trong khoảng thời gian từ ngày ký hợp đồng đến ngày đáo hạn(nếu là quyền chọn kiểu Mỹ), khi C muốn thực hiện quyền được bán của mình Vàongày thực hiện quyền (thường cũng là ngày kết thúc hợp đồng), sau khi xem xét giágiao ngay của tài sản cơ sở trên thị trường, nếu thấy có lợi cho mình, tức mức giá nàynhỏ hơn giá thực hiện, C có thể thực hiện quyền của mình để được bán lượng tài sản

cơ sở đó với giá thực hiện sau khi đã mua được ở ngoài thị trường với giá thấp hơn để

Trang 3

thu một khoảng lợi nhuận Nếu thấy giá giao ngay cao hơn giá thực hiện, C có thểkhông cần phải thực hiện quyền chọn bán của mình, và chịu lỗ tiền phí quyền chọn.

1.1.2.2 Theo thời gian thực hiện:

- Quyền chọn kiểu Mỹ (American style option) Là quyền chọn cho phép ngườinắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào bất kỳ thời điểm nào trong thờigian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến hết ngày đáo hạn củahợp đồng Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việcthực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận (trong thời gian hiệu lực của hợpđồng)

- Quyền chọn kiểu châu Âu (European style option) là quyền chọn chỉ chophép người nắm giữ thực hiện quyền mua hoặc bán của mình vào ngày đáo hạn củahợp đồng Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việcthực hiện quyền chọn được người nắm giữ xác nhận vào ngày đáo hạn

Sự phân biệt giữa hai loại quyền chọn kiểu châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹkhông liên quan đến vị trí địa lý Ða số hợp đồng quyền chọn được trao đổi chính yếutrên thị trường Mỹ Tuy nhiên, quyền chọn kiểu châu Âu có đặc điểm dễ phân tíchhơn quyền chọn kiểu Mỹ và một số thuộc tính trong quyền chọn kiểu Mỹ thường đượcsuy ra từ quyền chọn kiểu châu Âu

1.1.2.3 Theo thị trường giao dịch:

- Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường tập trung: Là quyền chọnđược tiêu chuẩn hóa về quy mô, số lượng, giá thực hiện và ngày đáo hạn, được giaodịch trên các thị trường tập trung như Chicago Board of Trade, TTCK New York…Do

đó, tính minh bạch của thị trường rất cao, thể hiện ở chỗ giá cả, số lượng của hợpđồng giao dịch được công bố chi tiết vào cuối ngày giao dịch, làm dữ liệu tham khảocho các ngày giao dịch tiếp theo hoặc cho nhiều mục đích khác Đặc biệt, các hợpđồng quyền chọn này có thể được dễ dàng chuyển nhượng giữa các NĐT, điều nàycho thấy tính thanh khoản cao của các hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên cácthị trường tập trung kiểu này Trên thế giới, thị trường giao dịch quyền chọn theo kiểunày chiếm tỉ trọng rất lớn, khoảng 98% tổng giá trị giao dịch quyền chọn của thế giới

- Hợp đồng quyền chọn giao dịch trên thị trường phi tập trung : Là thỏa thuậnmua bán giữa hai bên, theo đó quyền chọn được người bán đưa ra theo thỏa thuận với

Trang 4

người mua nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một người mua, chúng không được giaodịch trên các sở giao dịch tập trung Hợp đồng thường được giao dịch giữa các đối tácliên ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng là các cá nhân, doanhnghiệp(DN) Do các hợp đồng quyền chọn không được chuẩn hóa, chi tiết của hợpđồng là thỏa thuận giữa các bên, nên tính linh hoạt đối với các hợp đồng này là rấtcao, đáp ứng được các nhu cầu cá biệt của các khách hàng Dù vậy, các giao dịchquyền chọn phi tập trung kiểu này chỉ chiếm khoảng 2% giá trị giao dịch quyền chọntrên thế giới.

1.1.3 Các chủ thể tham gia thị trường quyền chọn

Các chủ thể tham gia thị trường giao dịch quyền chọn rất đa dạng, bao gồm các

DN, các cá nhân, các tổ chức hoạt động tài chính như ngân hàng thương mại(NHTM), ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán (CTCK)…Dựa vào các mục đíchtham gia thị trường của mỗi đối tượng, ta có thể phân ra thành các nhóm sau:

Những người phòng ngừa rủi ro: Là những tổ chức tài chính và phi tài chínhhay những cá nhân, tham gia thị trường quyền chọn do có nhu cầu giao dịch các loạitài sản cơ sở như ngoại tệ, chứng khoán, vàng, lãi suất…và có những lo ngại về sựbiến động của giá cả hàng hóa, tỉ giá, lãi suất…làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt độngkinh doanh, lợi ích của họ Thông thường, họ tham gia thị trường với tư cách là nhữngngười mua các quyền chọn để bảo hiểm các rủi ro về sự biền động của giá cả, tỉ giá,lãi suất…Họ sẵn sàng bỏ ra một khoản phí cho hợp đồng quyền chọn để đổi lấy mộtmức tỉ giá, giá cả, lãi suất cố định

Các NĐT, đầu cơ: Là các cá nhân, các tổ chức tài chính và phi tài chính, thamgia vào thị trường với mục đích đầu cơ vào sự chênh lệch tỉ giá, giá cả, lãi suất … họthường dựa vào các công cụ phân tích kỹ thuật để đưa ra các dự đoán về xu hướng tỉgiá, giá cả, lãi suất …Từ đó, thực hiện mua bán các quyền chọn thích hợp để thu lợinhuận

Các tổ chức tài chính trung gian: Bao gồm các NHTM, ngân hàng đầu tư,CTCK…Ngoài mục đích tham gia vào thị trường cũng với tư cách là các NĐT hoặcnhững người có nhu cầu về bảo hiểm rủi ro Ở các nước phát triển, nơi mà các giaodịch quyền chọn hầu như chỉ diễn ra trên các sàn giao dịch tập trung, với tư cách làcác thành viên của sở giao dịch quyền chọn, họ đóng vai trò như một nhà môi giới các

Trang 5

giao dịch quyền chọn trên thị trường, chỉ một số ít các tổ chức tài chính lớn như cáctập đoàn tài chính khổng lồ mới có khả năng tự đứng ra phát hành quyền chọn cho thịtrường.

1.1.4 Cơ chế hoạt động của quyền chọn

Đối với quyền chọn cổ phiếu được giao dịch trên Sở giao dịch, các chi tiết củahợp đồng – thời gian đáo hạn, giá thực hiện, ảnh hưởng của việc thanh toán cổ tức,quy mô nắm giữ của NĐT – sẽ do Sở giao dịch quy đinh

Về thời gian đáo hạn: mỗi Sở giao dịch tại mỗi quốc gia có thể có quy định

riêng Tại Hoa Kỳ, một khoản mục được xác định trong quyền chọn cổ phiếu là tháng

mà có ngày đáo hạn Ngày đáo hạn chính xác là vào thứ 7 kế tiếp sau ngày thứ sáutuần thứ ba của tháng Ngày cuối cùng giao dịch quyền chọn là ngày thứ 6 tuần thứ 3của tháng NĐT có vị thế mua quyền chọn chỉ dẫn nhà môi giới thực thi quyền chọnvới thời hạn cuối cùng là 4h 30 ngày thứ sáu Nhà môi giới sẽ có cả ngày hôm sau đểhoàn tất thủ tục thực thi quyền chọn

Quyền chọn có thể được xem xét một trong ba trạng thái: đang có lời (in the

money), hoà vốn (at the money), và đang lỗ (out of the money) Nếu K là giá thựchiện , S là giá của chứng khoán cơ sở Một quyền chọn mua trong trạng thái đang cólời khi S>K, trong trạng thái hoà vốn khi S=K, trong trạng thái đang lỗ khi S<K Nhưvậy, rõ ràng rằng một quyền chọn được thực hiện chỉ khi trong trạng thái đang có lãi

Giá trị nội tại của quyền chọn (intrinsic value): được xác định là giá trị lớn nào

lớn hơn khi so sánh với 0 và giá trị của quyền chọn nếu nó được thực hiện ngay.Chẳng hạn, với quyền chọn mua giá trị nội tại sẽ là max(S-K, 0) Đối với quyền chọnbán, giá trị nội tại sẽ là max(K-S, 0)

Đối với quyền chọn giao dịch trên thị trường OTC, nếu một công ty công bốchi trả cổ tức, giá thực hiện quyền chọn sẽ bị giảm trong ngày giao dịch không có cổtức đúng bằng giá trị cổ tức chi trả Nếu quyền chọn giao dịch trên thị trường giaodịch tập trung, việc thanh toán cổ tức thường chỉ bị điều chỉnh giá thực thi giá trị chitrả cổ tức lớn

Đối với việc chia tách cổ phiếu: sẽ có một số điều chỉnh trong giao dịch quyền

chọn Khi cổ phiếu được chia tách n từ m sẽ làm giá cổ phiếu giảm xuống m/n giá trị

Trang 6

trước đó Sau khi chia tách n từ m, giá thực hiện sẽ giảm xuống m/n giá trị trước đó

và số lượng cổ phiếu giao dịch trong một hợp đồng sẽ tăng n/m số lượng trước đó

Nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của một hoặc một nhóm NĐT tới thị trường, các

sở giao dịch quyền chọn thường có quy định giới hạn số lượng tối đa một NĐT có thểnắm giữ và có thể thực thi quyền trong một đơn vị thời gian Sở giao dịch quyền chọnChicago quy định mức giới hạn đối với một NĐT cho quyền chọn của cổ phiếu lớnnhất có mức giao dịch nhiều nhất là 75.000 hợp đồng

Một NĐT mua một quyền chọn có thể kết thúc vị thế của mình bằng một lệnhbán một quyền chọn có nội dung tương tự Một NĐT bán quyền chọn có thể kết thúc

vị thế của mình bằng việc mua một quyền chọn tương tự

Trong giao dịch quyền chọn, NĐT mua quyền chọn có thể trả bằng tiền mặthoặc sử dụng tài khoản ký quỹ Mức ký quỹ ban đầu thường là 50% giá trị của chứngkhoán và phải duy trì mức ký quỹ tối thiểu là 25% giá trị của chứng khoán Thôngthường, quyền mua có thời gian đáo hạn dưới 9 tháng sẽ phải trả bằng tiền mặt màkhông được sử dụng tài khoản ký quỹ

Đối với NĐT bán quyền chọn, yêu cầu phải duy trì một tài khoản ký quỹ đểđảm bảo thực hiện hợp đồng Mức ký quỹ cụ thể có quy định trong từng trường hợp

Trường hợp quyền chọn không có đảm bảo (naked options): mức ký quỹ thông

thường của quyền chọn mua (theo quy định của Sở giao dịch quyền chọn Chicago) sẽ

là một trong 2 giá trị sau tuỳ theo giá trị nào cao hơn

+ Một trăm phần trăm giá trị phí mua quyền chọn đã nhận được cộng với 20%giá trị thị trường của chứng khoán cơ sở trừ đi phần thua lỗ hiện có trong hợp đồng(nếu có)

+ Một trăm phần trăm giá phí quyền chọn cộng với 10% giá trị thị trường củachứng khoán cơ sở

Mức ký quỹ thông thường của quyền chọn bán sẽ là giá trị nào lớn hơn tronghai giá trị tính toán sau:

+ Một trăm phần trăm giá phí quyền chọn cộng với 20% giá trị thị trường củachứng khoán cơ sở trừ đi phần thua lỗ (nếu có)

+ Một trăm phần trăm giá phí quyền chọn cộng với 10% giá trị thực hiện quyềnchọn

Trang 7

Trường hợp quyền chọn có đảm bảo (covered options): đối với quyền chọn

mua đó là toàn bộ chứng khoán cơ sở của quyền chọn, biên bản thỏa thuận để bên thứ

ba nắm giữu chứng khoán cơ sở, hoặc chứng khoán có thể hoán đổi ra chứng khoán cơ

sở, hoặc một hợp đồng quyền chọn mua cùng loại chứng khoán cơ sở có thời gian đáohạn dài hơn, giá thực hiện thấp hơn, hoặc quyền mua cổ phiếu cơ sở có giá thực hiệnngang bằng hoặc thấp hơn giá thực hiện quyền chọn

Đối với quyền chọn bán, người bán quyền chọn phải đảm bảo: số tiền mặttương đương với giá trị thực thi hợp đồng hoặc thư đảm bảo của ngân hàng, hoặc sốbán khống chứng khoán cơ sở, hoặc đã mua quyền chọn bán khác cùng loại chứngkhoán có giá thực hiện cao hơn có cùng thời gian đáo hạn (hoặc thời gian đáo hạn dàihơn)

Quyền chọn có thể sử dụng riêng biệt, độc lập hoặc có thể kết hợp theo nhiềucách khác nhau để tạo ra các sách lược làm biến đổi tỷ lệ rủi ro/lợi nhuận Mộtphương thức rất thông dụng là mua bán song hành cùng lúc các hợp đồng quyền chọncủa cùng một loại chứng khoán cơ sở Có nhiều kiểu mua bán song hành nhưng có 2loại thông dụng là mua bán song hành chiều dọc và mua bán song hành theo lịch Muabán song hành theo chiều dọc là hình thức mua và bán đồng thời các quyền chọn cócùng chứng khoán cơ sở, cùng thời gian đáo hạn nhưng khác giá thực hiện Mua bánsong hành theo lịch là hình thức mua và bán đồng thời các quyền chọn có cùng giáthực hiện nhưng khác thời gian đáo hạn

1.1.5 Ưu nhược điểm của quyền chọn

1.1.5.1 Ưu điểm:

- Thứ nhất, có nhiều thời gian hơn để quyết định: Thông qua quyền chọn, mức

giá mua hoặc bán đã được xác định Tuy nhiên, từ thời điểm hiện tại đến thời điểmthực hiện NĐT vẫn còn khoảng thời gian đáng kể để cân nhắc kỹ lưỡng việc có muahoặc có bán chứng khoán đó hay không Việc đầu tư một khoản tiền khiêm tốn banđầu để có thời gian cân nhắc kỹ lưỡng cho một khoản mục đầu tư lớn trong nhiềutrường hợp cũng đánh giá là đáng giá

- Thứ hai, Cho phép NĐT thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất DoNĐT chỉ bỏ ra chi phí nhỏ là giá quyền chọn và một số chi phí liên quan trong quátrình giao dịch và thanh toán như chi phí môi giới, phí thanh toán tuy nhiên nếu giá

Trang 8

tài sản cơ sở (cổ phiếu, trái phiếu ) biến động đúng như kỳ vọng của NĐT, lúc nàykhoản lợi nhuận là rất lớn.

- Thứ ba, Linh hoạt phòng ngừa rủi ro: đây là một trong những đặc điểm nổibật của quyền chọn so với công cụ khác như cổ phiếu, chứng chỉ quỹ Dùng quyềnchọn, NĐT có thể hạn chế mức tổn thất tối đa trong phạm vi giá phí quyền chọn Đốivới quyền chọn bán còn có thể dùng để tự bảo hiểm cho trường hợp giảm giá chứngkhoán mà NĐT đang nắm giữ Quyền chọn cho phép NĐT xây dựng một danh mụcchứng khoán đa dạng với chi phí ban đầu thấp hơn việc mua thẳng chứng khoán đó

- Thứ tư, quyền chọn là công cụ để tìm kiếm lợi nhuận: Thông qua quyền chọnNĐT có thể có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận gia tăng từ chi phí đầu tư khiêm tốn ban đầu.Thông qua việc bán quyền chọn, một số nhầ đầu tư cũng sẽ được hưởng giá phí quyềnchọn từ một số NĐT khác

- Thứ năm, tận dụng đòn bẩy tài chính: Thông qua công cụ quyền chọn NĐT

có thể tận dụng đòn bẩy tài chính để kiếm lợi nhuận Giao dịch quyền chọn giúp NĐThưởng lợi từ sự biến động của giá chứng khoán mà không cần thanh toán toàn bộ giátrị chứng khoán đó Thông qua việc tận dụng phối hợp các quyền chọn khác nhau,NĐT có thể thực hiện các chiến lược đầu tư phù hợp với mục tiêu và hoàn cảnh cụ thểcủa mình

1.1.5.2 Nhược điểm:

Bên cạnh các ưu điểm, quyền chọn cũng có những nhược điểm:

Giao dich quyền chọn phụ thuộc vào giá trị tài sản cơ sở, mức giá thực thiquyền, thời gian, độ biến thiên của tài sản cơ sở Mặt trái cơ bản nhất của quyềnchọn là khi TTCK diễn biến không như kỳ vọng của NĐT, NĐT sẽ mất toàn bộ sốtiền bỏ ra để có được quyền chọn

Quyền chọn là công cụ phái sinh khá phức tạp Do đó, khi sử dụng giao dịchquyền chọn, NĐT cần phải hiểu rõ và biết cách vận dụng các công cụ quyền chọn mộtcách linh hoạt Do đó, rủi ro lớn nhất của quyền chọn là khi chính NĐT không hiểu rõ

về quyền chọn và không biết cách kết hợp các vị thế để giới hạn tổn thất nếu có và giatăng lợi nhuận

Mặt trái của giao dịch quyền chọn là hiện tượng đầu cơ Các nhà đầu cơ có thểđầu cơ giá lên hoặc giá xuống bằng các quyền chọn mua và quyền chọn bán Việc đầu

Trang 9

cơ giá trên các hợp đồng quyền chọn có thể làm giá cả chứng khoán biến động vượt rakhỏi biên độ dự kiến và do đó làm mất niềm tin của các DN và các NĐT.

1.1.6 Sự phát triển của thị trường quyền chọn

Những giao dịch quyền chọn bán và quyền chọn mua đầu tiên được ghi nhận là

ở các quốc gia châu Âu và Mỹ đầu thế kỷ XVIII Vào đầu những năm 1900, hiệp hộinhững nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn ra đời Mục đích của hiệp hội này làcung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau NĐT muốnmua quyền chọn sẽ liên hệ với một công ty thành viên, công ty này sẽ tìm nguời bánquyền chọn từ khách hàng của công ty hoặc của các công ty thành viên khác Nếukhông có người bán, công ty đó sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp Thịtrường hoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập trung OTC (Over-The-Counter), các nhà kinh doanh không gặp nhau trên sàn giao dịch

Tuy nhiên, thị trường quyền chọn phi tập trung này bộc lộ rõ nhiều khiếmkhuyết Thứ nhất, do không có thị trường thứ cấp, thị trường này không cung cấp chongười nắm giữ quyền chọn có hội bán quyền chọn cho một người khác trước khiquyền chọn đáo hạn Các quyền chọn được thiết kế để nắm giữ cho đến khi đáo hạn,

và rồi chúng sẽ được thực hiện hoặc để cho hết hiệu lực Vì vậy, hợp đồng quyền chọn

có rất ít, thậm chí không có tính thanh khoản Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng củangười bán chỉ được đảm bảo bởi công ty môi giới kiêm kinh doanh Nếu người bánhoặc công ty thành viên của Hiệp hội các nhà kinh doanh quyền chọn mua và quyềnchọn bán bị phá sản, người nắm giữ quyền chọn coi như tổn thất hoàn toàn Thứ ba,phí giao dịch tương đối cao, một phần cũng do hai nguyên nhân kể trên

Năm 1973 đã có một sự thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyềnchọn Tháng 4 năm 1973, Ủy ban thương mại Chicago (Chicago Board of Trade –CBO) thành lập Sàn giao dịch quyền chọn chứng khoán Chicago (Chicago BoardOptions Exchange – CBOE), đặc biệt dành cho trao đổi quyền chọn về cổ phiếu.CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn Bằng cáchtiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tínhthanh khoản cho thị trường Nói cách khác, một NĐT đã mua hoặc bán quyền chọntrước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc muaquyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu Tuy nhiên, quan trọng nhất CBOE

Trang 10

đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thựchiện nghĩa vụ theo Hợp đồng Vì vậy, không giống như trên thị trường phi tập trung,người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán Ðiềunày khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn đối với công chúng Từ đó thị trường quyềnchọn trở nên phổ biến với NĐT TTCK Philadelphia (Philadelphia Exchange –PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975, TTCK Pacific (PacificStock Exchange – PSE) thực hiện vào năm 1976 và TTCK New York (New YorkStock Exchange – NYSE) thực hiện vào năm 1985.

Năm 1982, quyền chọn bắt đầu giao dịch trên các hợp đồng giao sau với tráiphiếu chính phủ, và loại giao dịch này phát triển rất nhanh Giao dịch trên thị trườngđấu giá mở, việc mua bán quyền chọn cung cấp rất nhiều công cụ để đầu cơ và phòng

hộ giá cho cộng đồng thương mại Sự thành công của hợp đồng quyền chọn đã mở lốicho việc ra đời quyền chọn trên vô số các hàng hoá tiêu dùng, như ngô, đậu nành vàcác sản phẩm khác

Khi xã hội ngày càng phát triển, giao dịch quyền chọn ngày càng trở nên phổbiến hơn, lan rộng sang Anh, Brazil, Ðức, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông vàAustralia Việc toàn cầu hoá thị trường thế giới đã tạo ra nhu cầu liên kết điện tử vàthương mại 24/24 trong ngày Thị trường Mỹ đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ranhững sản phẩm giao dịch quốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một sàn giaodịch diện tử

Những hệ thống đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển) vàProject A (được CBOT) phát triển Ở Ðức, Deutsche Terminborse Exchange đã bỏkiểu giao dịch đấu giá mở, thay vào đó vận hành sàn giao dịch điện tử Trên hệ thốngGLOBEX, các NĐT cá thể có thể giao dịch dựa trên chỉ số SP500, SP500 mini vàNASDAQ 100 và các hợp đồng con Các NĐT cá thể cũng có thể mua bán ngoại hốitrên GLOBEX

Trên hệ thống Project A (hiện tại là hệ thống Eurex (Tháng 8/2000, CBOT xâydựng Eurex, tất cả các giao dịch trên Project A đều được thực hiện tại Eurex)), cácNĐT cá thể có thể mua bán trái phiếu T-bonds và tín phiếu, quyền chọn, và tất cả cácsản phẩm ngũ cốc trên CBOT Giao dịch điện tử được thiết kế để hỗ trợ việc đấu giá

mở ngoài giờ giao dịch chính thức

Trang 11

Điểm hòa vốn

Vùng lãiπ

Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại vănphòng TTCK (Chicago board option Exchange–CBOE, Philadelphia Exchange–PHLX, The American Stock Exchange–AMEX, The Pacific Stock Exchange–PSE,The New York Stock Exchange–NYSE ) Việc mua bán dưới hình thức hợp đồngchọn tại các văn phòng TTCK có nhiều khía cạnh giống như mua bán hợp đồng tươnglai Văn phòng TTCK phải xác định rõ các điều kiện, mức độ, thời gian đáo hạn và ấnđịnh giá của hợp đồng quyền chọn được mua bán trên thị trường của họ.Và để giảmrủi ro của việc thực hiện hợp đồng, lúc mua sản phẩm (cổ phiếu chẳng hạn), người đầu

tư mở tài khoản dự trữ bắt buộc với người môi giới của họ, mức độ dự trữ tuỳ thuộcvào loại hàng hoá được giao dịch và tuỳ vào từng tình huống cụ thể Ðồng thời, cũng

có những quy định để kiểm soát thị trường hợp đồng quyền chọn, như những qui địnhkiểm soát ứng xử của thương nhân, của những người tạo lập thị trường

1.1.7 Công cụ phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn

Một trong những đặc tính hấp dẫn của quyền chọn là nó có thể tạo ra nhiềucông cụ đa dạng để tìm kiếm lợi nhuận cũng như phòng ngừa rủi ro Các khả năng cóthể đạt được lợi nhuận đa dạng đến nỗi gần như bất kỳ một NĐT nào cũng có thể tìmđược một công cụ đáp ứng rủi ro ưa thích của mình và phù hợp với dự báo của thịtrường Quyền chọn làm cho việc chuyển từ dự báo sang một kế hoạch hành độngđem lại lợi nhuận nếu dự đoán đúng, dĩ nhiên nếu dự báo sai thì sẽ bị thua lỗ Tuynhiên với việc sử dụng quyền chọn một cách đúng đắn mức thua lỗ này sẽ khá nhỏ và

có thể hạn chế được

1.7.1.1 Giao dịch quyền chọn mua

Có hai loại giao dịch quyền chọn mua:

a Mua quyền chọn mua

Mua quyền chọn mua là một công cụ kinh doanh tăng giá có mức lỗ có giớihạn (phí quyền chọn) và có mức lợi nhuận tiềm năng không giới hạn Điều này cónghĩa, mua một quyền chọn mua cho chúng ta cơ hội kiếm lợi do tăng giá không giớihạn và hạn chế lỗ do giảm giá Do đó, mua một quyền chọn mua là một công cụ đặcbiệt hấp dẫn đối với những người có nguồn vốn có hạn

Trang 12

Vùng lãi0

Hình 1.1: Mua quyền chọn mua

Với π: lợi nhuận; St: giá trị tài sản lúc đáo hạn; X: giá thực hiện; C: giáquyền chọn mua

Như vậy, qua hình trên cho thấy giá cổ phiếu hòa vốn khi đáo hạn bằng giáthực hiện cộng với giá quyền chọn mua Do đó, để hòa vốn, người mua quyền chọnmua phải thực hiện quyền chọn ở một mức giá đủ cao để bù đắp chi phí quyền chọn

Trang 14

Hình 1.4: Bán quyền chọn bán

Trang 15

1.2 Điều kiện áp dụng quyền chọn trên TTCK.

1.2.1 Điều kiện về sự phát triển của TTCK

Một trong những điều kiện quan trọng để có thể áp dụng quyền chọn trênTTCK là TTCK phải phát triển đến một mức độ nhất định thể hiện ở:

+ Số lượng công ty niêm yết nhiều và có nhiều công ty cổ phần đại chúng lớn.+ Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại

+ Chất lượng dịch vụ của các công ty chứng khoán cao, cung cấp nhiều dịch vụtiện ích cho khách hàng

+ Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán nhiều

+ Tính thanh khoản trên TTCK cao

+ Mức vốn hóa thị trường lớn

Qua thời gian phát triển của TTCK các NĐT cũng sẽ trải qua nhiều rủi ro trướcnhững biến động khó lường của TTCK Khi đó các NĐT sẽ phát sinh nhu cầu bảohiểm rủi ro và nhu cầu sử dụng quyền chọn chứng khoán để giảm thiểu rủi ro trongkinh doanh là tất yếu Hơn nữa khi TTCK đã phát triển thì nhu cầu về chứng khoánphái sinh nói chung và quyền chọn chứng khoán nói riêng là cần thiết để NĐT đadạng hóa các kênh đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận

Muốn có một TTCK sôi động thì điều quan trọng là phải làm sao đưa thậtnhiều hàng hóa đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng vào thị trường nhằm thuhút, kích thích các NĐT sử dụng năng lực của mình để kinh doanh kiếm lời dựa trêncác sản phẩm mà thị trường cung cấp

Quyền chọn là công cụ chứng khoan phái sinh, sự tồn tại của quyền chọn phụthuộc tương đối vào các chứng khoán trên thị trường Để ứng dụng giao dịch quyềnchọn, trước tiên phải có các chứng khoán trên thị trường, những loại chứng khoán đó

là cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số,… càng nhiều loại chứng khoán trên thị trường, quyềnchọn càng có cơ hội phát triển

1.2.2 Điều kiện về pháp lý

Quyền chọn chứng khoán là một sản phẩm chứng khoán phái sinh khá phứctạp Vì vậy, để có thể áp dụng quyền chọn vào TTCK cần có một cơ sở pháp lý chặtchẽ và hợp lý để có thể kiểm soát được tình hình trước khi đưa quyền chọn chứngkhoán ra thị trường

Trang 16

Trên TTCK nhiều rủi ro, quyền chọn có phương thức giao dịch khá đặc biệt đó

là có sự tham gia của nhiều bên như: người mua, người bán, CTCK, công ty niêm yết,công ty thanh toán, công ty lưu ký,… Do đó, luật pháp phải điều chỉnh mọi hành vicủa các đối tượng này để đảm bảo nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các bên tham gia

Cụ thể để triển khai quyền chọn chứng khoán cần có luật chứng khoán hoàn chỉnh,bên cạnh đó cần có luật chứng khoán phái sinh và thị trường phái sinh trong đó quyđịnh rõ các khái niệm, qui định về quyền chọn và các giao dịch quyền chọn; quy định

rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của các chủthể tham gia thị trường

Do tính chất phức tạp của giao dịch quyền chọn, khiến hoạt động của công cụquyền chọn chứng khoán càng nhạy cảm với những hành vi gian lận, tiêu cực Trên thịtrường này có nhiều đối tượng tham gia như: NĐT, nhà đầu cơ, nhà môi giới…Mỗingười tham gia trên thị trường đều vì những mục đích, lợi ích và sự hiểu biết khácnhau, thậm chí trái ngược nhau Vì vậy, nguy cơ rủi ro cũng như khả năng thu lợi trênhợp đồng quyền chọn là rất lớn Đặc tính đó khiến cho thị trường phái sinh dễ xảy racác hoạt động kiếm lời không chính đáng thông qua các hoạt động gian lận, mua bántay trong, gây thiệt hại các NĐT, thậm chí cho các nhà môi giới – làm trung gian trongcác hợp đồng quyền chọn Bên cạnh đó, để thị trường quyền chọn chứng khoán pháthuy vai trò là một trong những công cụ phòng ngừa rủi ro, tránh các hành vi tiêu cực

từ mặt trái của sản phẩm phái sinh như lừa đảo, trốn thuế, làm sai lệch thông tin, thaotúng TTCK thì cần có các các quy định ràng buộc, các yêu cầu về: Nội dung của Hợpđồng quyền chọn; Điều kiện đối với các chứng khoán cơ sở; Quy định về giới hạn giá

và số lượng hợp đồng quyền chọn giao dịch để tránh tình trạng thao túng thị trường;Điều kiện về công bố thông tin, đảm bảo tính chuẩn xác và minh bạch trên thịtrường… Cũng cần phải có những chuẩn mực kế toán phù hợp để điều chỉnh thực hiệnnhững nghiệp vụ kế toán có liên quan và thể hiện đúng trên báo cáo tài chính

Ngoài ra cũng cần có những quy tắc, và điều lệ chuẩn mực của các Sàn Giaodịch Những quy tắc và điều lệ này ban hành những quy định có liên quan đến nhiệm

vụ, cơ cấu tổ chức, việc bổ nhiệm các thành viên của sàn giao dịch Từ đó, các sở giaodịch chứng khoán (SGDCK), trung tâm lưu ký – thanh toán bù trừ có các quy định cụthể cho các hoạt động giao dịch trên sàn, bao gồm các biểu mẫu, các quy định trong

Trang 17

hợp đồng, giá thực hiện, hạn mức thực hiện, phương thức đặt lệnh, ký quỹ, và thanhtoán hợp đồng… Có các quy định các điều kiện cụ thể cho các loại cổ phiếu đượcphép giao dịch trên thị trường quyền chọn (như cổ phiếu của các công ty có tỷ suấtsinh lợi cao, khối lượng giao dịch đáng kể và đạt được tính thanh khoản theo yêu cầu

để duy trì việc niêm yết quyền chọn) để đảm bảo quyền lợi cho NĐT Cũng cần có cácđiều kiện, quy định những CTCK nào được phép tham gia vào thị trường quyền chọnnày dựa theo năng lực và uy tín của công ty đó

Như vậy, để quyền chọn được ứng dụng có hiệu quả cần phải xây dựng đượckhung pháp lý mang tính thực tiễn và thống nhất, hệ thống văn bản pháp luật phải điềuchỉnh hoạt động TTCK theo hướng bao quát, toàn diện và phù hợp với thực tiễn thịtrường

1.2.3 Điều kiện về thông tin trên thị trường

Đối với TTCK thì thông tin là một yếu tố rất nhạy cảm có tác động trực tiếpđến giá chứng khoán Muốn TTCK hoạt động hiệu quả thì việc cung cấp minh bạch,đầy đủ và kịp thời các thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng Các thông tin nàybao gồm: thông tin vĩ mô, thông tin DN và thông tin thị trường

Các thông tin không minh bạch có hậu quả khôn lường Hậu quả xấu khôngnhững chỉ có thể ảnh hưởng đến các NĐT (cả cá nhân và tổ chức) mà còn có thể ảnhhưởng đến DN niêm yết nói riêng và TTCK nói chung Sự thiếu minh bạch và bìnhđẳng trong tiếp cận thông tin sẽ hỗ trợ cho các kiểu làm ăn chụp giật và như thế có thểnhanh chóng hủy hoại lòng tin của NĐT và gây ảnh hưởng tiêu cực rất lớn tới sự pháttriển bền vững của thị trường

Để đáp ứng được vấn đề minh bạch hóa thông tin thì cần phải có các quy định

cụ thể về việc công bố thông tin như: đối tượng được công bố thông tin, yêu cầu vềtính chính xác của nội dung thông tin được công bố, phương tiện và hình thức công bốthông tin, quy định cụ thể về việc công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính củacác công ty đại chúng (CTĐC) và tổ chức niêm yết, quy định cụ thể về xử lý vi phạmtrong vấn đề công bố thông tin

Ngoài ra các thông tin cũng phải được cung cấp một các rộng rãi đưa trên cácphương tiện công bố thông tin đại chúng hoặc phương tiện công bố thông tin củatrung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) hoặc SGDCK để các NĐT có thể tiếp

Trang 18

cận một cách đầy đủ và dễ dàng.

Các giao dịch quyền chọn đều dựa trên sự biến động giá chứng khoán cơ sở,

mà sự biến động giá chứng khoán cơ sở lại dựa vào phản ứng của NĐT trên thị trườngthông qua những thông tin nhận được Do đó, thông tin minh bạch, đầy đủ và kịp thời

là một điều kiện để NĐT có cơ sở rõ ràng và chính xác để thực hiện các quyết địnhđầu tư của mình và là điều kiện cần thiết để thị trường quyền chọn chứng khoán pháttriển

1.2.4 Điều kiện về kỹ thuật

Hoạt động của TTCK phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào hệ thống máy tính Đặcđiểm hoạt động của ngành chứng khoán là khối lượng giao dịch rất lớn với yêu cầuthời gian đặc biệt cấp bách nên bắt buộc phải có sự hỗ trợ của máy tính, vì vậy yêucầu về mặt kỹ thuật là rất cao

Điều kiện về mặt kỹ thuật cho hoạt động của TTCK nói chung và thị trườngquyền chọn nói riêng bao gồm một số yêu cầu cơ bản về kỹ thuật như: hệ thống cơ sở

hạ tầng công nghệ thông tin; kỹ thuật đặt, chuyển lệnh mua và lệnh bán; kỹ thuật hạchtoán và chuyển quyền sở hữu; kỹ thuật lưu ký chứng khoán; kỹ thuật lưu trữ lệnh,…

Việc hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống công nghệ thông tin cho thị trườngđóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của thị trường quyền chọn

1.2.5 Điều kiện về con người

Nhân tố con người đóng vai trò quyết định trong mọi hoat động và tất nhiên nóquyết định sự thành công hay thất bại của việc ứng dụng quyền chọn chứng khoán ởTTCK Tất cả các điều kiện nói trên có thực hiện được hay không là đều do conngười Con người để điều hành, quản lý, thực hiện nghiệp vụ, đầu tư,… Do đó, để đápứng được giao dịch quyền chọn thì trước tiên phải có con người am hiểu về TTCKcũng như các lĩnh vực liên quan đến kinh tế Những con người am hiểu về TTCKkhông chỉ là những nhà quản lý TTCK hay đội ngũ thực hiện các giao dịch quyềnchọn ở các CTCK mà cả đại đa số công chúng đầu tư Chính công chúng đầu tư mới lànhân tố tác động vào nguồn cầu làm cho thị trường này phát triển

1.3 Một số kinh nghiệm của thế giới về tổ chức sàn giao dịch quyền chọn

Sự hình thành và phát triển giao dịch quyền chọn trên TTCK là một tất yếukhách quan để phát triển TTCK Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế xã hội, luật pháp của

Ngày đăng: 07/11/2013, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị sẽ là: - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
th ị sẽ là: (Trang 12)
Hình 1.2: Bán quyền chọn mua - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Hình 1.2 Bán quyền chọn mua (Trang 13)
Hình 1.5: mô hình của sàn giao dịch CBOE - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Hình 1.5 mô hình của sàn giao dịch CBOE (Trang 24)
Hình 1.6: Quy trình giao dịch của LIFFE - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Hình 1.6 Quy trình giao dịch của LIFFE (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w