1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quản lý vĩ mô và ngành kinh tế

37 314 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý vĩ mô và ngành kinh tế
Tác giả PGS.TS. Bùi Xuân Nhàn, PGS.TS Nguyễn Thị Bích Loan
Người hướng dẫn NGUT,TS. Phạm Châu Thành
Trường học Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 515,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý vĩ mô và ngành kinh tế

Trang 1

LỜI PHÁT BIỂU CỦA ĐƠN VỊ CHỦ NHÀ – TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGƯT,TS Phạm Châu Thành

Hiệu trưởng

Kính thưa Quý vị đại biểu!

Thay mặt ban tổ chức hội thảo, đồng thời với tư cách là đơn vị chủ nhà, chúng tôi xin nhiệt liệt chào mừng quý vị đại biểu, kính chúc quý vị mạnh khỏe, vui tươi và đóng góp nhiều ý kiến để buổi hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp

Kính thưa Quý vị đại biểu!

Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề: “Hội nhập: hợp tác và cạnh tranh” được tổ chức hôm nay xuất phát từ ý tưởng và quyết tâm của hai trường: Trường Đại học Thương mại và Trường Cao đẳng Kinh tế Đối ngoại, nhằm tạo một diễn đàn quốc tế để các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách, các nhà quản lý giáo dục, quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp đến từ Việt Nam và các nước: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Hàn Quốc, Cộng hòa Áo, Cộng hòa Liên bang Đức đóng góp tiếng nói, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề có liên quan đến hội nhập, hợp tác và cạnh tranh, đồng thời qua đó tạo mối quan hệ hiểu biết nhau hơn, góp phần đẩy mạnh quá trình hội nhập hợp tác trong khu vực và thế giới

Với tinh thần đó, một lần nữa, chúng tôi hoan nghênh sự hiện diện của quý vị đại biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại Hội trường Thống Nhất Tp Hồ Chí Minh hôm nay

Kính chúc Quý vị đại biểu sức khỏe

Chúc buổi hội thảo thành công tốt đẹp

Xin trân trọng kính chào

Trang 2

CHỦ ĐỀ 1: QUẢN LÝ VĨ MÔ VÀ NGÀNH KINH TẾ

Trang 3

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VIỆT NAM

PGS.TS.Bùi Xuân Nhàn - Phó hiệu trưởng, ĐHTM

Tóm tắt

Thời gian qua, ngành du lịch nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập và chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thể hiện qua số lượng khách du lịch quốc tế, nội địa và thu nhập từ du lịch Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi to lớn để phát triển thì chúng ta đang đứng trước những thách thức rất lớn đó là áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung trong đó có ngành du lịch nói riêng sẽ ngày càng gia tăng Với tư cách là một điểm đến có tiềm năng, song so với một số nước có ngành du lịch khá phát triển trong khu vực như: Malaysia, Thái Lan và Singapore đã trở thành những điểm đến thành công và có thương hiệu trên thị trường du lịch thế giới và trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp đối với điểm đến du lịch Việt Nam thì năng lực cạnh tranh của điểm đến Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam cả về mặt lý luận

và thực tiễn Bài viết tập trung làm rõ khái niệm năng lực cạnh tranh điểm đến, các mô hình đánh giá năng lực cạnh trang điểm đến và thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam theo những tiêu chí của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) so với một số nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan và Singapore từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của

du lịch Việt Nam thời gian tới.

HOÀN THIỆN KẾT CẤU HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRONG BỐI

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

PGS.TS Bùi Hữu Đức, Khoa QTDN, ĐHTM

Tóm tắt

Mặc dù là một quốc gia có nhiều lợi thế về sản xuất nông nghiệp và có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu nằm trong tốp đầu thế giới như gạo, cà phê, tiêu, cá basa… nhưng trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, khi nông sản nhập khẩu bắt đầu tràn ngập thị trường trong nước, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản sản xuất trong nước trên chính thị trường nội địa đang được đặt ra như một yêu cầu mang tính tất yếu.

Bài viết này tập trung phân tích thực trạng nhập khẩu nông sản của Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá tình thế cạnh tranh của nông sản sản xuất trong nước trên chính thị trường nội địa, chỉ

ra các nguyên nhân cơ bản của tình trạng khả năng cạnh tranh hạn chế của nông sản sản xuất trong

Trang 4

nước so với nông sản nhập khẩu, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường nội địa trong thời gian tới.

Từ khoá của bài viết: Cạnh tranh thị trường nông sản nội địa, khả năng cạnh tranh của nông

sản Việt Nam, nhập khẩu nông sản, thị trường nông sản…

COOPERATION AND COMPETITION BY SEA PORTS INTERGRATION INTO HINTERLAND

Irina Dovbischuk, Nguyen Khoi Tran, Hans-Dietrich Haasis – Bremen University, Germany

Abstract

The process of a country’s international integration is, to a large degree, interdependent with the regional sustainable development This depends strongly on transport, logistics, production, innovation and the capacity of local actors to take into account different interests, to consolidate regional resources and competences and to integrate the regional sea port based logistics cluster into regional hinterland and global supply chains Actors taking influence in the sustainable regional development in the context of sea ports, whatever the country is, build a very complex network in the sense of cooption, i.e a balance between cooperation and competition After the theoretical-historical review of sea ports regionalization this paper shows the approach for improving cooperation and better maintaining the challenges in the transport and logistics After this, the paper draws conclusions

on the explanatory power of the theoretical approach of cluster management in understanding in what ways the process of the Vietnam’s international integration by sustainable regional development could be shaped in logistics regions

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-ẤN ĐỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY

PGS.TS Doãn Kế Bôn – Khoa TMQT, ĐHTM

Tóm tắt

Ấn độ là một thị trường thương mại lớn, nhưng quan hệ thương mại giữa hai nước trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai nước Phát triển quan hệ thương mại với Ấn độ là một đòi hỏi cấp thiết trong tiến trình hội nhập của nước ta hiện nay.

Trong khuôn khổ bài viết này với cách tiếp cận từ nghiên cứu các đặc điểm thương mại của

Ấn độ, phân tích toàn diện thực trạng quan hệ thương mại Việt nam- Ấn độ thời gian qua, đánh giá những thành công, tồn tại, nguyên nhân đề xuất một số giải pháp phát huy các lợi thế phát triển quan

hệ thương mại giữa Việt nam- Ấn độ để thực hiện mục tiêu, kim ngạch hai chiều đạt 7 tỷ USD vào năm 2015 mà lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận

Bài viết sử dụng các số liệu thứ cấp và ý kiến các chuyên gia, tổng hợp, phân tích, so sánh đánh giá đề xuất để giải quyết các vấn đề nghiên cứu.

Quan hệ thương mại giữa hai nước bao gồm nhiều nội dung, bài viết này chủ yếu giới hạn ở quan hệ thương mại về hàng hóa

Abstract

India is a major trading partner of Vietnam, but the trade relations between Vietnam and India are below the level of actual potential of the two countries Therefore, it is necessary to develop trade relations with India in the process of international integration of Vietnam

In this paper, after viewing some commercial characteristics of India market, analysing the situation of Vietnam-India trading relations in the past few years, I would like to make some recommendations to promote trading relations between Vietnam and India, to gain the trade value of

7 million USD in the year 2015 as the two nations agreed.

Trang 5

My methodology in this paper includes secondary data analysis, in-depth interview, synthesis method and comparative method.

Vietnam and India have developed bilateral relations in many fields but in my paper I mention relation of trade in goods only.

CẤU TRÚC LẠI CÁC NGÀNH SẢN XUẤT CỦA VIỆT NAM THEO HƯỚNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CHO HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH VÀ SUY THOÁI KINH TẾ TOÀN CẦU

PGS.TS Hà Văn Sự - Khoa KT, ĐHTM

Tóm lược

Để nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài

chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thì Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức và còn nhiều việc phải làm Trên cơ sở nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu với tư cách là một hình thái cấu trúc mới của nền kinh tế thế giới hiện đại, bài viết đã phân tích thực trạng xuất khẩu hàng hóa và đưa ra một

số giải pháp góp phần cấu trúc lại các ngành sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng cho

hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay

Từ khóa: Hàng hóa xuất khẩu; Chuỗi giá trị toàn cầu; Giá trị gia tăng; Cấu trúc ngành sản

xuất

Abstract

In order to increase the added value of export goods, especially after the global financial and

economic crisis, Vietnam has still faced with many problems On the basis of global value chain as a new structure mode of a modern world economy, the export situation of goods was analyzed in this document and some solutions were presented to make contribution to the restructure of export sectors towards the increased added value of export commodities in Vietnam in the context of current globalization and integration

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH DU LỊCH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS Nguyễn Văn Lưu, ThS Đoàn Mạnh Cương - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Tóm tắt

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế thế giới Hiện nay, du lịch chiếm vị trí hàng đầu trong thương mại toàn cầu, được coi là ngành xuất khẩu và tạo việc làm lớn nhất thế giới Theo Tổ chức Du lịch thế giới, trong thế kỷ XXI,

du lịch trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu Với vai trò ngày càng tăng của ngành Du lịch trong nền kinh tế thế giới, ngày càng nhiều quốc gia coi trọng phát triển du lịch, coi du lịch là động lực chính để phát triển kinh tế-xã hội Cùng với sự thịnh vượng về kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu du lịch ngày càng tăng, khả năng thanh toàn và thời gian nhàn rỗi cũng tăng nên nhu cầu du lịch nhanh chóng chuyển hoá thành cầu du lịch Khách

du lịch ngày càng có nhiều kiến thức và kinh nghiệm, linh hoạt và độc lập hơn; có nhu cầu cao hơn

về chất lượng và năng động hơn trong quá trình du lịch Nhiều điểm đến du lịch mới nổi lên Phương tiện vận chuyển ngày càng hiện đại và thuận tiện hơn Vai trò và ảnh hưởng của các hãng lữ hành và truyền thông trên thị trường ngày càng tăng Khách du lịch quan tâm nhiều hơn tới chất lượng vệ sinh, môi trường của các cơ sở dịch vụ và điểm đến du lịch Điều đó làm gia tăng áp lực với các nước trong phát triển du lịch và phải nâng cao năng lực cạnh tranh (gọi tắt là NLCT) Do đó, NLCT trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công mang tính dài hạn của một quốc gia, một điểm đến du lịch.

Các nước thành công trong phát triển du lịch đều là những nước thắng lợi trong cạnh tranh Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, quốc gia nào không chú trọng nâng cao NLCT sẽ không thu hút được nhiều khách du lịch và thất bại trong cạnh tranh Ngược lại, quốc gia nào có chiến lược cạnh tranh toàn diện, biết đặt trọng tâm nâng cao NLCT, vị thế cạnh tranh của nước đó

Trang 6

sẽ được khẳng định, hiệu quả thu hút khách du lịch sẽ ngày càng cao Với ảnh hưởng ngày càng tăng của cạnh tranh, các nước quan tâm phát triển du lịch buộc phải nỗ lực tìm mọi cách tạo sản phẩm khác biệt để thu hút khách du lịch Do vậy, các quốc gia đều nỗ lực xây dựng thương hiệu riêng và sử dụng các phương tiện marketing hiện đại để thu hút khách du lịch Nói cách khác, cạnh tranh giữa các nước du lịch phát triển làm gia tăng nỗ lực sử dụng các biện pháp tạo lợi thế cạnh tranh.

Cùng với xu thế phát triển chung của du lịch toàn cầu và khu vực, những năm gần đây, Du lịch Việt Nam đã tăng trưởng khá nhanh, trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Du lịch phát triển đã góp phần tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập ngoại tệ, cải thiện kết cấu hạ tầng và nhiều lĩnh vực trọng yếu khác Tài nguyên thiên nhiên, nhân văn đa dạng và vị trí địa lý thuận lợi là những nguồn lực và nhân tố quan trọng đối với sự phát triển du lịch ở Việt Nam Tuy nhiên, lượng khách quốc tế đến Việt Nam và thu nhập từ du lịch còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn Trong bảng xếp NLCT du lịch của Diễn đàn kinh tế thế giới từ năm 2007 đến nay, Việt Nam luôn ở thứ hạng thấp hơn so với một số nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Trung Quốc Các nước trên đều thành công trong cạnh tranh thu hút khách quốc tế và trở thành điểm đến quen thuộc được biết đến rộng rãi trên thị trường du lịch thế giới Phải chăng Du lịch Việt Nam đang ở thế yếu về NLCT điểm đến so với các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực? Nguyên nhân nào làm cho Việt Nam trong nhiều năm liền không vượt qua được các đối thủ cạnh tranh trong khu vực trong bảng xếp hạng NLCT du lịch của Diễn đàn kinh tế thế giới? Phải có chính sách như thế nào để Du lịch Việt Nam cải thiện được thứ hạng, nâng cao được vị thế cạnh tranh trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt

từ các đối thủ cạnh tranh trong khu vực? Vì vậy, việc tập trung đi sâu nghiên cứu để phác hoạ bức tranh toàn cảnh thực trạng NLCT của Du lịch Việt Nam hiện nay, thấy được Du lịch Việt Nam đang

ở vị trí nào và nguyên nhân vì sao Du lịch Việt Nam luôn ở thứ hạng thấp trong các bảng xếp hạng NLCT du lịch toàn cầu để từ đó đưa ra quan điểm và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT của Du lịch Việt Nam trong thời điểm hiện nay là rất cấp thiết

Thông qua Hội thảo này, chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần ý kiến nhằm nâng cao NLCT của

Du lịch Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành điểm đến du lịch quốc tế hấp dẫn và có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên – Khoa SĐH, ĐHTM

Tóm tắt

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan về Basel 1, 2 và 3; khảo sát, đánh giá thực trạng hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời gian gần đây bằng nguồn thông tin thứ cấp, so sánh tham chiếu với một số ngân hàng trên thế giới, bài viết đề xuất một vài ý kiến nhằm nâng cao hệ số an toàn vốn của ngân hàng với hi vọng góp thêm những luận cứ khoa học

và thực tiễn cho sự phát triển bền vững của hệ thống NHTM Việt Nam, đưa các NHTM Việt Nam từng bước hội nhập với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SAU GẦN 5 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

TS Phạm Xuân Hậu – Khoa KSDL, ĐHTM,

Trang 7

ngành và đối với các doanh nghiệp du lịch để sớm đưa du lịch nước ta thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước

Ở bài viết lần này, trên cơ sở phân tích thực trạng việc tận dụng những cơ hội, vượt qua các thách thức, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành du lịch trong gần 5 năm qua kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2012 đến 2020 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là các phuơng pháp nghiên cứu định lượng và định tính kết hợp phương pháp phân tích, so sánh trên cơ sở các nguồn số liệu thứ cấp.

Từ khóa: WTO, mở cửa thị trường, cơ hội và thách thức, năng lực cạnh tranh, giải pháp phát triển

du lịch.

CẠNH TRANH KINH TẾ TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG 2008

PGS TS Nguyễn Văn Lịch - Học viện Ngoại giao

Abstract

Tháng 6/2011, Giáo sư N Roubini (New York), chuyên gia kinh tế nổi tiếng vì dự báo chính xác tình hình khủng hoảng tài chính hiện nay, vừa đưa ra lời cảnh báo rằng, có 4 yếu tố tiêu cực đang đồng thời tác động đến kinh tế thế giới Đó là quá trình tái cấu trúc nợ tại châu Âu, tình trạng suy thoái của Nhật Bản, sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc và những khó khăn về tài chính của Mỹ Với sự tác động của 4 yếu tố trên, nên có 30% khả năng sẽ tạo ra một “cơn bão kinh tế toàn diện” trong khoảng 2 năm nữa Kinh tế thế giới đang đứng trước những nguy cơ mới Theo Giáo sư Roubini: “Hiện nay, đã thấy rõ những dấu hiệu của sự suy yếu Tất cả các nước đang tiếp tục đi trên con đường gia tăng nợ của nhà nước và của tư nhân Chậm nhất là vào năm 2013, tất cả những khoản nợ nần này sẽ cho thấy hậu quả của nó Cơn bão kinh tế toàn diện có thể đổ ập xuống kinh tế thế giới vào năm 2013” 1 Trong bối cảnh trên, quan hệ kinh tế giữa các nước sẽ làm nảy sinh nhiều mối quan hệ mới, làm cho nội dung, hình thức cạnh tranh ngày càng đa dạng, phong phú Những phân tích sau đây sẽ làm rõ điều này.

ANALYSIS OF THE PROCESS AND EXPERIENCE OF CHINA’S OVERALL

Key Words: Reform and Opening-up; Chinese Economy; Asian Economy; internationalization;

world Economy

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SAU GẦN 5 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

TS Phạm Xuân Hậu – Khoa KSDL - ĐHTM

Tóm tắt

Ngay khi Việt Nam gia nhập WTO 11-01-2007, chúng tôi có bài viết “Phát triển du lịch Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO” đăng trên tạp chí Khoa học Thương mại số 18/2007 Bài viết

đã phân tích những cơ hội, thách thức đối với du lịch Việt Nam và đề xuất các giải pháp đối với

1 Kinh tế toàn cầu có thể đối mặt với giai đoạn khó khăn mới, Tin kinh tế thế giới, ngày 15/6/2011

2

Trang 8

ngành và đối với các doanh nghiệp du lịch để sớm đưa du lịch nước ta thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước

Ở bài viết lần này, trên cơ sở phân tích thực trạng việc tận dụng những cơ hội, vượt qua các thách thức, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành du lịch trong gần 5 năm qua kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2012 đến 2020 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là các phuơng pháp nghiên cứu định lượng và định tính kết hợp phương pháp phân tích, so sánh trên cơ sở các nguồn số liệu thứ cấp.

Từ khóa: WTO, mở cửa thị trường, cơ hội và thách thức, năng lực cạnh tranh, giải pháp phát triển

Mục đích bài viết nhằm chỉ ra những điểm còn bất cập trong xuất khẩu dịch vụ cũng như chính sách và biện pháp đối với lĩnh vực này Thông qua đó, bài viết đề xuất một số giải pháp trên góc độ vĩ mô (đối với nhà nước) và vi mô (đối với các doanh nghiệp) nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ trong thời gian tới

Bài viết vận dụng các phương pháp phân tích, thống kê, kế thừa để tập hợp và tổng hợp số liệu Đồng thời, trên cơ sở số liệu thứ cấp, phương pháp phân tích SWOT được sử dụng để phân tích

và chỉ rõ thực trạng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong thời gian qua.

Từ khóa trong bài: Phương thức xuất khẩu dịch vụ; Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ, Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu; Chính sách xuất khẩu dịch vụ.

TIÊU CHUẨN DỊCH VỤ KHU VỰC CÔNG: NỘI DUNG, HÌNH THỨC THỂ HIỆN TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

PGS TS Hoàng Văn Hải, Th.S Dương Thị Thu – ĐH Kinh tế, ĐHQGHN

Th.S Trần Thị Hồng Liên – ĐH Luật , ĐHQGHN

Tóm tắt

Cải tiến chất lượng dịch vụ khu vực công là một quá trình lâu dài và liên quan đến nhiều nhóm đối tượng hữu quan khác nhau, như được mô tả trong Chuỗi giá trị dịch vụ khu vực công Để đảm bảo các yếu tố trong chuỗi đạt được kết quả tốt nhất, điều cần thiết là chúng được kiểm soát thông qua hệ thống các tiêu chuẩn phù hợp Hệ thống tiêu chuẩn cần đơn giản, thiết thực và dễ hiểu để tất

cả các nhóm đối tượng hữu quan (người lao động, các nhà lãnh đạo và quản lý, các nhóm khách hàng bên trong và bên ngoài/công dân) đều có thể sử dụng dễ dàng Hơn nữa, đôi khi, người sử dụng dịch vụ có những kỳ vọng hết sức phi thực tế vào dịch vụ công Thay cho việc phát triển các tiêu chuẩn chặt chẽ cho điểm đánh giá tính đúng hạn, các nhà quản lý có thể chuyển những nỗ lực của họ vào hiểu biết, theo dõi và quản lý kỳ vọng của người dân về lượng thời gian cần cho dịch vụ Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của các tiêu chuẩn dịch vụ

Trang 9

TRANH CHẤP LIÊN QUAN BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THÉP TRONG WTO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM

Ths Lê Thị Việt Nga – Khoa TMQT, ĐHTM

Tóm tắt

Để thúc đẩy cạnh tranh công bằng và đảm bảo phát triển thương mại thế giới trên nền tảng phát triển bền vững, WTO đã đưa ra những quy định điều chỉnh việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của các Thành viên Tuy nhiên, thực tế vẫn có những tranh chấp xảy ra giữa các Thành viên của WTO liên quan việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại Vấn đề đặt ra là với tư cách Thành viên của Tổ chức này, Việt Nam cần làm gì để tránh hoặc để giải quyết một cách hiệu quả những tranh chấp liên quan biện pháp phòng vệ thương mại, đặc biệt tranh chấp về biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng thép, một mặt hàng Việt Nam có điều kiện thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu nhưng đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh dữ dội của thép nhập khẩu và các biện pháp phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, tác giả mạnh dạn đặt ra một số vấn đề cần thiết cho Việt Nam để có thể sử dụng hiệu quả những quy định của WTO về phòng vệ thương mại đối với mặt hàng thép sau khi nghiên cứu những quy định của WTO và những tranh chấp giữa các Thành viên của WTO liên quan biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng thép.

THỰC TRẠNG NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM VÀ NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG NHU CẦU LIÊN KẾT KINH DOANH

Viện Phát triển doanh nghiệp - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Viện nghiên cứu và phát triển Logistics

Tóm tắt

Môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày nay không còn là sự cạnh tranh giữa các công ty với nhau mà là giữa các chuỗi cung ứng Việc quản lý chuỗi cung ứng đòi hỏi một sự cộng tác và điều động hiệu quả dòng vật tư, hàng hóa, dịch vụ và thông tin xuyên suốt các hệ thống logistics của tất

cả các tổ chức trong mạng lưới Việt nam có thuận lợi về điều kiện địa lý và những yếu tố để phát triển ngành logistics, tuy nhiên, do cơ sở hạ tầng còn hạn chế, vai trò quan trọng của ngành logistics vẫn chưa được phát huy đúng mức, nhất là trong việc làm cầu nối trong kinh doanh, thúc đầy xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Chi phí logistics ở Việt Nam cao hơn từ 130 đến 150% so với mặt bằng chung ở các nước phát triển, dẫn đến năng lực cạnh tranh yếu kém của nhiều sản phẩm và dịch vụ Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không đang ngày càng được nâng cấp và phát triển, tuy vậy, vấn đề đang nổi lên là thiếu sự kết nối giữa các phương thức giao thông vận tải khác nhau này Hơn nữa, năng lực của các doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng còn hạn chế, các doanh nghiệp này cung cấp chủ yếu thuộc 3 nhóm dịch vụ logistics trên cơ sở vận tải, kho bãi và giao nhận Họ có nguy cơ tiếp tục bị lệ thuộc và “thua trên sân nhà” trong lĩnh vực logistics khi phải đối mặt với các công ty có bề dày kinh nghiệm và hệ thống cung cấp dịch vụ rộng khắp trên nhiều quốc gia.

FTA VIỆT NAM – EU : PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG GIẢM THUẾ CÁ SẢN PHẨM DỆT MAY

VÀ DA GIẦY TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM SỬ DỤNG MÔ HÌNH GTAP.

Ths.Nguyễn Duy Đạt – Khoa TMQT, ĐHTM

Tóm tắt

Năm 2010, Việt Nam và EU đã ký tắt Hiệp định Đối tác, hợp tác toàn diện (PCA) và đồng thuận xem xét nghiên cứu đàm phán hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa hai bên Với tính chất là một hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường mạnh và sâu trong hầu hết các lĩnh vực thương mại (hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…), FTA Việt Nam – EU được kỳ vọng tác động tích cực đến nhiều ngành sản xuất cũng như nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU, trong đó ngành dệt may và da giày là những ngành xuất khẩu hàng đầu

Trang 10

của Việt Nam sang EU Bài viết sử dụng mô hình GTAP để phân tích tác động của cam kết FTA trong lĩnh vực dệt may và da giày đến tăng trưởng, xuất nhập khẩu cũng như phúc lợi của nền kinh

tế Việc phân tích cho thấy khi EU giảm thuế đối với các sản phẩm dệt may và da giày Việt Nam một mặt làm tăng xuất khẩu, sản lượng công nghiệp trong ngành dệt may và da giày cũng như GDP và tích lũy vốn vật chất trong nền kinh tế Nhưng FTA mặt khác vẫn sẽ khiến chúng ta tăng nhập siêu do giá trị gia tăng trong ngành dệt may và da giày kém cũng như cơ cấu lạc hậu của nền kinh tế.

Từ khóa: GTAP, FTA, Việt Nam - EU, hội nhập kinh tế quốc tế, dệt may, da giày.

LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ DỰA TRÊN MÔ HÌNH MUNDELL-FLEMING

Th.S Vũ Thị Minh Phương – Khoa SĐH, ĐHTM

Tóm tắt

Trải qua hơn hai mươi năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước,

nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực Song trong thời gian qua do tác động của cưộc suy thoái toàn cầu Việt Nam cũng không tránh khỏi hiệu ứng lan truyền này Với sự tích cực điều hành của Chính phủ, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước được phục hồi nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn những nguy cơ suy thoái, Để ổn định nền kinh tế, chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái đã được sử dụng như là những công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của Nhà nước.Tuy nhiên trong quá trình điều hành vẫn còn những bất cập và tiếp tục từng bước phải điều chỉnh Với giới hạn của bài viết này sẽ chỉ ra những bất cập của việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là chính sách tiền tệ dựa trên Mô hình Mundell-Fleming trong lý thuyết kinh tế học hiện đại, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM - YẾU TỐ CẦN THIẾT NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

ThS Trần Mai Ước, ThS Nguyễn Thị Minh Tâm - Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, kết quả thu hút đầu tư của Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, song các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu

là các dự án có quy mô vừa và nhỏ, chưa thu hút được nhiều dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại Bài viết nêu một số vấn đề cần tập trung giải quyết để trong thời gian tới Việt Nam sẽ trở thành một địa điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, tạo thành chất “xúc tác” cần thiết để phát triển kinh tế.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ DỆT MAY CỦA VIỆT NAM

Th.S Nguyễn Thị Dung Huệ - Đại học Ngoại Thương

Tóm tắt

Dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, hàng năm mang lại kim ngạch xuất khẩu cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, mang lại công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao

Trang 11

động Việt Nam Tuy nhiên, ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) dệt may trong nước còn sơ khai và non yếu dẫn đến ngành công nghiệp dệt may phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung ứng bên ngoài, giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm và hiệu quả xuất khẩu thấp Điều này khiến ngành công nghiệp dệt may Việt Nam khó có thế phát triển một cách bền vững Do đó, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) cho ngành dệt may đang trở thành một vấn đề thu hút được sự quan tâm không chỉ của các cơ quan hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu mà còn của chính các doanh nghiệp.

Bài viết giới thiệu quan điểm lý thuyết về các tiêu chí phát triển CNHT dệt may và phân tích thực tế phát triển CNHT dệt may của Việt Nam thông qua các tiêu chí này Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hơn nữa ngành CNHT dệt may tuy non trẻ nhưng đóng một vai trò

vô cùng quan trọng đối với ngành công nghiệp dệt may trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM Ở THỊ TRƯỜNG MỸ

Nguyễn Thị Lệ - Khoa KT, ĐHTM

Tóm lược

Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình CNH – HĐH cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Thủy sản là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và những năm qua, xuất khẩu mặt hàng này đã có cải thiện đáng kể nhưng mức độ tăng vẫn chưa thực sự ổn định và gặp phải không ít các rào cản từ các thị trường lớn như Mỹ Thực tế, năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản của nước ta chưa cao, đồng thời trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các gói trợ cấp về tài chính không còn được phép sử dụng thì vai trò của xúc tiến thương mại Nhà nước càng được thể hiện rõ Qua bài viết, tác giả sẽ làm rõ những vấn

đề liên quan đến xúc tiến thương mại (XTTM) Nhà nước, thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản và đề xuất một số giải pháp về XTTM Nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm này ở thị trường Mỹ trong thời gian tới

Từ khóa :Năng lực cạnh tranh, Sản phẩm thủy sản, Thị trường Mỹ, Xúc tiến thương mại Nhà nước

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TẦM CỠ QUỐC TẾ, SỰ CẦN THIẾT VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA NHẰM PHÁT TRIỂN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐẠT TẦM CỠ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

có chất lượng, mang tính bền vững, đủ năng lực cạnh tranh dựa trên tiềm năng tài nguyên du lịch và nhiều yếu tố khác

Mục đích của bài viết là chỉ ra các tiêu chí cần có của điểm đến du lịch tầm quốc tế, khẳng định sự cần thiết và những vấn đề cần phải giải quyết để có thể phát triển một số điểm đến du lịch của Việt Nam đạt tầm quốc tế.

Bằng phương pháp nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước, đặc biệt các nghiên cứu tổng kết tình hình phát triển du lịch kết hợp với khảo cứu sơ bộ hoạt động du lịch tại một số điểm đến du lịch của nước ta như Hạ Long, Hà Nội, Phố cổ Hội An, Sapa, Cát Bà,…bài viết đề cập đến một số tiêu chí xác định điểm đến du lịch đạt tầm quốc tế; khẳng định sự cần thiết phát triển điểm đến du lịch đạt tầm quốc tế ở Việt Nam Trên cơ sở đánh giá sơ bộ hoạt động du lịch tại một số điểm đến có

Trang 12

tiềm năng du lịch đặc sắc ở Việt Nam để nhận dạng tài nguyên du lịch và những bất cập trong hoạt động du lịch, tổng hợp tình hình và đưa ra nhận định về tính cấp thiết cũng như điều kiện và các vấn

đề phải giải quyết để có thể phát triển một số điểm đến du lịch của Việt Nam đạt tầm quốc tế.

Từ khóa (keywords): Điểm đến, cần thiết, phát triển, tầm quốc tế, tiêu chí

GIẢI PHÁP VĨ MÔ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP, HỢP TÁC VÀ CẠNH TRANH

Th.S Nguyễn Thu Quỳnh – Phòng HCTH, ĐHTM

Tóm tắt

Trong những năm gần đây, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ với thị trường xuất khẩu được mở rộng đáng kể Bên cạnh những thị trường truyền thống như Trung Quốc, ASEAN, Nga và các nước Đông Âu, nông sản nước ta đã tiếp cận thành công các thị trường mới như Hoa Kỳ, EU, Trung Đông, Châu Phi Tuy nhiên, số lượng thị trường và quy

mô xuất khẩu nông sản vào từng thị trường xuất khẩu như hiện nay còn chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu nông sản của nước ta Mặt khác, trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi xu thế hội nhập, hợp tác và cạnh tranh ngày càng rõ nét, việc duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu nông sản gặp không ít khó khăn, thách thức Do đó, vấn đề đặt ra đối với nước ta là phải phát triển thị trường xuất khẩu nông sản để đảm bảo được kế hoạch xuất khẩu đặt ra.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thị trường xuất khẩu nông sản nước ta thời gian qua, nhận diện những tác động của xu thế hội nhập, hợp tác và cạnh tranh tới thị trường xuất khẩu nông sản, bài viết đề xuất những giải pháp vĩ mô nhằm phát triển thị trường xuất khẩu nông sản nước ta trong bối cảnh hiện nay

PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH TÂM LINH Ở VIỆT NAM

Th.S Nguyễn Văn Luyền – Khoa KSDL, ĐHTM Tóm tắt

Trên thế giới, Du lịch tâm linh (DLTL) đã tồn tại và phát triển từ trăm năm nay Đây là một trong những loại hình Du lịch (DL) chiếm tỷ trọng lớn trong ngành DL Ở Việt Nam, trong chiến lược phát triển DL 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cũng đã khẳng định:

“Phát triển Du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” Cùng với tiềm năng phong phú,

đa dạng, ngành DL Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh cả chiều rộng và chiều sâu Tuy nhiên, DLTL một loại hình DL được xem như là mới ở nước ta, thực tế đã có những đóng góp đáng

kể vào sự phát triển của ngành nhưng vẫn chưa được hiểu, quan tâm đầu tư để phát triển đúng với tiềm năng của nó, cả với những nhà hoạch định, các doanh nghiệp DL, các tổ chức điểm đến và với ngay cả những du khách hành hương Vì vậy, thời gian tới DLTL phải được xem như là một điểm nhấn và được đầu tư thoả đáng.

Được tiếp cận ở góc độ vĩ mô, sử dụng phương pháp phân tích thống kê và khảo sát trực quan Bài viết đã đánh giá về sự phát triển của ngành DL Việt Nam thời gian qua, bản chất của DLTL, sự phát triển loại hình DL này của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, để từ đó đưa ra những giải pháp phát triển DLTL của ngành DL

FROM BAMBOO CAPITALISM WATER LILY : CASES OF LCG INDUSTRY IN EAST ASIAN

Keunyeob Oh, Insoo Han, Jinman Yoo - Chungnam National University, Korea

Abstract

There are a couple of frameworks to explain the economic development in East Asian countries; Flying geese model, Bamboo capitalism, and Water lily model This paper this paper

Trang 13

investigates the development of the liquid crystal display (LCD) industry in East Asia and determines which model describes best the development of LCD industry in the region.

We first explain three models and provide brief history of LCD industry in this area Then, we analyze the trade structure and competitiveness by using international trade data We find that Korea exports panels to Japan, China, and Taiwan, while Korea imports materials, components, and manufacturing equipment from Japan Although China exports a lot of LCD panels and other IT products, this paper shows China has a long way to go in the sense that China is importing large panels from Korea, manufacturing equipment from Japan, and components from Taiwan and Japan Although Japan’s place in the industry appears to be declining, Japan is still strongly competitive in that Japan supplies much manufacturing equipment and materials and components This structure seems to show that the development of LCD industry might be explained in terms of Bamboo capitalism On the other hand, from the fact that new LCD clusters are being established in China in addition to previous clusters of Korea, Taiwan, and Japan, it seems reasonable to conclude that LCD industry is on the way from Bamboo capitalism to Water lily model.

Key words: LCD, International Trade, Competitiveness, Flying Geese Model

MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CHÈ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Th.S Phan Thu Giang – Khoa TMQT, ĐHTM

Tóm tắt:

Là một trong những mặt hàng nông sản có thế mạnh, từ lâu chè đã được coi là một cây trồng quan trọng có vị trí chiến lược đối với một số tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ Việc phát triển cây chè sẽ đem đến cho các khu vực này những cơ hội mới để phát triển kinh tế Chè khẳng định mình không chỉ bằng việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng.

Mặc dù chưa phải là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của ngành chè Việt Nam nhưng thị trường Mỹ vẫn là một trong những thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành nông sản Việt Nam nói chung và của mặt hàng chè nói riêng Mục đích của bài viết này là phân tích thực trạng xuất khẩu chè của Việt Nam vào thị trường Mỹ, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường này.

Từ khóa: chè, thị trường Hoa Kì, thúc đẩy xuất khẩu, sản phẩm chè xuất khẩu, xuất khẩu chè

HỢP TÁC THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM - CAMPUCHIA (1998-2010)

ThS Trần Xuân Hiệp - Đại học Duy Tân – Đà Nẵng

Tóm tắt

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Campuchia thời gian qua đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, truyền thống giữa hai dân tộc Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, quan hệ kinh tế hai nước còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức Trong giới hạn bài viết, chúng tôi chỉ điểm lại một số thành tựu nổi bật trong quan hệ thương mại và hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Campuchia Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị cơ bản nhằm thúc đẩy mối quan hệ này phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỖ CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 14

Vũ Anh Tuấn – Khoa TMQT, ĐHTM

Tóm tắt

Việt Nam – Hoa kỳ đã mở rộng quan hệ hợp tác song phương, nhất là về kinh tế và thương mại Hoa kỳ luôn được coi là thị trường đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong đó có ngành gỗ Các sản phẩm gỗ của Việt Nam được thị trường Hoa kỳ khá ưa chuộng Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gỗ trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn Qua phân tích tác giả đề xuất một số khuyến nghị với ngành gỗ Việt Nam.

ẢNH HƯỞNG CỦA CẮT GIẢM THUẾ QUAN ĐỐI VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP WTO

NCS Nguyễn Thị Thu Hiền – Th.s Vũ Ngọc Tú , Khoa KT, ĐHTM

Tóm tắt

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp I-O để phân tích ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế quan hàng nông sản đối với sản lượng và việc làm của khu vực nông nghiệp nói riêng và với nền kinh tế nói chung Kết quả phân tích cho thấy, mức cắt giảm thuế quan 20% trong khuôn khổ WTO gây ra tác động rất nhỏ đối với sản lượng và việc làm của nền kinh tế: sản lượng tăng thêm 0,008%, trong đó khu vực nông nghiệp tăng 0,021%; số việc làm tăng thêm 0,0048% (1793 việc làm), trong

đó số việc làm trong khu vực nông nghiệp tăng 0,0085% (1708 việc làm) Thông qua các kết quả phân tích và so sánh, nghiên cứu cũng đề xuất một số định hướng nhằm khai thác tốt hơn những lợi thế của nông nghiệp Việt Nam khi tham gia WTO, đó là: cần chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu nông sản theo hướng tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến, tăng mức độ chuyên môn hóa

và ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp để tạo ra những sản phẩm nông sản có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh tại chính thị trường trong nước và xuất khẩu

Từ khóa: Nông nghiệp, thuế quan, phương pháp I-O, cạnh tranh (Agriculture, Tariff, I-O analysis,

Từ khóa: Bài học kinh nghiệm, Cam kết WTO của Việt Nam, Giá trị nông sản, Kinh nghiệm xuất

khẩu nông sản, Nông sản, Nông nghiệp, Nông dân.

DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP, CẠNH TRANH VÀ HỢP TÁC

ThS Bùi Thị Dung - Trường Chính trị Bình Dương

Trang 15

ThS Trần Mai Ước - Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Năm 2005, luật Doanh nghiệp ra đời đã tạo nên một “hơi thở” mới cho nền kinh tế Kể từ đó đến nay đã có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời, có sự đóng góp nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong xu thế hội nhập, cạnh tranh và hợp tác hiện nay thì vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng quan trọng đối với sự phát triển nhanh, bền vững của nước ta hiện nay Bài viết góp phần nhận dạng các đặc điểm về thuận lợi, thách thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó đưa ra một vài giải pháp cơ bản nhằm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay.

TĂNG CƯỜNG MỐI LIÊN KẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: VIỆT NAM VÀ DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

Đặng Hoàng Anh – Khoa KT, ĐHTM

Tóm tắt

Trong trào lưu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang diễn ra như một xu thế khách quan

Là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không thể đứng ngoài một quá trình chung đang diễn ra trên toàn cầu Ngay từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước, nước

ta đã gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), tích cực tham gia Phong trào không liên kết, Nhóm G77 và đặc biệt là Liên Hợp Quốc mà một trong những nội dung cơ bản là đấu tranh cho một trật tự mới, công bằng, đồng thời tham gia tích cực vào các liên kết kinh tế - thương mại quốc tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và gần đây nhất là trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) Nếu vào năm 1990, Việt Nam mới có quan hệ buôn bán với trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ thì đến năm 2001 đã là trên

170 và đến nay là hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào nước ta Trong giới hạn bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến Liên kết thương mại quốc tế giữa Việt Nam và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn và khuyến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Việt Nam và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương.

HỘI NHẬP FTA VIỆT NAM – EU: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Đỗ Thị Thanh Huyền – Viện PTTM, ĐHTM

Tóm tắt

Trong những năm gần đây EU luôn là đối tác thương mại lớn của Việt Nam Việc đàm phán

và ký kết một FTA giữa Việt Nam và EU được xem là bước đi quan trọng giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới Tuy nhiên, với tính chất là một cam kết mở cửa thị trường mạnh và sâu trong hầu hết các lĩnh vực thương mại (hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…), FTA Việt Nam -

EU nếu được đàm phán và ký kết sẽ đem đến cho nền nền kinh tế Việt Nam nói chung và các ngành thương mại nói riêng cơ hội thúc đẩy thương mại, cải thiện môi trường đầu tư… nhưng cũng có nhiều thách thức Việt Nam cần có những bước đi phù hợp trong việc tiến hành đàm phán, kí kết FTA với EU nhằm chủ động nắm bắt cơ hội và đối mặt với thách thức khi hội nhập FTA này

Các từ khóa: Cơ hội, EU, FTA, thương mại, thách thức, Việt Nam

TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN (VJEPA) ĐÉN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN SAU GẦN HAI NĂM THỰC THI

ThS Dương Hoàng Anh, ThS Phạm Thị Dự - Khoa KT, ĐHTM

Tóm tắt

Trang 16

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) chính thức có hiệu lực và đi vào thực thi Việc thực thi VJEPA với các lộ trình cắt giảm thuế sẽ có tác động như thế nào đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Nhật, đặc biệt với các nhóm hàng chủ lực của Việt Nam như thủy sản, dệt may, rau quả Qua nghiên cứu thực trạng xuất khẩu từ 2010 đến nay, nhóm tác giả muốn chỉ rõ những tác động tích cực của việc thực thi VJEPA đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Nhật và đưa ra một vài hàm ý chính sách cho chính phủ Việt Nam.

Từ khóa: Hiệp định đối tác kinh tế, VJEPA

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TĂNG CƯỜNG SỨC CẠNH TRANH CỦA KINH TẾ THỦ ĐÔ TRONG HỘI NHẬP HIỆN NAY

TS Hoàng Xuân Nghĩa - Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

mình và có đối sách thích hợp cho những bước đi hội nhập tiếp theo Với cách tiếp cận như vậy, Bài

viết sẽ tập trung phân tích đánh giá các hạn chế về chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh ở các cấp

độ nền kinh tế, hàng hóa – dịch vụ và từng doanh nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghệ,

đặc biệt, các yếu tố nền tảng về thể chế, điều hành vĩ mô và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế Thủ đô,

như là nội dung và yếu tố cốt lõi của cạnh tranh trong hội nhập toàn cầu hiện nay.

MẤY VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở VIỆT NAM

PGS.TS Lê Xuân Đình - Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Những ngày cuối của Quý I/2011, cả nước đang nóng lên với thông tin, rằng 70% doanh thu hiện đang rơi vào túi các doanh nghiệp logistics nước ngoài, trong khi đó, ước tính sơ bộ, tổng nguồn thu từ dịch vụ logistics (bao gồm kho vận, giao nhận, vận chuyển và phân phối) vào khoảng 15-20% GDP của VN là một con số khổng lồ (khoảng 12 tỉ USD/năm với mức GDP như hiện nay) Nguyên nhân do đâu và làm như thế nào để chiếm lĩnh “sân nhà” đang là vấn đề làm đau đầu các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách Việt Nam

Tóm tắt

Nghiên cứu của tác giả đã khái quát quá trình phát triển logistics ở Việt Nam, nhấn mạnh sự khác biệt về nhận thức, cũng như chỉ rõ tiềm năng phát triển cả trong hiện tại và tương lai trên cơ sở phân tích dự báo xu hướng phát triển logistics thế giới Sau khi làm rõ thực trạng logistics của Việt Nam, tác giả đã tập trung phân tích những điều kiện tiên quyết của việc đẩy mạnh phát triển logistics trong nền kinh tế thị trường Việt Nam Trước thực tế là các doanh nghiệp logicstis Việt Nam vừa chưa có tiềm lực, kinh nghiệm, vừa thiếu đầu tư công nghệ do thiếu vốn, chỉ đáp ứng những dịch

vụ đơn giản, hoạt động manh mún, qua nhiều trung gian, đại lý… nên chất lượng dịch vụ thấp, kém hấp dẫn Theo tác giả, cần có bước đi thích hợp, một mặt vừa tích lũy để đầu tư hiệu quả hạ tầng logistics, nhưng đồng thời vẫn phải coi trọng việc lựa chọn đối tác “đủ tầm” – năng lực, uy tín, kinh nghiệm, ưu tiên chọn các công ty logistics nổi tiếng trên thế giới, liên kết với họ, tham khảo ý kiến của họ, học tập kinh nghiệm của họ để phát triển logistics nước nhà một cách bền vững và hiệu quả

Trang 17

Cuối cùng nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp cơ bản trước mắt để phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của logistics trong quá trình hội nhập.

LIÊN KẾT KINH DOANH TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH

Lương Minh Huân - Viện PTDN, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Tóm tắt

Cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua và sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001- 2010, ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên sự phát triển thiếu liên kết vẫn còn là điểm hạn chế của du lịch Việt nam Chuỗi giá trị trong ngành du lịch bao gồm tất cả các bên tham gia vào quá trình cung cấp các trải nghiệm du lịch, từ nhóm các sản phẩm đặc trưng (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ lữ hành), đến nhóm các sản phẩm gắn với du lịch (dịch vụ vận chuyển, dịch vụ văn hóa, dịch vụ vui chơi giải trí) và cuối cùng là nhóm các sản phẩm phụ trợ (bán lẻ hàng hóa, dịch vụ y tế, dịch vụ bảo hiểm ) Thực trạng phát triển du lịch hiện nay ở Việt Nam cho thấy đã và đang tồn tại các mối liên kết giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị du lịch để hình thành một sản phẩm du lịch tổng hợp cung cấp cho khách du lịch như : liên kết theo ngành nghề kinh doanh, liên kết theo tổ chức quản lý, liên kết dọc, liên kết theo hành lang phát triển Tuy nhiên hiện nay du lịch Việt nam vẫn thiếu các mô hình liên kết tốt, hiệu quả, có sự định hướng của Nhà nước, tạo ra giá trị và sức cạnh tranh cao hơn của sản phẩm Chính vì vậy, mặc dù sản phẩm du lịch hiện nay đang phát triển một cách ồ ạt nhưng phần lớn trùng lặp và nghèo nàn về nội dung

Cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua và sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001- 2010, ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Những kết quả về lượng khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân Ngành Du lịch đã có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc phòng Năm 2010 Việt Nam đón được trên 5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ hơn 28 triệu lượt khách du lịch nội địa, thu nhập bằng 4,5% GDP Trong

6 tháng đầu năm 2011 tình hình phát triển du lịch vẫn rất khả quan, khách du lịch quốc tế ước đạt 2,96 triệu lượt khách, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2010; khách du lịch nội địa ước đạt 17,5 triệu lượt; thu nhập từ hoạt động du lịch ước đạt 62 nghìn tỷ đồng Việt Nam đang nổi lên trở thành một điểm đến mới trong khu vực giành được sự quan tâm của nhiều đối tượng khách quốc tế

Thực tiễn phát triển du lịch trong giai đoạn vừa qua cho thấy mặc dù chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 – 2010 đã xác định phát triển du lịch cần có sự phối hợp liên ngành, liên vùng, nhưng sự phát triển thiếu liên kết vẫn còn là điểm hạn chế của du lịch Việt nam Hoạt động du lịch

có khả năng thu hút và cần có sự tham gia rộng rãi các thành phần xã hội Do vậy cần xác lập những

mô hình hoạt động có hiệu quả nhằm khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên, môi trường Những mô hình phát triển du lịch thành công tại các nước phát triển du lịch đều cho thấy chuỗi liên kết, tham gia của nhiều thành phần phối hợp trong hoạt động du lịch, đặc biệt sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, khối quản lý nhà nước và doanh nghiệp, thấy được vai trò, trách nhiệm của mỗi ngành đối với phát triển du lịch Các địa phương cần liên kết để phát triển, các doanh nghiệp cần liên kết hợp tác theo yêu cầu của thị trường, cũng như huy động sự tham gia rộng rãi của cộng đồng trong hoạt động du lịch Chính vì vậy, phát triển du lịch cần được phân tích, đánh giá trong chuỗi giá trị của ngành du lịch để có thể nhận thức được rõ hơn vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, từ đó đề ra chính sách phát triển một cách đồng

bộ và hiệu quả hơn, giúp du lịch Việt Nam nâng cao được năng lực cạnh trong khu vực và trên thế giới.

Trang 18

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM: CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

NCS Nguyễn Quốc Nghi và Nguyễn Hồng Xuân

Khoa Kinh tế - QTKD, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt

Sau hơn bốn năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường bán lẻ Việt Nam

đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, Việt Nam luôn được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ (GRDI), nằm trong Top 15 thị trường bán lẻ hấp dẫn đầu tư nước ngoài Từ ngày 01/01/2009, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ, ngày càng nhiều các doanh nghiệp bán lẻ có 100% vốn nước ngoài gia nhập thị trường làm cho thị trường bán lẻ Việt Nam ngày càng sôi động, hội nhập vào xu hướng chung của thế giới và mở ra cơ hội phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, thách thức cần phải tháo gỡ để phát triển toàn diện một thị trường bán lẻ Việt Nam năng động, hiện đại, hội nhập Vì thế, bài viết này nhắm đến các mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam; (2) Nhận định thời cơ, thách thức đối với thị trường bán lẻ; và (3) Đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam.

THE KNOWLEDGE-BASED MANAGEMENT IN VIETNAM: EVIDENCE FROM CASE STUDIES

Nguyen Ngoc Thang, PhD (Corresponding author)

University of Economics and Business, Vietnam National University

Abstract

This paper aims to advance understanding of the knowledge-based management in Vietnam

by studying three big Vietnamese companies These three cases illustrate how knowledge-based management pursues a vision for the future based on ideals that consider the relationships of people

in society The finding shows that these three cases succeeded because of their flexibility and mobility

to keep meeting to the changing needs of the customers or stakeholders Particular emphasis is given

to the need for future research to examine knowledge-based management of the companies in a different industry segments and companies originating in other countries.

Keywords: Knowledge creation; knowledge-creating companies; knowledge-based

management; Vietnam

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG

ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TS Nguyễn Thị Hương Giang- Khoa Kinh tế, ĐHTM

Tóm tắt

Bán hàng đa cấp là phương thức bán hàng trực tiếp, loại bỏ các khâu trung gian, tiết kiệm chí phí Hoạt động bán hàng đa cấp du nhập vào Việt Nam từ những năm 2000, và hiện nay đang hứa hẹn phát triển nhanh Mặt hàng được mua bán phổ biến trong phương thức bán hàng đa cấp chủ yếu là nhóm hàng thực phẩm chức năng Quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp nhóm hàng thực phẩm chức năng tại Việt Nam hiện nay đã bước đầu tạo được hành lang cho hoạt động này phát triển, tuy nhiên do lợi ích và những biến tướng của hoạt động này gây ra những khó khăn cho quản

lý Nhà nước Bài viết đã đưa ra thực trạng quản lý Nhà nước và đưa ra các giải pháp cho các doanh nghiệp bán hàng đa cấp, cho người tham gia, kiến nghị đối với Nhà nước, xã hội để quản lý Nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp nhóm hàng thực phẩm chức năng được tốt hơn.

TĂNG CƯỜNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI THÔNG QUA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

ThS Nguyễn Thị Tình- Khoa Luật Thương mại, ĐHTM

Ngày đăng: 16/01/2013, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w