Địa lý biển đông: Các ngành kinh tế biển Việt Nam
Trang 1Các ngành kinh tế biển
Việt Nam
Trang 2Thành viên nhóm:
1 Nguyễn Thị Mai 7 Vũ Ngọc Phòng
2 Ngô Thị Muôn 8 Phạm Ngọc Quý
3 Lê Công Nguyên 9 Lương Thanh Tâm
4 Lại Thị Hồng Nhung 10 Nguyễn Ngọc Phương
5 H’ Choai Niê 11 Ap Tol Ro Phot
6 Phan Thị Oanh
Trang 3NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
I Biển Đông Việt Nam
II Khai thác, nuôi trồng,
chế biến thuỷ Hải sản:
III Phát triển kinh tế du
lịch biển và đảo:
IV Khai thác , chế biến
khoáng sản:
V Giao thông vận tải biển:
VI Bảo vệ Biển Đông
Trang 4Phát triển tổng hợp kinh tế biển
Khai thác và chế biến Khoáng sản
Giao thông vận tải biển
Trang 5Tiềm năng
Vùng biển rộng , đường bờ biển dài Số lượng giống loài hải sản phong phú một số loài có giá trị kinh tế cao.
Sự phát triển
Khai thỏc khoảng 500 nghỡn tấn/năm chủ yếu ở ven
bờ Nuụi trồng và chế biến thuỷ sản phỏt triển chậm
Hạn chế
Hải sản ven bờ cạn kiệt, do khai thỏc quỏ mức cho phộp Sản lượng đỏnh bắt xa bờ cũn thấp (1/5 khả năng).
Phương hướng
phát triển
Ưu tiờn khai thỏc xa bờ, đẩy mạnh nuụi trồng hải sản trờn biển, phỏt triển đồng bộ và hiện đại cụng nghiệp chế biến.
I Khai thỏc, nuụi trồng và chế biến hải sản:
Trang 61 Khai thác Hải Sản:
Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng cho biết,
từ một nghề cá thủ công có quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu ở vùng biển ven bờ, đến nay
ngành khai thác hải sản VN đã phát triển
nhanh chóng, từng bước chiếm lĩnh các ngư
trường xa bờ
Đặc biệt, từ năm 1990 – 2006, số lượng tàu khai thác hải sản tăng đáng kể, gấp 5 lần về số lượng và gấp 6 lần về công suất khai thác
Trang 7Riêng đội tàu đánh bắt xa bờ, hiện cả nước
có 14.000 chiếc (trong đó có 1.500 tàu câu cá ngừ, mực đại dương), chiếm 40% tổng sản
lượng khai thác hải sản của cả nước
VN được đánh giá là một trong những
quốc gia có tiềm năng khai thác hải sản trên
biển, xếp thứ 12 trên thế giới về năng lực đánh bắt với sản lượng luôn ổn định ở mức 1,5 - 1,8 triệu tấn/năm
Trang 8Tuy nhiên ngành khai thác hải sản VN cũng đang đứng trước nhiều thách thức lớn như sự mất cân đối giữa số lượng tàu thuyền ngày một tăng nhưng ngư trường khai thác hầu như chưa được mở rộng, tiềm ẩn những nguy
cơ mất an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển bởi nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan
Việc quản lý hoạt động khai thác trên các vùng biển còn nhiều bất cập, công nghệ, phương thức khai thác lạc hậu ảnh hưởng đến môi trường…
Trang 92 Nuôi trồng thủy sản:
Thuận lợi:
Ven biển có nhiều bãi triều, vũng vịnh, đầm phá, rừng ngập mặn có khả năng nuôi trồng thủy sản nước lợ, nước mặn
Có nhiều sông suối, kênh rạch, ao hồ có thể nuôi cá, tôm nước ngọt
Nguồn lao động dồi dào, nhân dân nước
ta có nhiều kinh nghiệm
Nhu cầu về thủy sản trong nước và thế giới tăng lên nhiều
Trang 10Vịnh Cam Ranh
Trang 11Phá Tam Giang
Trang 12 Hệ thống cơ sở vật chất cung cấp giống, thức ăn thủy sản chưa cao.
Trang 14Bè nuôi tôm Hùm ở Vịnh Đầm Bấy Nha Trang
Trang 15Nuôi tôm Hùm
Trang 16Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, do
hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên phát triển mạnh việc nuôi cá lồng, cá bè
Sản phẩm nuôi trồng thủy sản nước ta ngày càng có vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế: tôm càng xanh, tôm sú, cá tra, cá basa…
Việt Nam là 1 trong 5 nước dẫn đầu thế giới về sản lượng tôm đông lạnh
Trang 17Nuôi cá bè trên sông Tiền
Trang 18Sản lượng nuôi tôm cá năm 1995 và 2005 phân
Trang 193 Chế biến thủy hải sản.
Đất nước Việt Nam có lợi thế là có bờ biển dài, nhiều sông ngòi, ao hồ nên việc khai thác và nuôi trồng thủy sản đã mở ra triển vọng lớn về việc cung cấp thủy sản cho nhu cầu đời sống
nhân dân, cho xuất khẩu và phục vụ cho việc
phát triển ngành chăn nuôi gia súc
Khai thác và thu họach tốt nguồn thủy sản phục vụ cho loài người là một vấn đề cực kỳ
quan trọng, nhưng kỹ thuật chế biến còn nhiều hạn chế, vì vậy chưa sử dụng được triệt để
nguồn lợi quý giá này.
Trang 20Công nghiệp chế biến thủy, hải sản
Ngành Điều kiện Tình hình phát triển Phân bố
Nước mắm liệu phong phúCơ sở nguyên
Ra đời rất sớm Sản lượng hàng năm đạt
190 – 200 triệu lít
Có mặt ở nhiếu
nơi Nước mắm Cát Hải ( Hải Phòng), Phan Thiết ( Bình Thuận), Phú Quốc ( Kiên Giang) nổi
Mới phát triển nhưng có tốc độ tăng trưởng nhanh Nam Trung Bộ, ĐBS Cửu Long
Chế biến và
đóng hộp
thủy sản
Nguyên liệu phong phú Phát triển chậm Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh
Trang 21Chế biến tôm
Trang 22Một số hình ảnh về đánh bắt và nuôi trồng hải sản:
Đánh bắt Nuôi trồng Chế biến
Trang 23III Phát triển kinh tế Du lịch biển- đảo:
Một số trung tâm du lịch đang phát triển, tập trung hoạt động tắm biển.
Chưa khai thác hết tiềm năng
Đa dạng các hoạt động du lịch
Trang 241 Khai thác và phát triển du lịch biển
Du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển kinh tế của ngành du lịch
nhằm tận dụng các cạnh quan và sinh thái vùng ven biển để phát tiển kinh tế, tăng
thu nhập cho người dân cũng như tăng
nguồn ngân sách cho Trung ương và đại phương
Trang 25Điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
Trang 26Vịnh Vân Phong
Trang 27 Hiện có rất nhiều bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, như: Sầm Sơn, Cửa Lò, Nhật Lệ ,
Thuận An, Lăng Cô (Huế), Nha Trang, Vũng Tàu,
Hà Tiên - Phú Quốc, Phan Thiết - Mũi Né
Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang.
Điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
Trang 28Trà Cổ Non Nước Lăng Cô
Trang 29 -Khí hậu Việt Nam nhiệt đới gió mùa ẩm, có
sự phân hóa theo hướng Bắc Nam sẽ tạo ra sự
phân hóa về du lịch biển theo hướng Bắc Nam
Trang 30Vịnh Hạ Long
Trang 33Đội ngũ lao động du lịch vùng ven biển hiện
chiếm khoảng 65% tổng số lao động trực tiếp của cả nước, tập trung nhiều nhất ở TP.HCM,
Bà Rịa - Vũng Tàu (trên 60%); Thừa Thiên -
Huế, Đà Nẵng (8,5%); Hải Phòng - Quảng
Ninh (8,1%)
Sự phát triển của du lịch biển còn tạo việc
làm gián tiếp cho 60 vạn lao động là các dân cư ven biển
Trang 34Hiện nay du lịch biển nước ta phát triển khá mạnh với lượng khách và doanh thu tăng hàng năm, năm 2010 có khoảng 7-7,5 triệu lượt
khách và trên 2 tỷ USD
Trong đó, du lịch biển thu hút khoảng 80% lượng khách đến Việt Nam và chiếm khoảng trên 70% doanh thu so với cả nước
Trang 35Khó khăn:
Nước biển dâng cao và ấm lên sẽ làm ngập và phá hủy các HST ven biển và các ốc đảo u nhiều rụi ro thiên tai như: bão lũ, sóng thần
Các đợt nắng nóng kéo dài khiến cho nhiệt độ nước biển trong mùa hè tăng cao hơn so với
mức thông thường
Trang 36Nước biển ấm lên làm thay đổi điều kiện sinh thái biển và dẫn đến san hô san hô ngoài khơi, gây ra “thảm họa” sinh thái và triệt hại nguồn vốn tự nhiên đối với phát triển du lịch biển bền vững
Vấn đề bảo vệ môi trường, sạch đẹp của các bãi tắm tình trạng chặt chém khách diễn ra
ồ ạt
Trang 37Hệ thống bãi biển đẹp nhưng bị băm nát bởi xây dựng thiếu hệ thống
Chính sự manh mún, kinh doanh mang tính thời vụ như thế nên khó giữ chân du khách lâu ngày và mang tính quy mô.
-Phát triển du lịch biển không phù
hợp với tiềm năng.
Trang 38Biện pháp
Tránh sự phát triển ồ ạt, hiệu quả kinh tế thấp,
làm suy kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên và các nguồn lực
chuyển từ khai thác thị trường khách du lịch đại trà sang thu hút theo trọng tâm
Thu hút các thị trường khách quốc tế gần từ các
nước ASEAN và Đông Bắc Á
Trang 39
• Đặc biệt chú trọng các thị trường Thái Lan,
Campuchia, Lào, Malaysia, Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (TQ), Hồng
Kông và khách du lịch nội địa cao cấp
• Các thị trường khách du lịch truyền thống như Tây Âu, Bắc Mỹ, Việt kiều, Úc, Bắc Âu
và thị trường khách mới nổi đến từ Nga,
CH Séc và các nước SNG cũ được duy trì khai thác
•
Trang 40Nghiên cứu thu hút các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Mỹ La tinh, Nam Phi và Trung
Đông- dòng khách sử dụng các sản phẩm du
lịch cao cấp
Điều này đồng nghĩa với tăng nhu cầu phát triển du lịch biển bền vững với phương châm: sạch môi trường, đẹp văn hóa, hiện đại, dân tộc
và độc đáo
Trang 412 Khai thác và phát triển du lịch đảo:
Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam gồm 2773 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích 1.720km2, trong đó các đảo nhỏ (nhỏ hơn 0,5 km2) chiếm hơn 97% và chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ Vịnh Bắc Bộ Việt Nam là những núi đá vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tác động của các quá trình phong hóa hóa
học, tạo nên một quần thể đảo có kiến trúc đặc sắc: các sườn, vách dốc đứng với các đỉnh sắc nhọn,
hoặc các khối đổ lở chồng chất và các hốc đá sóng
vỗ
Trang 42Các đảo lớn từ 1km2 trở lên có 84 đảo,
trong đó có 24 đảo có diện tích từ 10km2 đến 557km2, chiếm 82% tổng diện tích tự nhiên các đảo (1413 km2/1720 km2), phân bổ rải rác
từ vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng đến vùng biển ven bờ Tây Nam là những đồi núi thấp, dạng khối, bất đối xứng
Trang 43Sườn thoải (thường là sườn khuất gió, ít chịu tác động của các quá trình động lực biển) phát triển theo bề mặt các lớp đá có thể nằm nghiêng, có các bề mặt san bằng và các bậc
thềm mài mòn trên những độ cao khác nhau 300m, 200m, 100m, 70m, 50m, 30m, 20m
Trang 44Dưới chân đảo là những cung bờ lõm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, là những bãi tắm lý tưởng với những kích thước khác nhau như vài chục mét đến vài trăm mét, thậm chí vài ba nghìn mét (Cô Tô, Ngọc
Vừng, Cái Bầu, Phú Quốc, Phú Quý )
Trang 45Đảo cô tô
Trang 46Bãi biển thơ mộng của đảo Ngọc Vừng Bãi biển đảo Phú Quốc
Trang 47Tổ yến ở Cù Lao Chàm
Trang 48Các sản phẩm từ tổ yến
Trang 49Sườn đón gió là những vách đá dốc đứng (30o - 600), chịu tác động mạnh của các quá trình thủy động lực và vận động kiến tạo cục
bộ, tạo các cảnh quan địa chất hùng vĩ
Đặc biệt các đảo cấu tạo từ đá Granit ở
vùng biển ven bờ miền Trung Việt Nam có các khe nứt, các hốc đá cheo leo trên sườn dốc là những nơi cư trú của chim yến như Hòn Khô, Hòn Lao, Cù Lao Chàm và các đảo ở vùng
biển Nha Trang, Khánh Hòa, đem lại nguồn
lợi "vàng trắng" to lớn trị giá hàng triệu đôla
Trang 50Địa hình đáy biển xung quanh đảo không đồng nhất, khá phức tạp bao gồm: địa hình tích
tụ, nông, thoải, từ độ sâu 2m và từ 10 - 20m là thảm san hô rất phát triển, độ che phủ đạt hơn 60%, một hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệt đới có hệ số đa dạng sinh học cao (>
3/3), giàu nguồn lợi đặc sản, ngoài ra hệ sinh thái san hô còn là bộ lọc nước tự nhiên cao
cấp, làm sạch môi trường nước biển
Trang 52Địa hình xâm thực ở chân đảo tạo thành các thung lũng ngầm kéo dài và các rãnh sâu dưới chân các mũi nhô của đảo, độ sâu có thể đạt đến 30m hoặc sâu hơn tạo thành những cư sinh (habitat) của các loài đặc sản như tôm
hùm, các nhuyễn thể sống bám vào vách đá
Trang 53Đảo biển là một đơn nguyên cảnh quan địa chất, địa mạo, là một hệ sinh thái hoàn chỉnh,
có rừng, có biển, có bãi cát và chan hòa ánh
Trang 54Do hoàn cảnh tự nhiên về cấu tạo địa chất, địa hình và cảnh quan, mỗi đảo có những nét riêng, song lại có chung một điểm là nơi lý
tưởng để phát triển kinh tế - sinh thái và du
lịch
Trên thực tế rất nhiều đảo trên thế giới đã phát triển thành những thánh địa du lịch nổi tiếng như Tahiti - Nam Thái Bình Dương,
Manlta - Địa Trung Hải, công viên đại ngàn Australia, công viên quốc gia biển Tây Bắc, Cộng hòa Liên bang Đức, đem lại nguồn tài chính lớn lao
Trang 55Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 45 triệu
lượt người tham gia du lịch biển - đảo thu 8 tỷ USD; tại Canada khoảng 65 triệu lượt người, thu 4,7 tỷ đôla Canada; tại Nhật Bản khoảng
100 triệu lượt người/năm
Trung Quốc có khoảng 1.500 điểm phong cảnh du lịch bờ biển và hải đảo thu hút hàng trăm triệu khách du lịch mỗi năm
Trang 56Ở Việt Nam, biển quanh đảo và các bãi cát thạch anh trắng mịn cùng với hệ sinh thái san
hô là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái biển
vô giá
Có thể tổ chức các cụm du lịch tắm biển, tham quan các hệ sinh thái san hô đa sắc màu ngầm dưới nước nhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Trang 57Khí hậu biển mát mẻ vào mùa hè, ấm áp
vào mùa đông do có sự điều hòa nhiệt của
biển Biển vừa là bánh đà vừa là bình nhiệt
hấp thu nhiệt vào ban ngày và vào mùa hè tỏa nhiệt vào ban đêm và vào mùa đông
Nhiệt độ không khí tối cao và tối thấp trên biển bao giờ cũng chênh lệch so với đất liền từ 10C - 30C
Trang 58Đảo biển thỏa mãn 3 yêu cầu của du lịch biển - 3 chữ S: sea, shore và sun, song khác với vùng biển ven bờ là chất lượng cao hơn nhiều lần
Không khí biển - đảo và nước biển là môi trường trong lành nhất, là thiên đường của
những ai muốn tránh xa nhịp sống ồn ào và ô nhiễm của đô thị, vui với biển, nắng, gió và cát
Trang 59Tiếp theo là những rạn san hô đa sắc màu Các hệ sinh thái đảo biển có chỉ số đa dạng sinh học cao >3,3, nhưng khối lượng của các loài sinh vật không lớn do diện tích đảo rất hạn hẹp và tính nhiệt đới của địa sinh học.
Các loài đặc sản biển của đảo mang tính
địa phương cao
Trang 61VỊNH HẠ LONG
BỜ BIỂN ĐÀ NẴNG
VỊNH HẠ LONG
Trang 62BỜ BIỂN PHÚ YấN
BIỂN QUY NHƠN
phong cảnh côn đảo
BIỂN Cửa lò
Trang 63NHA TRANG C¸t bµ
Trang 64C¸c lo¹i h×nh du lÞch biÓn:
Trang 66Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển
IV Khai thác và chế biến khoáng sản biển:
* Tiềm năng:
- Biển nước ta cĩ nhiều
khống sản: dầu mỏ, khí đốt,
muối, ti tan, cát trắng , …
Trang 67Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển
Trang 68Cà Ná- Ninh Thuận Ninh Hòa-Khánh Hòa
Trang 69Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển
Qu¶ng Ng·i
Ninh ThuËn
- Khí hậu nhiệt đới
số giờ nắng trong
năm cao, ít m a.ư
-Ven biển có ít sông
ngòi đổ ra, nước biển
ít lẫn tạp chất
Trang 70Khai thác ti tan Khai thác cát trắng
C¸t tr¾ng Cam Ranh Kh¸nh Hoµ–
Trang 71Xâây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất
Khai thác dầu
+ Các bể trầm tích ở thềm lục địa có trữ lượng lớn + Là ngành kinh tế biển mũi nhọn + Công nghiệp hóa dầu đang hình thành.
Nhà máy điện Phú Mỹ
Sản xuất phân đạm
+ Công nghiệp chế biến khí phục vụ cho phát điện, sản xuất phân đạm
Trang 72IV Khai thác và chế biến khống sản
Tiềm năng:
- Biển Việt Nam giàu KS :dầu
mỏ, khí đốt, ti tan, cát trắng
- Nghề muối phát triển mạnh ở
ven biển Nam Trung Bộ
- Khai thác dầu khí phát triển
mạnh và tăng nhanh
Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển
- Xu hướng phát triển hố dầu:
Xây dựng các ngành dầu khí và
các khu cơng nghiệp liên
ngành điện, phân bĩn, hố
chất, cao su tổng hợp, cơng
nghệ cao về dầu khí
Trang 731 Hiện trạng khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản biển:
a Khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản rắn
Hiện nay tốc độ khai thác các mỏ sa khoáng inmenit ven biển rất cao
Hầu như các mỏ lớn đều được khai thác và chế biến, chủ yếu là Tian và Ziacon sạch để xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, công nghiệp trong nước
chưa sử dụng nhiều
Không ít mỏ khi khai thác và sau khi khai thác xong không chú trọng đến vấn đề môi trường nên gây ra những tác động xấu
Trang 74Cát thủy tinh đã được khai thác phục vụ cho sản xuất trong nước nhưng một lượng lớn phục
vụ xuất khẩu Với trữ lượng rất lớn, việc khai thác hiện nay chưa đáng bao nhiêu
Cát san lấp gần đây một số tỉnh miền Tây
Nam Bộ đã tiến hành thăm dò và khai thác
xuất khẩu Nhiều nhà khoa học quan tâm và tỏ
ra băn khoăn vì sợ chưa tính toán kỹ,khai thác cát ở vùng biển nước nông có thể làm thiếu hút trầm tích và làm gia tăng nạn sạt lở bờ biển
vốn đã nghiêm trọng hiện nay
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đầy đủ về tác động của việc khai thác cát tới môi trường thực sự nghiêm túc
Trang 75b Khai thác dầu khí.
Theo giá dầu trên thị trường thế
giới,hàng năm nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô chiếm 20 – 24% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 22 – 25% tổng thu ngân sách
Cho đến cuối năm 2004 đã khai thác
169,94 triệu tấn dầu và 37,64 tỷ m3 khí (lượng khí đưa vào bờ để sử dụng 18,67 mét khối) Các
mỏ hiện nay đang khai thác đều năm ở thềm lục địa (200m nước)
Khai thác dầu khí có tốc độ tăng trưởng nhanh Năm 1986 là năm đầu tiên nước ta khai thác dầu trên biển sản lượng 0,4 triệu tấn/ năm tăng lên 20,34 triệu tấn năm vào năm 2004