1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển

538 717 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Tác giả Jean-Pierre Cling, Đỗ Hoài Nam, Stéphane Lagrée, Mireille Razafindrakoto, François Roubaud
Người hướng dẫn PTS. François Roubaud
Trường học Trường Kinh tế Paris
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại sách tham khảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 538
Dung lượng 5,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của Hội thảo này là trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mới nhất được trình bày trong các báo cáo khoa học, các nhà nghiên cứu, quản lí và hoạch định chính sách của nhiều quốc g

Trang 2

tại các nước đang phát triển

Trang 3

Kinh tế phi chính thức

tại các nước đang phát triển

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 7

Phỏng vấn ông François Bourguignon - Hiệu trưởng Trường Kinh tế Paris

CHƯƠNG I PHÂN KHÚC VIỆC LÀM GIỮA KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC

1.1 Lao động phi chính thức và nghèo đói ở châu Mỹ Latin 39Trường hợp của Argentina, Brazil, Chile và Peru

_Roxana Maurizio

1.2 Làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức: tự nguyện hay bắt buộc? 73Phân tích sự hài lòng về công việc tại Việt Nam

_ Mireille Razafindrakoto, François Roubaud, Jean-Michel Wachsberger

1.3 Việc làm cho lao động di cư từ nông thôn đến thành thị: 105các phân tích về lựa chọn công việc và thu nhập của lao động di cư so với

lao động tại chỗ ở thành thị vùng Đồng bằng sông Hồng

_ Nguyễn Hữu Chí

1.4 Hội nhập giữa khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế 137phi chính thức trong làng nghề

_ Sylvie Fanchette, Nguyễn Xuân Hoản

CHƯƠNG II NHỮNG RÀNG BUỘC VỀ KINH TẾ, THỂ CHẾ VÀ XÃ HỘI

2.1 Hiệu quả của các cơ sở sản xuất thuộc khu vực kinh tế phi chính thức: 163phương pháp hồi quy theo phân vị Nghiên cứu về khu vực kinh tế

phi chính thức tại Antananarivo - Madagascar

_ Faly Hery Rakotomanana

2.2 Phân tích hiệu quả đầu tư giáo dục trong khu vực kinh tế phi chính thức 195tại Cameroon

_ Nguetse Tegoum Pierre

2.3 Vấn đề tham nhũng liệu có tác động tới khu vực kinh tế phi chính thức ở 235khu vực Tây Phi?

_ Emmanuelle Lavallée, François Roubaud

Trang 5

_ Michael Grimm, Flore Gubert, Ousman Koriko, Jann Lay và

Christophe Jalil Nordman

2.5 Doanh nhân kế nghiệp theo kiểu cha truyền con nối trong 293khu vực kinh tế phi chính thức tại Tây Phi: ràng buộc hay

hy vọng cho một thu nhập tốt hơn?

_ Laure Pasquier-Doumer

CHƯƠNG III ĐỘNG THÁI VI MÔ - VĨ MÔ VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO

3.1 Có giới hạn nào cho sự gia tăng tình trạng phi chính thức ở Nam Mỹ? 323Điều tra sơ bộ

_ Francisco Verdera V.

3.2 Lao động phi chính thức và thu nhập không ổn định ở Argentina 357

_ Fernando Groisman

3.3 Sự dịch chuyển lao động giữa khu vực kinh tế chính thức 381

và kinh tế phi chính thức tại Thái Lan

4.1 Toàn cầu hóa và việc làm phi chính thức tại các nước đang phát triển 441

_ Marc Bacchetta, Ekkehard Ernst và Juana P Bustamante

4.2 Khu vực kinh tế phi chính thức, cuộc khủng hoảng và 463chính sách công tại Việt Nam

_ Jean-Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto và François Roubaud

4.3 Sự công nhận khu vực kinh tế phi chính thức trong chiến lược 491việc làm của Việt Nam

Trang 6

L ỜI NÓI ĐẦU

Ở các nước đang phát triển, khu vực kinh tế phi chính thức có vai trò rất quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều nhất việc làm mới, tăng thu nhập cho người dân nghèo sống ở nông thôn và thành thị, góp phần ổn định chính trị - xã hội và hỗ trợ tích cực cho khu vực kinh tế chính thức Để tăng trưởng bền vững nền kinh tế, cần có chính sách phát triển bền vững khu vực kinh tế phi chính thức

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với 75% dân số sống ở nông thôn

và 63% lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng hiện đại đã và đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho khu vực kinh tế phi chính thức phát triển rất mạnh mẽ Nhưng hiện nay, khu vực kinh tế này cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và bộc lộ nhiều bất cập cần được tập trung giải quyết về mặt chính sách

Mặc dù kinh tế phi chính thức là một khu vực chủ chốt trong nền kinh tế của các nước đang phát triển nhưng cho đến nay ở nhiều quốc gia, khu vực này vẫn chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng về chính sách Thậm chí ở một số nơi, đôi lúc còn có cách nhìn tiêu cực, định kiến và “nặng chính thức, nhẹ phi chính thức” Xét ở góc độ nghiên cứu khoa học, hiện còn rất ít những công trình nghiên cứu cơ bản về khu vực kinh tế này

Vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau và không rõ ràng, thậm chí trái ngược nhau, xung đột lẫn nhau về kinh tế phi chính thức Vì thế đã dẫn đến tình trạng thống kê không đầy đủ và không chính xác năng lực cũng như những đóng góp của khu vực này vào nền kinh tế của một quốc gia Đây là một thách thức không nhỏ cần phải vượt qua

Trong bối cảnh đó, dựa trên kết quả hợp tác nằm trong Chương trình nghiên cứu của nhóm DIAL-IRD với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD) đã đồng chủ trì tổ chức Hội thảo quốc

Trang 7

tế về “Khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức” tại Hà nội, tháng Năm

năm 2010 với sự tham gia và hỗ trợ của nhiều cơ quan nghiên cứu và nhà tài trợ Về phía Việt Nam, có Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, các ban ngành ở Trung ương và

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương, các viện nghiên cứu và trường đại học Về phía quốc tế có Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Cơ quan Phát triển Anh (DFID), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nhóm nghiên cứu DIAL-IRD và một số học giả nước ngoài khác (Chi tiết xin mời xem thêm tại www.tamdaoconf.com) Mục đích của Hội thảo này là trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mới nhất được trình bày trong các báo cáo khoa học, các nhà nghiên cứu, quản lí và hoạch định chính sách của nhiều quốc gia sẽ tọa đàm, thảo luận khoa học để tạo

sự đồng thuận khoa học về quan niệm, khái niệm; phương pháp thống kê và những công cụ đo lường sự phát triển và đánh giá tác động của khu vực kinh

tế và việc làm phi chính thức đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia đang phát triển; về quan điểm và thái độ chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực này trong bối cảnh thế giới nói chung và nhiều quốc gia nói riêng đang chịu nhiều tác động xấu của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng nợ công ở châu Âu, bất ổn chính trị ở châu Phi và Trung Đông

Trong tay bạn đọc là cuốn kỉ yếu tập hợp một số báo cáo khoa học của Hội thảo, đề cập một sự đa dạng về chủ đề và phong phú về nội dung những vấn đề cơ bản của khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức ở nhiều quốc gia đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin Lần đầu tiên những quan sát và nghiên cứu trực tiếp về khu vực kinh tế phi chính thức có

sử dụng định nghĩa về khái niệm “kinh tế phi chính thức” của các tổ chức quốc tế được tập hợp và giới thiệu Các kết quả nghiên cứu điều tra 1-2-3 phục

vụ cho việc thống kê quy mô và đánh giá vai trò, tác động của khu vực kinh

tế phi chính thức do nhóm DIAL-IRD thực hiện và công bố đã được sử dụng làm cơ sở cho các nghiên cứu về kinh tế phi chính thức ở Tây Phi, Cameroun

và Việt Nam cũng được đề cập đến

Xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học đã tham dự và có tham luận tại Hội thảo; các Bộ, cơ quan Việt Nam và nước ngoài đã tham gia hỗ trợ kỹ

Trang 8

thuật và tài chính; các cá nhân và nhóm công tác đã tham gia nhiệt tình và hiệu quả, góp phần vào thành công của Hội thảo và cho ra đời ấn phẩm này Lời cảm ơn đặc biệt xin gửi tới các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, đó là Martin Rama, Antoine Simonpiétri và Françoise Genouille Cuối cùng, lời cảm

ơn chân thành nhất xin gửi tới Bùi Thu Trang, cán bộ Văn phòng điều phối Hợp tác Pháp ngữ - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, vì những đóng góp của chị trong suốt quá trình làm việc

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với bạn đọc gần xa cùng một lời nhắn nhủ rằng, chúng ta hãy cùng chung tay đóng góp bằng những việc làm thiết thực để phát triển mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức để nó ngày càng trở thành một công cụ được phát huy tác động tích cực tối đa cho xóa đói, giảm nghèo bền vững ở nông thôn và đô thị Việt Nam

Trân trọng cảm ơn

Thay mặt nhóm biên soạn và tác giả!

GS.TS Đỗ Hoài Nam

Trang 10

vụ tự thiêu của một người bán rong rau quả để phản kháng việc bị cảnh sát cấm bán hàng trên đường phố Hơn nữa, khu vực phi chính thức hiện đang vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu cũng như chưa được tính đến nhiều trong các chính sách Thậm chí khu vực này đôi khi còn bị nhìn nhận một cách tiêu cực như những gì chúng ta đã thấy qua làn sóng cách mạng xảy ra ở Tunisie như đã nêu trên.

Bất chấp những nỗ lực từ nhiều năm nay của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khu vực phi chính thức vẫn ít được biết đến Đây là một trở ngại lớn trong việc đưa các vấn đề thuộc khu vực này vào các chính sách kinh tế của

Trang 11

các quốc gia Dựa theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, trong ấn phẩm này, khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu là toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân phi nông nghiệp, không có đăng ký kinh doanh nhưng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phục vụ thị trường1 Còn việc làm phi chính thức được định nghĩa là việc làm không có chế độ bảo hiểm và phúc lợi Để định nghĩa chính xác thế nào là việc làm phi chính thức cần phải xét đến nhiều đặc điểm: chế

độ bảo hiểm và phúc lợi xã hội, hợp đồng thành văn, bảng lương, bồi thường thất nghiệp v.v Xét theo các định nghĩa này, có thể thấy việc làm phi chính thức bao gồm hai loại chính riêng rẽ, đó là việc làm trong khu vực phi chính thức và việc làm không có bảo hiểm trong khu vực chính thức Theo định nghĩa của ILO (2003), khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức tạo nên cái mà chúng ta gọi là kinh tế phi chính thức

Tình trạng thiếu số liệu thống kê chính xác về kinh tế phi chính thức cũng là một thách thức khác cần phải giải quyết Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: các định nghĩa đưa ra không rõ ràng, nằm ngoài tầm kiểm soát của những người làm thống kê; thiếu sự quan tâm của các cơ quan quản lí do đây là khu vực hoạt động nằm ngoài lề nền kinh tế và không đóng thuế; khó khăn trong việc đo lường bởi đây là khu vực nằm ngoài lề nền kinh tế; và cuối cùng là định kiến cho rằng khu vực phi chính thức là biểu hiện của tình trạng kém phát triển và cần phải dần dần biến mất khỏi nền kinh tế khi đất nước phát triển Dù vậy, việc thiếu các số liệu thực tế cũng làm hạn chế tính xác đáng của các phân tích được đưa ra trong các báo cáo quốc tế về chủ đề này (nhất là các báo cáo năm 2009 của ILO, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD; Bacchetta và những người khác, 2009; Jutting và de Laiglesia, 2009) Ngoài ra, do thiếu các số liệu xác đáng, nhìn chung các nghiên cứu về chủ đề này đều phải sử dụng các định nghĩa gần liên quan (ví dụ “doanh nghiệp nhỏ và vừa”) và chỉ mang tính tương đối (Guha-Khasnobis và Kanbur, 2006)

Ngoài việc thiếu các số liệu xác đáng, việc nhầm lẫn về khu vực phi chính thức còn do khu vực này vốn có nhiều hình thức cũng như động lực làm việc khác nhau Trong các nghiên cứu kinh tế đã được thực hiện, có thể thấy có ba

1 Có nhiều định nghĩa khác nhau về khu vực kinh tế phi chính thức được đưa ra tùy theo hoàn cảnh mỗi nước: thiếu hệ thống sổ sách kế toán, quy mô doanh nghiệp (số lượng người làm) nhỏ hơn một ngưỡng nhất định.

Trang 12

phương pháp tiếp cận chủ đạo đã được sử dụng để tìm hiểu về nguồn gốc và nguyên nhân của tính phi chính thức (Roubaud, 1994; Bacchetta và những người khác, 2009):

• Phương pháp tiếp cận “hai mặt/kép” được sử dụng trong các nghiên cứu của Lewis (1954) và Harris-Todaro (1970) Phương pháp này dựa trên mô hình thị trường lao động kép, trong đó khu vực phi chính thức được coi như một thành phần còn sót lại của thị trường lao động và không có liên hệ với khu vực kinh tế chính thức; khu vực kinh tế mưu sinh này tồn tại chỉ bởi vì khu vực kinh tế chính thức không có khả năng tạo đủ việc làm cho người lao động;

• Phương pháp tiếp cận “cơ cấu”, khác với phương pháp thứ nhất, phương pháp tiếp cận này nhấn mạnh quan hệ phụ thuộc qua lại giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức (Moser, 1978; Portes và những người khác,1989), dựa trên tinh thần của chủ nghĩa Marx, theo đó, khu vực phi chính thức tham gia vào hệ thống tư bản chủ nghĩa theo quan hệ phụ thuộc Khu vực này cung cấp lao động và sản phẩm giá rẻ cho các doanh nghiệp thuộc khu vực chính thức, đồng thời làm tăng tính linh hoạt và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế;

• Phương pháp tiếp cận mang tính “pháp lí”, theo đó, khu vực phi chính thức được tạo nên từ các doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động phi chính thức nhằm thoát khỏi các biện pháp điều chỉnh về kinh tế (de Soto, 1994) Cách tiếp cận theo trường phái tự do này trái ngược với hai cách tiếp cận ở trên, vì cho rằng việc lựa chọn vị thế phi chính thức là tự nguyện và có nguyên nhân

là do chi phí để chính thức hóa và đăng ký kinh doanh quá tốn kém

Ấn phẩm này tập hợp một số báo cáo được trình bày tại một Hội thảo quốc tế tổ chức tại Hà Nội2 Độc giả sẽ thấy được sự đa dạng về chủ đề cũng như phạm vi địa lí của các báo cáo trình bày tại hội thảo, trải từ châu Á qua

2 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) và Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD) đồng tổ chức Hội thảo

quốc tế Khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức tại Hà Nội vào tháng Năm năm 2010, với sự hỗ trợ của nhiều

cơ quan, Bộ, ngành của Việt Nam cũng như các cơ quan viện trợ lớn có hoạt động tại Việt Nam Về phía Việt Nam, có Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê; các tổ chức quốc tế gồm: Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (Xem thêm tại www.tamdaoconf.com) Sáng kiến tổ chức hội thảo được đưa ra trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu của nhóm DIAL - IRD phối hợp với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Tổng cục Thống kê từ năm 2006 đến năm 2011.

Trang 13

châu Phi và châu Mỹ Latin Các nhà nghiên cứu cũng đến từ nhiều nước khác nhau với gần một nửa đến từ các nước đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau với tư cách là giảng viên - nghiên cứu viên của các trường đại học hoặc viện nghiên cứu, một số là chuyên gia của các tổ chức quốc tế (ILO, WTO, AFRISTAT) hoặc cán bộ thuộc các cơ quan quản lí đến từ các nước phía Nam Hội thảo là dịp để điểm lại tình hình của các nghiên cứu

về chủ đề này Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mới nhất, hội thảo góp phần tiến tới xây dựng các chính sách dành cho khu vực phi chính thức cũng như tìm ra các phương pháp tiếp cận chung trong việc đưa ra định nghĩa cũng như các công cụ đo lường cho khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức tại các nước đang phát triển3 Liên quan đến điểm cuối này, đây sẽ là ấn phẩm đầu tiên tập hợp các quan sát và nghiên cứu trực tiếp về kinh tế phi chính thức có sử dụng định nghĩa của các tổ chức quốc tế Các nghiên cứu điều tra 1-2-3 phục vụ cho việc đo lường kinh tế phi chính thức do nhóm DIAL thực hiện và công bố là cơ sở cho các nghiên cứu về Tây Phi, Cameroun, Peru và Việt Nam cũng được giới thiệu

Ấn phẩm bao gồm bốn phần với phỏng vấn dẫn đề của F.Bourguignon, giới thiệu chung về các vấn đề chính liên quan đến khu vực phi chính thức Phần một giới thiệu các yếu tố phân bổ việc làm theo khu vực và các nguyên nhân dẫn đến việc người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức cũng như mức độ hài lòng của họ về công việc Phần hai phân tích các ràng buộc, khó khăn về kinh tế, thể chế và xã hội đối với khu vực phi chính thức ở các nước đang phát triển: tham nhũng, các yếu tố về hiệu quả sản xuất và tham gia vào nền kinh tế Nội dung của phần ba là sự vận động ở các cấp độ vi mô

và vĩ mô của khu vực phi chính thức, từ đó dẫn tới nghiên cứu sự chuyển dịch giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức, cũng như quan hệ giữa việc làm phi chính thức, thu nhập và nghèo đói Phần bốn đề cập các vấn đề về chính sách kinh tế đối với khu vực kinh tế phi chính thức và mở rộng hơn tới quan hệ giữa toàn cầu hóa và tính phi chính thức của khu vực này

Qua các nghiên cứu được giới thiệu trong ấn phẩm, có thể rút ra một thông điệp chính Đó là, những đặc điểm chính của khu vực phi chính thức

3 Vì khuôn khổ không cho phép nên các nghiên cứu về đề tài này không được in trong ấn phẩm mà sẽ

được in riêng trong số đặc biệt của tạp chí STATECO (Xem trên trang: http://www.dial.ird.fr/publications/

stateco).

Trang 14

cho thấy có sự tương đồng sâu sắc giữa các nước đang phát triển, điều này

đã được Cling và những người khác (2010) nhấn mạnh: lao động trình độ tay nghề thấp, việc làm bấp bênh; điều kiện làm việc không đảm bảo, thu nhập thấp; phân tán và thu nhỏ các cơ sở sản xuất, thiếu kết nối với khu vực kinh

tế chính thức; v.v Do người lao động không được đáp ứng đủ nhu cầu về việc làm nên khu vực phi chính thức trở thành cứu cánh cho những người đang phải tìm việc hoặc rời bỏ nông nghiệp Điều này phù hợp với tinh thần của phương pháp tiếp cận hai mặt/kép của thị trường lao động đã được giới thiệu

ở trên Đây là vai trò chủ đạo cho dù các nước đang phát triển có trình độ phát triển không giống nhau Ở điểm này, chúng tôi tán thành các kết luận của Banerjee và Duflo (2012), theo đó, người nghèo buộc phải tự mình thành lập doanh nghiệp cho mình hơn là được lựa chọn để làm điều đó Kết luận chung này không mâu thuẫn với thực tế là khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức ở các nước có mức độ đa dạng rất lớn, điều này được khẳng định trong nhiều phần của ấn phẩm Cuối cùng, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ là một việc cần làm, cho dù đây là một nhiệm vụ nhiều khó khăn

Phân khúc việc làm giữa khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh

Nghiên cứu so sánh đặc điểm của người lao động trong hai khu vực chính thức và phi chính thức cũng như điều kiện làm việc và thu nhập của họ cho thấy kinh tế phi chính thức thường tiếp nhận lao động có trình độ tay nghề ở mức thấp nhất và lao động nhập cư, và việc làm trong khu vực này cũng có mức thu nhập thấp nhất (ngoài nông nghiệp) Đặc điểm cuối cùng là việc làm trong khu vực phi chính thức nhìn chung thường được coi là việc làm tạm thời trong khi chờ tìm được việc làm khác tốt hơn trong khu vực chính thức Như vậy có thể thấy, làm việc trong khu vực này thường là do bắt buộc chứ không phải là

Trang 15

lựa chọn tự nguyện nguyên do từ tình trạng thừa lao động ở các nước đang phát triển Kết quả này cho thấy cần phải nhìn nhận một cách tương đối những kết luận của nhiều nhà nghiên cứu ưu tiên sử dụng phương pháp tiếp cận

“pháp lí” trong trường hợp của châu Mỹ Latin (de Soto, 1994; Maloney, 2004)

R Maurizio (Phần 1.1) nghiêng về nghiên cứu mối quan hệ giữa vị thế phi chính thức, việc làm bấp bênh và phân phối thu nhập, cũng như mối quan

hệ giữa tính phi chính thức trong lao động và nghèo đói Nghiên cứu được tác giả thực hiện tại bốn nước Mỹ Latin (Argentina, Brasil, Chile và Peru) Từ nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra kết luận là có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa phi chính thức và nghèo đói Người lao động phi chính thức (kể cả những người làm việc trong lĩnh vực phi chính thức và những người làm công ăn lương nhưng không có đăng ký) có trình độ học vấn trung bình thấp hơn người lao động trong khu vực chính thức Đặc điểm chính của lao động trong khu vực này là số lượng lao động trẻ và lao động nữ nhiều hơn, chủ yếu làm việc nhiều hơn trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, xây dựng và giúp việc

“Việc phân bổ thành phần” như vậy có tác động tiêu cực tới thu nhập của việc làm phi chính thức Chênh lệch về mức lương giữa hai khu vực còn có nguyên nhân là sự chênh lệch trong năng suất giữa người lao động thuộc hai khu vực tính theo mỗi đặc điểm được sử dụng cho phân tích so sánh, điều này đặc biệt đúng ở hai nước Argentina và Peru Khoảng cách chệnh lệch như vậy cho thấy dường như có hiện tượng phân tán trên thị trường lao động, với biểu hiện là người lao động phi chính thức không tiếp cận được việc làm chính thức vốn

có mức thu nhập cao hơn

M Razafindrakoto, F Roubaud và J.-M Wachsberger (Phần 1.2) phân tích các yếu tố quyết định tới việc làm trong lĩnh vực phi chính thức (tự lựa chọn/bắt buộc) ở Việt Nam trên cơ sở mức độ hài lòng trong công việc và các

dự định chuyển sang làm việc khác Cách tiếp cận độc đáo này giúp mở rộng tiêu chí tiếp cận, không chỉ dừng lại ở tiêu chí duy nhất là mức thu nhập, thậm chí là một số điều kiện làm việc, mà còn tính đến tất cả các phương diện liên quan đến việc làm, trong đó có cả mối liên hệ với các hoạt động khác ngoài việc làm Theo đó, việc làm trong khu vực phi chính thức vừa có mức thu nhập thấp nhất (ngoài nông nghiệp), vừa có mức độ hài lòng thấp nhất (tương đương với việc làm nông) Thông thường, đó là những việc làm đặt ở “mức thấp nhất trong các nấc thang công việc” mà người lao động bắt

Trang 16

buộc phải làm chứ không phải chủ động lựa chọn (khi họ thoát khỏi việc làm nông) Chính vì vậy, rất nhiều người lao động trong khu vực này, dù là tự làm chủ hay làm thuê – và nhất là trong trường hợp người lao động làm thuê - đều mong muốn thay đổi công việc, và tốt nhất là tìm được các công việc an toàn hơn trong khu vực chính thức

Nguyễn Hữu Chí (Phần 1.3) nghiên cứu so sánh thực tế trong việc lựa chọn lĩnh vực hoạt động và thu nhập của người lao động ngoại tỉnh với người lao động nội thị ở các đô thị thuộc Đồng bằng sông Hồng Kết quả của nghiên cứu cho thấy nhìn chung người lao động trong khu vực phi chính thức đều chịu thiệt thòi, cho dù họ có phải là người lao động ngoại tỉnh hay không

và người lao động từ các vùng nông thôn thường chịu thiệt thòi nhiều nhất Ngoài ra, theo mô hình di cư xác suất của Harris và Todaro (1970), việc làm phi chính thức thường là một lựa chọn tạm thời của người lao động nhập cư trong khi chờ đợi tìm được một việc làm có thu nhập tốt hơn Chiến lược lựa chọn này được khẳng định qua câu trả lời của họ đối với các câu hỏi tìm hiểu

về vấn đề này Cuối cùng và theo phân tích ở phần trước về người lao động trong khu vực phi chính thức nói chung, thu nhập mỗi tháng càng cao, người lao động ngoại tỉnh càng ít muốn thay đổi công việc

Sự tham gia của khu vực phi chính thức trong kinh tế chính thức được hai tác giả S Fanchette và Nguyễn Xuân Hoản nghiên cứu thông qua trường hợp các làng nghề truyền thống ở Đồng bằng sông Hồng (thuộc khu vực Hà Nội) (Phần 1.4) Sử dụng phương pháp tiếp cận địa lí, chủ yếu mang tính định tính, hai tác giả nhấn mạnh đặc điểm ranh giới không rõ ràng giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức do có sự liên kết chặt chẽ các doanh nghiệp siêu nhỏ ở các làng nghề Mối liên kết này giúp cho các doanh nghiệp nhỏ, thông qua hoạt động gia công thuê, tham gia vào hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủ công nghiệp (dệt may, đồ gỗ, gốm sứ, v.v.) Đây là trường hợp điển hình cho việc áp dụng phương pháp tiếp cận mang tính “cơ cấu” Tuy nhiên, việc liên kết hai khu vực chính thức và phi chính thức như vậy nói chung chưa phổ biến ở Việt Nam, ngoài trường hợp điển hình của các làng nghề (Cling và những người khác, 2010), trong khi trước đây người ta vẫn nghĩ rằng ở các nước châu Á có mức tăng trưởng cao, khu vực phi chính thức tham gia hoàn toàn vào tiến trình đi lên của nền kinh tế thông qua các liên kết hoạt động gia công thuê cho các doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 17

Các ràng buộc về kinh tế, thể chế và xã hội

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự đa dạng của khu vực phi chính thức, với số lượng lớn các cơ sở tư nhân có quy mô, hiệu suất kinh tế, điều kiện hoạt động, v.v hoàn toàn khác nhau (Guha-Khasnobis và Kanbur, 2006) Như vậy có thể thấy trong khu vực phi chính thức có sự phân hóa đa dạng với việc song song tồn tại của nhóm các cơ sở tư nhân có quy mô và hiệu suất kinh tế lớn và nhóm doanh nghiệp thấp hơn (chiếm đa số), thường là các cơ

sở nhỏ hoạt động trong các điều kiện bấp bênh Các cơ sở thuộc nhóm thấp hơn này thường phải hoạt động trong những điều kiện cực đoan và khó tham gia vào nhóm doanh nghiệp lớn, nguyên nhân chính là do thị trường đào tạo nghề và thị trường vốn chưa hoàn thiện (khó khăn trong huy động vốn, tiếp cận tín dụng) Ngoài những ràng buộc về kinh tế còn phải kể đến các ràng buộc về mặt thể chế xét theo phương pháp tiếp cận mang tính “pháp lí” (ví dụ tham nhũng), các vấn đề về thể chế khiến cơ sở phi chính thức không muốn thực hiện đăng ký để không phải chịu các quy định pháp lí quá cứng nhắc hoặc thoát khỏi tình trạng tham nhũng Phần này cũng phân tích mối liên

hệ giữa khu vực phi chính thức và vốn điều lệ Cho đến nay, vấn đề này mới chỉ được đề cập chủ yếu bởi các nhà nhân học trong khi các chuyên gia kinh

tế vẫn còn ít nghiên cứu đến Các mối liên hệ về mặt xã hội cũng có thể có tác động tích cực (nếu các mạng lưới quan hệ giúp bổ sung cho những gì còn chưa hoàn thiện của thị trường lao động và thị trường vốn) hoặc tiêu cực – nếu xét trong trường hợp có sự đoàn kết bắt buộc và áp đặt chứ không phải tự nguyện giữa các thành viên trong gia đình Chương hai này phân tích tính đa dạng của khu vực phi chính thức trong mối liên hệ với các ràng buộc về kinh

tế, thể chế và xã hội Địa bàn thực hiện các nghiên cứu giới thiệu trong phần này là khu vực châu Phi cận Sahara

Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật trong khu vực phi chính thức tại Madagascar do F H Rakotomanana thực hiện (Phần 2.1) dựa trên phương trình hồi quy phân vị cho thấy các cơ sở sản xuất phi chính thức thường có hiệu quả thấp: cùng một nguồn lực như nhau, có thể tăng gấp ba sản lượng với điều kiện gỡ bỏ các ràng buộc liên quan đến cung (khả năng tiếp cận vốn,

có cơ sở nhà xưởng sản xuất phù hợp, v.v ) và đào tạo nghề Các cơ sở kinh doanh và cơ sở do phụ nữ làm chủ thường có hiệu suất kinh tế thấp nhất Kết quả kinh doanh có vẻ rất ổn định trong hai năm nghiên cứu (2001 và 2004)

Trang 18

P Nguetse Tegoum (Phần 2.2) tập trung nghiên cứu vào điểm cuối này, thông qua việc đánh giá hiệu quả đóng góp của giáo dục trong khu vực phi chính thức ở Cameroun với phương pháp đối sánh và mô hình lựa chọn có tính đến các đặc điểm không thể quan sát được Các đánh giá của nghiên cứu này cho thấy tác động quan trọng của giáo dục tới thu nhập của người lao động trong khu vực phi chính thức Hoàn thành tốt chương trình giáo dục cơ sở (trước khi tham gia thị trường lao động hoặc sau khi quay lại trường học) giúp tăng thu nhập cho người lao động từ 20% - 33% Hơn nữa, xác suất phải làm việc trong khu vực phi chính thức giảm đi khi trình độ học vấn tăng lên

E Lavallée và F Roubaud (Phần 2.3) đã chỉ ra rằng, xét về tổng thể,

có ít cơ sở phi chính thức có liên quan tới tham nhũng ở khu vực Tây Phi Tuy nhiên, tỉ lệ cơ sở có dính líu đến tham nhũng tăng lên 37% nếu chỉ xét các cơ sở có liên hệ với các cơ quan nhà nước trong năm qua Các cơ sở phi chính thức có quy mô lớn hơn, hoạt động trong lĩnh vực giao thông thường phải gặp các hiện tượng tham nhũng nhiều nhất Mặt khác, đóng thuế4để đổi lấy các dịch vụ công giúp cải thiện được hiệu suất kinh tế của mình Cuối cùng, việc cơ sở không thực hiện đăng ký thường có liên quan tới việc không nắm rõ quy định nhiều hơn là tới việc cố tình không đăng ký để không phải dính líu tới tham nhũng, điều này trái với nhận định đưa ra từ phương pháp tiếp cận mang tính “pháp lí”

Hai phần tiếp theo nghiên cứu ảnh hưởng của các mối quan hệ gia đình tới khu vực phi chính thức tại khu vực Tây Phi, ảnh hưởng này được phân tích theo chiều kích không gian (mạng lưới quan hệ xã hội) và thời gian (quan hệ liên thế hệ) M Grimm, F Gubert, O Koriko, J Lay và C J Nordman (Phần 2.4) phân tích kỹ hơn tác động của “tình đoàn kết bắt buộc” mà những người trong gia đình còn ở lại làng áp đặt đối với những người ra thành phố làm ăn Khoảng cách địa lí giữa nơi ở và nơi sinh được sử dụng để đánh giá lượng tiền gửi về cho gia đình Theo nghiên cứu này, quan hệ gia đình càng ít chặt chẽ thì việc

sử dụng vốn con người càng nhiều Ngược lại, quan hệ gia đình họ hàng tồn tại trong phạm vi một đô thị sẽ làm tăng lượng vốn và lao động được sử dụng và như vậy sẽ các quan hệ đó sẽ có vai trò tương hỗ

4 Vì không đăng ký nên các cơ sở phi chính thức không đóng thuế lợi nhuận hoặc thuế doanh thu Ngược lại, họ lại đóng các loại thuế địa phương (trong trường hợp hoạt động ổn định ở một địa phương)

Trang 19

L Pasquier-Doumer (Phần 2.5.) bổ sung việc phân tích các yếu tố có tác động quyết định tới quyết định lựa chọn công việc trong khu vực phi chính thức bằng yếu tố quan hệ liên thế hệ Tác giả xuất phát từ thực tế là có tồn tại mối tương quan chặt chẽ về vị thế phi chính thức giữa các thành viên liên thế hệ Nghiên cứu này chỉ ra rằng, trái với kết quả quan sát được ở các nước phát triển, yếu tố lí giải cho sự tồn tại của mối tương quan này không phải

là do cha mẹ truyền lại cho con cái các năng lực về quản lí, về vốn con người hoặc vốn kinh doanh Do vậy, có bố làm kinh doanh cũng không mang lại lợi thế so sánh cho con cái, xét về hiệu suất kinh tế Ngược lại, nếu các chủ cơ

sở phi chính thức kế nghiệp gia đình thì lại có lợi thế so sánh Có thể suy ra rằng, việc tham gia vào khu vực phi chính thức là lựa chọn tự nguyện của các chủ doanh nghiệp, những người được thừa hưởng từ các thế hệ trước hoặc có thể dựa vào truyền thống của gia đình

Sự năng động vi mô – vĩ mô và nghèo đói

Về dài hạn, điều này cũng được F Bourguignon nhận định trong phần dẫn nhập Có thể dự báo là mức độ phát triển của đất nước sẽ dẫn đến giảm dần tỉ trọng của kinh tế phi chính thức trong nền kinh tế quốc dân Trường hợp của các nước phát triển với việc kinh tế phi chính thức chiếm vị trí không đáng kể, là một minh họa cho nhận định này Câu hỏi đầu tiên mang tính chất kinh tế vĩ mô liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

sự vận động của khu vực phi chính thức Việc phân tích thị trường lao động hoàn toàn có thể mở rộng sang phân tích tính năng động của việc làm, từ đó thiết lập mối liên hệ giữa sự vận động của khu vực chính thức/phi chính thức

và môi trường kinh tế vĩ mô (Bacchetta và những người khác, 2009) Sự phân hóa dẫn tới việc một số lao động trong khu vực phi chính thức không nhận được một mức thu nhập đủ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân hoặc nhu cầu của gia đình Như vậy, vị thế phi chính thức chính là một yếu tố đặc thù trong hoàn cảnh nghèo đói của các hộ gia đình và mối liên hệ giữa vị thế phi chính thức và nghèo đói ở đây được nghiên cứu theo cả hai phương pháp tiếp cận kinh tế vĩ mô và vi mô

F Verdera (Phần 3.1) phân tích sự vận động của việc làm trong khu vực phi chính thức ở các đô thị khu vực Nam Mỹ (10 nước) giai đoạn 1970-2008 Theo chúng tôi biết, đây là nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu dữ liệu thời gian

Trang 20

cho toàn châu lục Nghiên cứu này cho thấy trong những năm 1990, giai đoạn hậu cải cách cơ cấu và kinh tế tăng trưởng kém, việc làm trong khu vực phi chính thức có mức tăng mạnh Ngược lại, nửa sau thập kỷ những năm

2000 cho tới khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tỉ trọng việc làm của khu vực phi chính thức giảm, do GDP tăng mạnh Đánh giá kinh tế lượng cho thấy việc làm trong khu vực phi chính thức có mối tương quan tỉ lệ nghịch với tăng trưởng GDP và tương quan tỉ lệ thuận với mức tăng của dân số trong

độ tuổi lao động, tỉ lệ việc làm và năng suất lao động Như F Bourguignon trong ấn phẩm này đã nhận xét, lí do trước hết của tình trạng gia tăng việc làm trong khu vực phi chính thức chính là tình trạng thiếu tăng trưởng ở khu vực Nam Mỹ từ những năm 1970

F Groisman (Phần 3.2) nghiên cứu sự vận động của việc làm và thu nhập

ở Argentina giai đoạn đầu những năm 2000, đây là giai đoạn tăng trưởng kinh tế đang dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng nghiêm trọng xảy ra vào đầu thập kỷ Tỉ trọng việc làm trong khu vực chính thức (chiếm gần 40 % tổng

số việc làm) vẫn giữ nguyên mức từ đầu những năm 1990 Ngược lại, tỉ trọng việc làm của khu vực phi chính thức (khoảng 55 % tổng số việc làm) lại tăng lên dưới tác động kết hợp của các chương trình cải cách cơ cấu và sau đó là khủng hoảng kinh tế Sau đó tỉ trọng này lại giảm nhờ kinh tế phục hồi, đồng thời tỉ lệ nghèo tuyệt đối vốn trước đây tăng lên mức hơn 50% trong giai đoạn ngay sau khủng hoảng cũng đã giảm Tuy nhiên, các hộ gia đình thuộc nhóm nghèo nhất ít được hưởng lợi từ tăng trưởng, trong khi tình trạng bất bình đẳng không thay đổi: ít tiếp cận với việc làm, nếu có thì thường là việc làm chất lượng thấp ở trong khu vực kinh tế phi chính thức; việc làm và thu nhập thường bấp bênh với mức độ cao hơn mức độ bấp bênh trung bình, do vậy họ thường là những đối tượng dễ bị tổn thương ở mức cao

X Oudin (Phần 3.3) phân tích sự vận động của thị trường lao động Thái Lan trong giai đoạn dài 35 năm từ năm 1970 đến năm 2005 Trong suốt giai đoạn tăng trưởng và công nghiệp hóa mạnh – giai đoạn bị ngắt quãng do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997–, việc làm trong khu vực phi chính thức có xu hướng giảm Kể từ khi xảy ra khủng hoảng, tỉ trọng tương đối của khu vực phi chính thức trong tổng số việc làm có xu hướng ổn định,

mà nguyên nhân có liên quan tới tình trạng suy giảm tăng trưởng Mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm trong khu vực phi chính thức phù

Trang 21

hợp với kết quả nghiên cứu thực hiện tại khu vực châu Mỹ Latin cũng được giới thiệu trong phần này Tuy nhiên, các điều tra tiểu sử do tác giả thực hiện cũng cho thấy có hiện tượng di cư lao động rất mạnh (đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức), cũng như có sự chuyển dịch mạnh giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức Theo các điều tra tiểu sử đã được thực hiện, người lao động Thái Lan vẫn tiếp tục thể hiện thái độ không thích làm việc trong lĩnh vực làm công ăn lương đi kèm với mong muốn độc lập rất mạnh mẽ, mong muốn này có thể được thỏa mãn nếu họ tự mở một hoạt động kinh doanh hoặc làm ăn trong lĩnh vực phi chính thức

Nghiên cứu của J Herrera và N Hidalgo (Phần 3.4) thực hiện tại Peru tiếp tục đi sâu hơn những nội dung trong phần trước, với chủ đề về chuyển đổi trên thị trường lao động Nghiên cứu này được thực hiện với phương pháp tiếp cận kinh tế vi mô trên cơ sở các dữ liệu thu thập dài hạn từ các điều tra hộ gia đình Được thực hiện trong giai đoạn 2002-2010, nghiên cứu này đã chỉ ra sự

đa dạng rất lớn của các cơ sở trong khu vực phi chính thức, với một số lượng nhất định các cơ sở có thu nhập khá cao nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều các

cơ sở nghèo Như đã thấy ở phần trước, nhìn chung ở khu vực châu Mỹ Latin,

tỉ trọng của khu vực phi chính thức trong tổng việc làm giảm trong giai đoạn những năm 2000 (tuy nhiên năm 2010, tỉ trọng của việc làm phi chính thức vẫn cao hơn mức của năm 2002) Ở cấp độ vi mô, tỉ lệ phá sản và tỉ lệ thành lập mới của các cơ sở sản xuất phi chính thức (viết tắt tiếng Pháp là UPI) rất cao (khoảng 35 % năm 2010), lưu ý là việc chủ một cơ sở sản xuất phi chính thức bị rơi vào cảnh nghèo hoàn toàn có liên quan đến việc cơ sở đó bị phá sản, theo mô hình đa thức logit Kết quả này nêu lên mối liên hệ chặt chẽ giữa nghèo đói và khu vực phi chính thức và đặt ra vấn đề là các chính sách phát triển cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức, đồng thời tăng năng suất cho khu vực phi chính thức Hiện nay, triển vọng này còn ít được quan tâm trong các chính sách công, đây là chủ đề được phân tích sâu hơn trong chương cuối của ấn phẩm

Chính sách nào cần được đưa ra?

Chính do cách nhìn đơn giản hóa được nhắc đến ở trên còn rất phổ biến, theo đó sự phát triển kinh tế sẽ xóa bỏ dần kinh tế phi chính thức, mà các

Trang 22

chính sách kinh tế ở đa số các nước đang phát triển còn chưa chú ý đến khu vực phi chính thức

Chính cách nhìn như vậy đã dẫn đến tình trạng chú trọng nhiều đến tăng trưởng và hiện đại hóa kinh tế hơn là đến việc tìm cách giúp đỡ, hỗ trợ cho một khu vực đang có nguy cơ biến mất khỏi nền kinh tế Ngoài ra, các chính sách dành cho khu vực phi chính thức hiện đang phải đối mặt với một mâu thuẫn khó giải quyết, ít nhất là xét theo biểu hiện bề ngoài: liệu có nên hỗ trợ cho khu vực phi chính thức khi mà sự hỗ trợ đó có nguy cơ khiến cho khu vực này càng phình ra hay không? Hoặc có nên thúc đẩy việc chuyển dịch khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức để cải thiện năng suất và thu nhập (và đánh thuế các thu nhập đó) Lưu ý là quá trình chuyển đổi như vậy là một quá trình dài hơi (vì những lí do mang tầm kinh tế vĩ mô và vi mô được tranh luận trong suốt phần dẫn nhập này) Cuối cùng, xác định chính sách nào sẽ được áp dụng cũng phụ thuộc vào kết quả chẩn đoán đâu là các yếu

tố quyết định tới việc làm trong khu vực phi chính thức Theo phương pháp tiếp cận kép, cần phải khuyến khích việc thành lập và phát triển các doanh nghiệp chính thức Theo phương pháp tiếp cận mang tính cơ cấu, chính sách cần áp dụng lại là cải thiện việc tuân thủ hệ thống các quy định pháp luật Còn phương pháp tiếp cận mang tính pháp lí lại đề xuất giảm bớt các quy định

và giảm phí đăng ký Nội dung của phần này quan tâm đến các chính sách dành cho khu vực phi chính thức, lưu ý là toàn bộ chương cuối sẽ được dành cho vấn đề về việc làm phi chính thức

M Bacchetta, E Ernst và J Bustamante (Phần 4.1) giới thiệu bức tranh tổng thể về mối liên hệ giữa toàn cầu hóa và việc làm phi chính thức ở các nước đang phát triển Trong phần một, các tác giả chỉ ra rằng không có quan

hệ đơn thuần giữa việc quốc tế hóa một nền kinh tế và sự thay đổi của việc làm trong khu vực phi chính thức Trong phần hai, các tác giả đã nêu ra bốn kênh ảnh hưởng của thị trường lao động phi chính thức tới các kết quả kinh

tế vĩ mô Ba kênh đầu tiên có ảnh hưởng nhìn chung là tiêu cực, theo đó, vị thế phi chính thức có xu hướng thu hẹp sự đa dạng trong xuất khẩu, hạn chế quy mô và năng suất của cơ sở và làm tăng tính dễ bị tổn thương và tình trạng nghèo đói Theo nghiên cứu này, kênh duy nhất có thể có tác động tích cực có liên quan đến việc cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ hơn, đặc biệt trong phạm vi các sản phẩm gia công thuê cho khu vực chính thức

Trang 23

Các đề xuất chính sách kinh tế mà các tác giả đưa ra rất khái quát nhưng cũng mang tính đổi mới Một mặt, cần khuyến khích việc chuyển dịch khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức thông qua việc cải thiện hoạt động truyền thông, cải cách và đơn giản hóa các thủ tục thuế, đồng thời cần phải đảm bảo các dịch vụ bảo hiểm xã hội cơ bản cho những người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức Ngoài ra nâng cao ý thức tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về lao động trong khu vực kinh tế chính thức cũng sẽ có tác động tích cực tới kinh tế phi chính thức Cuối cùng, tăng cường phối hợp cải cách thương mại và chính sách lao động việc làm cũng là một biện pháp cần thiết

J.-P Cling, M Razafindrakoto và F Roubaud (Phần 4.2) chỉ ra rằng, mặc dù kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, nhưng khu vực phi chính thức vẫn tiếp tục tồn tại trong nền kinh tế Đây là nguồn việc làm phi nông nghiệp quan trọng Tỉ trọng của khu vực này còn có xu hướng tăng lên cùng với quá trình chuyển đổi nông nghiệp Các tác giả cũng nêu lên thực tế là kinh tế phi chính thức rất dễ bị tác động từ các cú sốc kinh tế vĩ mô do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới Khu vực phi chính thức đóng vai trò giải tỏa căng thẳng trên thị trường lao động, đặc biệt nhờ số lượng việc làm tạo ra trong khu vực này tăng lên, ngoài

ra tỉ lệ người lao động kết hợp làm nhiều công việc cũng tăng lên

Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng khu vực này đã không được chú trọng trong các chính sách hỗ trợ kinh tế được đưa ra sau khủng hoảng Các tác giả khuyến cáo cần phải chính thức công nhận sự tồn tại và vai trò của khu vực phi chính thức (điều này đòi hỏi phải đưa ra được một định nghĩa đồng nhất về khu vực này), tăng cường sự minh bạch và đơn giản hỏa thủ tục đăng ký và áp dụng các chính sách phù hợp dành riêng cho khu vực này, và các chính sách hiệu quả nhất phải được xây dựng trên cơ sở các thông tin dữ liệu chính xác, cụ thể Hai phần cuối của ấn phẩm quan tâm đến việc thực hiện cụ thể các chiến lược đó tại Việt Nam A Salvini (Phần 4.3) nhất mạnh một điểm là lần đầu tiên chiến lược quốc gia về việc làm giai đoạn 2011-2020 được Chính phủ Việt Nam thông qua đã tính đến những thách thức trong lĩnh vực việc làm phi chính thức, trên cơ sở các nghiên cứu phân tích của ILO và các tác giả của các nghiên cứu giới thiệu trong ấn phẩm Qua các nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu đều nỗ lực để làm sao hướng tới được mục tiêu này Cụ thể, Chiến lược quốc gia về việc làm của Việt Nam đặt mục tiêu giảm tỉ trọng việc làm phi chính thức và cải thiện các dịch vụ bảo hiểm xã hội cho người lao động

Trang 24

Chiến lược này hướng đến mục tiêu hài hịa với các chính sách kinh tế chung

về tăng trưởng và xĩa đĩi giảm nghèo Ngồi ra, Chiến lược này cũng tuân thủ các nguyên tắc đưa ra trong Cơng ước 122 của ILO mà Việt Nam vừa ký, trong đĩ cĩ nguyên tắc phải thiết lập đối thoại giữa người lao động, người

sử dụng lao động và cơng đồn cũng như các bên cĩ liên quan (kể cả đối với trường hợp người sử dụng lao động là chủ cơ sở phi chính thức) về các chính sách lao động và việc làm Hiện các chương trình và biện pháp cụ thể đang được chuẩn bị vào thời điểm các đường hướng lớn này được xây dựng

Cuối cùng, P Castel (Phần 4.4.) quan tâm đến vấn đề bảo hiểm xã hội (y tế

và hưu trí) tại Việt Nam Tuy nhiên, các kết luận tác giả đưa ra nằm ở tầm rộng hơn Tại Việt Nam, một đất nước mới trở thành nước cĩ thu nhập trung bình năm 2010, vấn đề bảo hiểm xã hội trở thành một vấn đề đặc biệt quan trọng Việc thu nhập được cải thiện, đồng nghĩa với việc mức đĩng bảo hiểm xã hội cũng sẽ tăng lên Nếu xét định nghĩa của việc làm phi chính thức đưa ra ở trên (việc làm khơng cĩ bảo hiểm xã hội), cĩ thể thấy mở rộng đối tượng được bảo hiểm xã hội sẽ giảm được việc làm phi chính thức Nghiên cứu này quan tâm đến cả các doanh nghiệp chính thức và cơ sở phi chính thức, tức là hai thành phần tạo ra việc làm phi chính thức Rất nhiều doanh nghiệp chính thức cĩ xu hướng khai báo mức lương thấp hơn để giảm, thậm chí trốn đĩng bảo hiểm xã hội Phân tích thực tế cho thấy, người lao động thường xuyên chấp nhận điều này vì tương quan chi phí/lợi ích thu được từ việc đĩng phí bảo hiểm xã hội khơng khuyến khích họ tham gia Một trong các giải pháp đề xuất là hỗ trợ tiền đĩng bảo hiểm xã hội cho người lao động

Tài liệu tham khảo 5

Bacchetta, M., E Ernst et J.P Bustamante (2009), Globalization and Informal Jobs in Developping Countries, ILO et OMC, Genève

Banerjee, A et E Duflo (2012), Repenser la pauvreté, Le Seuil, Paris

Cling, J.P., T.T.H Nguyen, H.C Nguyen, T.N.T Phan, M Razafindrakoto et

F Roubaud (2010), The Informal Sector in Vietnam ; A focus on Hanoi and

Ho Chi Minh City, The Gioi Publisher, Hanọ

5 Những độc giả quan tâm đến các phương pháp luận trong nghiên cứu về kinh tế phi chính thức cĩ thể tìm đọc các tham luận trình bày tại phiên tồn thể và lớp học chuyên đề về chủ đề này trong khuơn khổ của Khố học mùa hè Tam Đảo được tổ chức thường niên từ năm 2007 (Xem website: www.tamdaoconf.com).

Trang 25

Guha-Khasnobis, B Kanbur Et R Kanbur (Dir.) (2006), Informal Labor Markets and Development, Palgrave McMillan, Londres.

Harris, J.R et M.P Todaro (1970), “Migration, Unemployment and Development: a Two-Sector Analysis”, American Economic Review 60(1) pp 126-142

Jutting, P et J.R De Laiglesia (Dir.) (2009), L’emploi informel dans les pays en développement ; une normalité indépassable ? OCDE, Centre de développement, Paris

Lewis, W A (1954), “Economic Development with Unlimited Supplies of Labour”, Manchester School 28(2), pp 139-191

Maloney, W (2004), “Informality Revisited”, World Development 32 (7),

Portes, A., M Castells et L.A Benton (1989), The Informal Economy: Studies in Advanced and Less Developed Countries, The John Hopkins University Press, Baltimore

Roubaud, F (1994), L'économie informelle au Mexique: de la sphère domestique à la dynamique macro-économique, Karthala/Orstom, Paris.Soto (DE), H (1994), L’autre sentier, La Découverte, Paris (édition originale parue en espagnol en 1986)

Trang 26

Đề dẫn

Hà Nội-Paris, 14 tháng Tư 2010

Martin Rama: Tôi rất vui mừng giới thiệu Giáo sư François Bourguignon

là chuyên gia toàn cầu trong lĩnh vực kinh tế học phát triển Ông là Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới 2 từ năm 2003 đến 2007 Trong những năm này, ông đã đưa ra thảo luận một số vấn đề hàng đầu của thế giới về sự phát triển, bao gồm nghiên cứu về bất bình đẳng và đặc biệt đánh giá ảnh hưởng của các chính sách phát triển Cả hai vấn đề trên đều là mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế học phát triển Giáo sư Bouguignon cũng được nhiều người biết đến trong giới học thuật Ông là người sáng lập nhóm DELTA danh tiếng tại Paris và hiện tại ông là người đứng đầu Trường Kinh

tế Paris Ông cũng là Tổng Biên tập của Thời báo Kinh tế châu Âu và đã xuất bản nhiều bài báo về vấn đề kinh tế và phát triển Vì vậy thật là vinh dự cho chúng ta khi được Giáo sư Bourguignon chia sẻ quan điểm về những vấn đề liên quan đến khu vực kinh tế phi chính thức cho cuộc hội thảo quốc tế về khu

1 Cuộc phỏng vấn do Martin Rama (Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, Jean-Pierre Cling, Mireille Razafi ndrakoto và François Roubaud (Viện Nguyên cứu Phát triển, DIAL, Hà Nội) thực hiện qua hội thảo cầu truyền hình Những người phỏng vấn cảm ơn đội ngũ nhân viên Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội và tại Paris về việc tổ chức hội nghị truyền hình này và đặc biệt cảm ơn Nicolas Meyer (Viện Ngân hàng Thế giới tại Paris).

2 Tên gọi đầy đủ của chức vụ này là “Phó tổng giám đốc phụ trách phát triển và kinh tế học”, là cấp bậc quản lí cao nhất về chuyên môn trong Ngân hàng Thế giới.

Trang 27

vực kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức được tổ chức tại Hà Nội ngày 6 và 7 tháng Năm năm 2010

Thưa Giáo sư Bourguignon, chúng tôi có một vài câu hỏi Đây là câu hỏi thứ nhất

Mireille Razafindrakoto: Thưa Giáo sư Bourguignon, để mô tả khu vực

kinh tế phi chính thức, chúng ta có thể nói rằng trước đây khu vực kinh tế phi chính thức là một khái niệm thực tiễn và được coi là khu vực gây phiền toái, tụt hậu và thiếu kết nối; nó sẽ biến mất cùng với công nghiệp hoá thành công

và đất nước phát triển Nhưng ngày nay nhiều quan điểm khác đã chiếm ưu thế Ở mức độ vi mô, một số chuyên gia cho rằng làm việc ở khu vực kinh tế phi chính thức có thể là sự lựa chọn thực sự và thận trọng, không nhất thiết

là một sự lựa chọn ép buộc do thiếu cơ hội việc làm trong khu vực chính quy hiện đại Vậy ông giải thích những quan điểm khác biệt này như thế nào?

François Bourguignon: Cảm ơn rất nhiều về câu hỏi của chị Trước hết,

xin nói rằng tôi rất vui được tham dự cuộc hội thảo này mặc dù qua cầu truyền hình Đáng lẽ tôi có mặt ở Hà Nội thì tốt hơn Tôi đã không đến Việt Nam được và tôi rất xin lỗi vì lịch làm việc không cho phép tôi đến Hà Nội lần này Nào, hãy đi vào chủ đề rất quan trọng này, chủ đề phi chính thức mà lại hiện diện trong kinh tế học phát triển mãi mãi Chúng ta phải nhớ rằng,

về cơ bản, khu vực phi chính thức là đội quân dự bị mà chúng ta tìm thấy ở học thuyết Marx và cũng là nguồn cung lao động vô hạn mà ta tìm thấy trong

mô hình rất nổi tiếng của Arthur Lewis Điều quan trọng trong khái niệm phi chính thức này đi liền với đói nghèo và chống lại phi chính thức cũng là chống lại đói nghèo Giảm khu vực phi chính thức là giảm đói nghèo Bây giờ, khi các bạn nói rằng đây là một khái niệm theo kinh nghiệm, tôi thực sự không tin điều này cho lắm Dường như đội quân dự bị mà tôi đề cập trước đây, tất cả định nghĩa của Lewis về tính hai mặt hay thuyết nhị nguyên còn hơn cả nền tảng trí tuệ, điều mà có rất nhiều ý nghĩa và rõ ràng tương xứng với thực tại Nhưng các thuyết gia này chưa bao giờ tự hỏi mình cái gì sẽ là nội dung theo kinh nghiệm của vấn đề này Bây giờ chúng ta có dữ liệu và cố gắng mô tả khu vực phi chính thức - và sau đó tôi nghĩ rằng trong cuộc thảo luận chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề là làm thế nào để định nghĩa về khu vực phi chính thức - nhưng bây giờ chúng ta có một số dữ liệu và đang thấy rằng mọi việc không đơn giản như mong muốn

Trang 28

Chúng ta thấy rõ rằng, khu vực kinh tế phi chính thức dường như không giảm một cách có hệ thống cùng với sự tăng trưởng ở các nước đang phát triển Đây thực sự là vấn đề nan giải vì chúng ta nghĩ rằng sự tăng trưởng

là giải pháp đầu tiên hoặc giải pháp quan trọng nhất thoát khỏi đói nghèo Chúng ta lại muốn thấy sự tăng trưởng có hệ thống sẽ dẫn tới giảm khu vực phi chính thức Sau đó mới nhận thấy rằng, điều này không phải hoàn toàn đúng Một lần nữa, cần phải quay lại vấn đề này với định nghĩa về khu vực phi chính thức Nhưng những gì chúng ta quan sát hôm nay là một sự thay đổi phù hợp với những suy nghĩ của những nhà kinh tế phát triển, đó là

sự dịch chuyển của hoạt động kinh tế từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị Có thể cho rằng, khu vực nông thôn là khu vực phi chính thức tại nhiều nước đang phát triển Quan điểm này đã làm yếu đi tầm quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thức Nhưng đồng thời - và đây chính

là những gì rắc rối trong quan sát của chúng ta - cũng có tăng khu vực phi chính thức ở thành thị hoặc ít nhất đã có tăng trưởng trong khu vực thành thị nơi mà chúng ta thấy cả khu vực chính thức và phi chính thức cùng tăng trưởng Vấn đề đặt ra là, khu vực phi chính thức ở thành thị nhiều hơn khu vực phi chính thức ở nông thôn và sau đó từ kết quả phân tích, bạn nói rằng trong khu vực phi chính thức có hai kiểu hành vi: có những người trong khu vực kinh tế phi chính thức sẽ làm bất cứ những việc gì có thể hay phải làm

ở khu vực chính thức và những người không thể có việc gì làm ở khu vực chính thức và họ phải nhận bất cứ việc làm gì trong khu vực kinh tế phi chính thức Và như chúng ta biết, rất khó có thể phân biệt giữa các trường hợp này Nhưng đó lại là hiện hữu và là câu hỏi quan trọng nhất Tôi muốn nói rằng, trong phân tích về khu vực phi chính thức thì cố gắng trả lời cho được câu hỏi đó

Jean-Pierre Cling: Tôi nghĩ rằng ông đã trả lời được câu hỏi về sự biến

động của khu vực kinh tế phi chính thức, nhưng không biết ông còn muốn

đi sâu hơn vấn đề này không vì nhiều người nghĩ rằng khu vực kinh tế phi chính thức sẽ dần biến mất khi đất nước phát triển Nhưng đây không phải những gì thực sự diễn ra tại các nước đang phát triển Việt Nam là một điển hình Chúng tôi đã đặt kế hoạch với các đồng nghiệp và những kế hoạch này gợi ý rằng, tỉ trọng của khu vực kinh tế phi chính thức trong toàn bộ việc làm sẽ tăng trong một vài năm tới và khu vực kinh tế phi chính thức đã là

Trang 29

khu vực tạo công ăn việc làm chủ yếu tại Việt Nam và ở đây cũng chưa tính đến sản xuất nông nghiệp Vậy ông phân tích tình huống này như thế nào?

François Bourguignon: Vậy câu hỏi là: Sự biến động của khu vực phi

chính thức là gì? Chúng ta mong đợi gì? Chuyện gì sẽ diễn ra và làm thế nào có thể giải thích những gì đã quan sát? Sự mong đợi một cách lí tưởng tất nhiên là tăng trưởng kinh tế sẽ loại bỏ nhanh chóng khu vực kinh tế phi chính thức Đây là ít nhiều những gì chúng ta đã quan sát ngày hôm nay tại các nước phát triển Trong lịch sử, chúng ta có thể thấy khu vực kinh tế phi chính thức ở châu Âu, khu vực kinh tế phi chính thức tại Mỹ và khi có sự tăng trưởng kinh tế thì các khu vực này dần dần biến mất Nhưng chúng ta cũng có thể nói rằng nó vẫn còn đó Các nhà xã hội học cho biết vẫn còn có khu vực kinh tế phi chính thức tại các nước này nhưng với quy mô rất nhỏ Tại sao nó không hoạt động? Tại sao ở các nước phát triển lại như vậy? Có nhiều cách giải thích cho điều đó Một giải thích cho rằng, có sự thay đổi về

kĩ thuật và công nghệ mới trong các khu vực phi nông nghiệp của nền kinh

tế nhưng với nhu cầu việc làm ngày càng ít đi Điều đó có nghĩa là, khu vực kinh tế chính thức có năng suất tăng nhưng tạo ít việc làm Chúng ta đã quan sát điều này tại nhiều nước Ví dụ, nếu nhìn vào Trung Quốc, sau cải cách và mở cửa vào những năm 1980, sự phát triển của khu vực sản xuất của Trung Quốc đã làm tăng thêm việc làm trong khu vực chính thức Ở chừng mực nào đó, việc làm tạo ra bởi khu vực sản xuất công nghiệp phục

vụ xuất khẩu ở Trung Quốc đã giảm đáng kể và ngày hôm nay hệ số co giãn giữa việc làm và năng suất trong sản xuất công nghiệp là rất thấp tại Trung Quốc Những gì ở đằng sau đó là sự thay thế của máy móc, kĩ thuật và công nghệ mới như đã đề cập ở trên

Nhưng cũng còn cách giải thích khác Tại nhiều nước, cụ thể là các nước thuộc châu Mỹ Latin, tăng trưởng đơn giản là không đủ nhanh để loại bỏ khu vực phi chính thức Một lần nữa, nếu xem xét trường hợp châu Âu sau Thế chiến thứ II thì nhất định vẫn tồn tại khu vực kinh tế phi chính thức nhưng

nó gần như biến mất sau khi nền kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng cực kỳ cao liên tục trong 26-30 năm

Điều này giải thích cho sự biến mất của khu vực kinh tế phi chính thức ở châu Âu Tại nhiều nước thuộc châu Mỹ Latin, tăng trưởng rất chậm chạp, vì thế khu vực phi chính thức vẫn còn quan trọng

Trang 30

Tiếp theo là một cách giải thích khác Có những người trong xã hội bị thu hút bởi khu vực kinh tế phi chính thức vì họ muốn trốn thuế, các khoản chi trả đóng góp cho bảo hiểm xã hội, v.v Phi chính thức có sức hút vì nó là một loại hình khác của tổ chức sản xuất kinh doanh và không phải loại hình dành cho tất cả các loại tổ thức sản xuất kinh doanh Tất nhiên, nếu bạn có một công ty lớn, thật khó có thể tưởng tượng rằng bạn sẽ thuộc khu vực kinh

tế phi chính thức Nhưng với một cơ sở sản xuất nhỏ, nhất là quy mô cá thể, gia đình thì khu vực kinh tế phi chính thức nhất định là một sự lựa chọn Một lần nữa, tại một số nước, chúng ta thấy rằng khu vực kinh tế phi chính thức

là một lựa chọn Xin kết thúc bằng cách nói rằng, tôi đã đọc một quyển sách

có đề cập khu vực phi chính thức tại Việt Nam và tôi thấy quyển sách đó rất hay Nó đã tóm lược rất tốt về những thắc mắc cơ bản về khu vực chính thức

và khu vực phi chính thức3 Tôi đã nghĩ rằng câu chuyện của Việt Nam về khu vực kinh tế phi chính thức cũng khá thú vị Nhưng, một vấn đề lớn trong quyển sách kia và trong một số tài liệu khác của châu Á là định nghĩa thế nào

là khu vực kinh tế phi chính thức vẫn còn bỏ ngỏ

Martin Rama: Ông đề cập đến định nghĩa làm nảy sinh ở chúng tôi một

câu hỏi về tính không đồng nhất của khu vực kinh tế phi chính thức Trên thực tế, có những người tình nguyện lựa chọn khu vực này và có cả những người bị ép buộc Thật khó biết được điều gì khiến những người khác nhau tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức Nó cũng có những hàm ý của định nghĩa Đáng chú ý là, trong khi có một số người nhất trí về định nghĩa cho biết, cho dù chúng ta có thể thảo luận ý nghĩa của tỉ lệ thất nghiệp là gì

ở các nước khác nhau thì phải có số liệu nhất quán của các nước khác nhau

về thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp Chúng ta không có có cơ sở để lí giải vấn

đề trong mối liên hệ với khu vực kinh tế phi chính thức Vì vậy, vấn đề được đặt ra là sự mờ nhạt và không đồng nhất của khu vực kinh tế phi chính thức Làm thế nào chúng ta có thể đồng thuận về định nghĩa và có những gợi ý nào cho chính sách và nghiên cứu?

François Bourguignon: Đây hoàn toàn là trọng tâm của toàn bộ cuộc

tranh luận Hôm trước tôi đang cố gắng có được một vài quan điểm về khu vực

3 Cling J.-P., Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thị Ngọc Trâm, Razafi ndrakoto M và Roubaud

F., 2010 Khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam: Kết quả điều tra tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà

xuất bản Thế giới, Hà Nội.

Trang 31

kinh tế phi chính thức ở một vài nước trên thế giới và công việc này đã hoàn thành Sau đó tôi tìm thấy một tờ báo viết về Trung Quốc có đề cập là, hầu hết việc làm được tạo ra ở Trung Quốc đều từ khu vực kinh tế phi chính thức Con số đưa ra khiến tôi không thể tin được vì nó rất lớn Sau đó tôi phải xem xét định nghĩa đã sử dụng Trong định nghĩa, về cơ bản, các công ty và tập đoàn không thuộc sở hữu nhà nước thì không có quan hệ mua bán công khai Điều này đưa đến định nghĩa của khu vực kinh tế chính thức là vô cùng hạn chế Ở Trung Quốc, tình huống trước đây là chỉ có các công ty thuộc sở hữu nhà nước được coi là khu vực kinh tế chính thức, còn lại đều hoàn toàn là phi chính thức Tiếp đến, ngày càng nhiều các công ty tư nhân kết hợp chặt chẽ với nhau, nhưng không nhất thiết giao dịch công khai Điều đó có nghĩa rằng, định nghĩa về phi chính thức ở đây khác với các quốc gia khác Ví dụ ở châu Mỹ Latin, định nghĩa dựa vào quy mô của cơ sở sản xuất nơi nhân công được thuê vào làm việc Hầu hết cơ sở sản xuất và kinh doanh tự làm chủ là phi chính thức Sản xuất ở hộ gia đình cũng được xếp vào khu vực kinh tế phi chính thức.

Vấn đề đặt ra là ngưỡng về mặt quy mô Quy mô đó là hai hay năm nhân viên? Chúng ta làm gì với các cửa hàng bán lẻ nhỏ nhưng có đăng kí chính thức và có ít nhân viên? Lĩnh vực này vô cùng khó Từ quan điểm đó tôi muốn nói rằng, có thể sẽ không có cách nào tốt để làm những so sánh mang tính chất quốc tế Vấn đề thực sự là nằm ở việc phân tích sự phát triển phi chính thức trong một quốc gia làm nên khái niệm kinh tế phi chính thức riêng hoặc giữ nguyên khái niệm kinh tế phi chính thức như nhiều người quan niệm Vì vậy mới có các cuộc điều tra về lực lượng lao động, giống như trường hợp của Việt Nam Nếu những cuộc điều tra này được tiến hành đều đặn trong một thời gian dài thì sẽ đánh giá được sự phát triển của khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức Nhưng điều thiết yếu là chúng ta phải có cách thu thập số liệu theo cách nhất quán Tôi nhớ rằng, tôi bắt đầu làm việc từ rất lâu (25 năm trước hoặc hơn) về khu vực kinh tế phi chính thức ở Columbia và tôi đã sử dụng kết quả các cuộc điều tra về lực lượng lao động Sau đó Cơ quan Thống

kê quyết định không đặt thêm câu hỏi nào về quy mô của các công ty Vì vậy, tôi đã không thể tiếp tục hoàn thành việc phân tích chuỗi phát triển của khu vực kinh tế phi chính thức tại Columbia Điều này khá quan trọng

Bây giờ, có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này Tôi biết rằng có một số vấn

đề đã được đề cập đến trong cuốn sách về Việt Nam mà tôi đã có nhắc đến

Trang 32

Một vài người cho rằng, cho dù các doanh nghiệp nhỏ và cơ sở sản xuất quy

mô gia đình có hợp đồng lao động hay không thì vẫn thuộc khái niệm kinh tế phi chính thức Dù có đóng bảo hiểm xã hội thì vẫn là một phần trong đó Tất

cả đều đáng bàn cãi Tôi đơn giản muốn kết luận điều này bằng việc đề cập đến một khái niệm mà tôi làm việc với anh Martin và đồng nghiệp Stefano Scarpetta khi tôi đang làm việc tại Ngân hàng Thế giới, và bây giờ là OECD tại Paris Chúng tôi viết một bài báo về “Những việc làm tốt, Những việc làm tồi” Tôi muốn nhắc đến một câu chuyện cũ về ILO, nơi mà chúng tôi nghĩ rằng có quan niệm đúng đắn và thú vị để xem xét về mặt thu nhập gắn liền với công việc Việc làm tốt là việc mà thu nhập cho phép bạn thoát khỏi đói nghèo nếu bạn sống trong một hộ gia đình điển hình; và một việc làm tồi cũng là một việc làm mà thu nhập từ nó không cho phép bạn thoát nghèo Chúng tôi đã nghĩ rằng đó là cách thú vị để xem xét khu vực chính thức hay phi chính thức của nền kinh tế, bởi vì bạn có việc làm tồi trong khu vực kinh tế chính thức

và việc làm tốt trong khu vực kinh tế phi chính thức và sự tương quan khá mạnh giữa chính thức - phi chính thức và việc làm tốt - việc làm tồi Đây là quan niệm bạn có thể sử dụng dễ dàng hơn và nếu bạn muốn so sánh mang tính chất quốc tế thì điều đó cũng có thể

François Roubaud: Xin cảm ơn Tôi muốn có một ý nhỏ: Ông có nói rằng,

25 trước đây ông làm việc tại Columbia và khu vực kinh tế phi chính thức trên thực tế đã có từ hơn 30 năm trước Đó là một thời gian dài và ông đã nhìn thấy sự phát triển của khu vực này, từ cả phía nghiên cứu lẫn chính sách Chúng ta đã bàn tới các yếu tố kinh tế, hành vi vi mô và vĩ mô và cũng

đã nói đến các khái niệm Bây giờ nói đến chính sách, cho dù không biết chính xác khu vực kinh tế phi chính thức là gì Có vài tranh luận về khái niệm Tôi nghĩ có ít nhất một điểm rõ ràng là việc làm trong khu vực này là những việc làm bấp bênh Hãy nói đến vấn đề bảo trợ và bảo hiểm xã hội cho người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức Việt Nam nói riêng và nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới đã bắt tay vào chương trình bảo hiểm xã hội Câu hỏi ở đây là làm thế nào để bảo vệ những nhân công khi họ là người lao động hưởng lương và làm thế nào với những người tự làm chủ trong khu vực kinh tế phi chính thức? Câu hỏi của tôi liên quan đến vấn đề này Việt Nam sẽ bảo hiểm bắt buộc cho những người lao động hưởng lương và là bảo hiểm tự nguyện đối với những người tự làm chủ Nhưng điều

Trang 33

này vận hành chưa tốt trong thời gian đầu Vì vậy ông có lời khuyên nào, ý tưởng nào về vấn đề này và có thể cho một vài ví dụ của một số nước thành công trong lĩnh vực này?

François Bourguignon: Vâng, cảm ơn rất nhiều về câu hỏi liên quan

đến chính sách, đây thực sự là câu hỏi quan trọng Liệu có thể làm một

số việc hỗ trợ cho khu vực phi chính thức và có thể nghĩ ra các chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng việc làm bấp bênh ở khu vực này? Tôi nghĩ đây

là một loại câu hỏi có mâu thuẫn vì nếu bạn nghĩ về chính sách giải quyết vấn đề việc làm ở khu vực phi chính thức thì đồng thời bạn có thể làm gia tăng khu vực chính thức; bởi vì đối với nhiều người lao động ở khu vực phi chính thức sẽ có phản ứng tự nhiên khi bị áp đặt một số quy định trong thị trường lao động, trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, thậm chí có trường hợp người sử dụng lao động và người lao động đều là một Vì thế bất cứ thay đổi nào trong môi trường chính sách cũng sẽ

có ảnh hưởng đến cả chính thức và phi chính thức Tôi không biết rõ về cách

mà trong đó vấn đề này được đưa ra đối với trường hợp của Việt Nam và các nước châu Á Tôi biết rõ hơn một chút về trường hợp của các nước thuộc châu

Mỹ Latin, cụ thể là trường hợp của Mexico, nơi mà vấn đề này đã vài lần thực sự trở thành trọng tâm của các cuộc tranh luận công khai Cuộc tranh luận về nội dung để giải thích nguyên nhân Ý tôi là điều gì khiến một ai

đó thích phi chính thức hơn là chính thức Có câu trả lời là, bởi vì người lao động ở khu vực kinh tế phi chính thức không muốn phải trả một số chi phí như trong khu vực kinh tế chính thức Vì lẽ đó người ta thích khu vực kinh

tế phi chính thức hơn Những chi phí đó là gì? Đó là đóng góp cho bảo hiểm

xã hội nói chung, hay bảo hiểm y tế nói riêng Bạn không thể nói rằng đây là chi phí đơn thuần Khi một người lao động hoặc người sử dụng lao động chi trả dù nhiều hay ít thì cũng giống nhau khi không có qui định về lương tối thiểu Khi một người lao động trong khu vực kinh tế chính thức chi trả khoản đóng góp cho bảo hiểm y tế thì họ có quyền lợi tương đương với sự đóng góp

đó Vì vậy, bạn có thể cho rằng hệ thống bảo hiểm y tế hoàn toàn trung lập với quan điểm của chuyên viên thống kê bảo hiểm - nếu mọi người chi trả chính xác những gì mọi người mong đợi từ hệ thống dịch vụ y tế - thì không

có vấn đề gì Đây hoàn toàn là sự vận hành trung lập Ai đó đóng bảo hiểm

sẽ nhận được dịch vụ y tế khi bị ốm Liên quan đến điều này có hai vấn đề

Trang 34

Vấn đề thứ nhất có thể là trường hợp số tiền trả quá cao và trong trường hợp này chi phí rất cao so với quyền lợi được hưởng và vì vậy tốt nhất bạn nên ở trong khu vực kinh tế phi chính thức Hoặc có trường hợp chi phí thấp hơn nhiều so với quyền lợi được hưởng, trong trường hợp này nhiều người sẽ thu hút bởi việc làm chính thức nhưng vì chi phí bỏ ra cho lao động của người sử dụng lao động cao nên nhiều người sẽ không được nhận vào khu vực kinh tế chính thức này Vì vậy, cho dù tình huống gì, bất kể thể loại không cân xứng nào giữa chi phí và quyền lợi của bảo hiểm - trường hợp bảo hiểm y tế đơn giản hơn - đang sản sinh ra phi chính thức cho dù phi chính thức tự nguyện hay phi chính thức bắt buộc

Vì vậy nếu bạn nghĩ, để diễn tả những thuật ngữ này, giải pháp sẽ là gì? Giải pháp có thể là đưa ra bảo hiểm cho tất cả mọi người, bảo hiểm y tế cho toàn dân Để nói rằng từ đây tất cả mọi người có thể tiếp cận với dịch vụ y tế Đây là hoạt động được tài trợ bởi khu vực công như nhiều quốc gia trên thế giới Hãy xem trường hợp của nước Anh qua nhiều thập kỉ Quỹ này được xây dựng từ tiền thuế của nhà nước

Vấn đề này trở nên phố biến bởi vì một nguồn lực của phi chính thức hoặc nguồn lực phân biệt của thị trường lao động đổ vào khu vực chính thức và phi chính thức đang biến mất Bây giờ nếu trong khu vực chính thức, người

sử dụng lao động ưu đãi người lao động hơn nữa Họ luôn có thể mua bảo hiểm phụ thêm để chi trả hoặc trang trải rủi ro cho các khoản không được chi trả bởi hệ thống bảo hiểm xã hội Vì vậy, nói cách khác, nếu như ở một số quốc gia, tất cả các phúc lợi phi tiền tệ đi liền với việc làm chính thức thì đây

là nguyên nhân của sự phân biệt chính thức và phi chính thức Nếu chúng ta tin rằng đây là nguyên nhân chính thì giải pháp là cố gắng phổ cập toàn dân càng nhanh càng tốt một số dịch vụ cơ bản Nếu các bạn làm được thì khái niệm về phi chính thức ở chừng mực nào đó có thể dễ dàng biến mất Sau đó các bạn quay trở lại với khu vực chính thức; đó là kiểu hợp đồng lao động, những quy định khi người lao động bị thôi việc, chế độ đền bù như thế nào, v.v Phi chính thức có thể ở một mức độ nào đó sẽ là thước đo mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động Theo như tôi thấy thì ít nhất

ở một số nước, nguyên nhân quan trọng này sẽ được loại bỏ Nhưng tôi hoàn toàn tin rằng, đây là trường hợp của một quốc gia cụ thể và không nghĩ là có một công thức chung cho tất cả Điều đó có nghĩa rằng, ít nhất vấn đề này

Trang 35

cần phải được xem xét để có chính sách giải quyết những vấn đề của khu vực phi chính thức.

Martin Rama: Giáo sư Bourguignon, xin cảm ơn ông vì sự chia sẻ kinh

nghiệm với chúng tôi ngày hôm nay

François Bourguignon: Cảm ơn tất cả các bạn và tôi thực sự rất vui khi

nói chuyện với các bạn Một lần nữa tôi rất xin lỗi vì không có mặt tại Hà Nội Chúc các bạn thành công và hội nghị sẽ thành công Xin chào tất cả các bạn

Trang 38

Roxana Maurizio

Châu Mỹ Latin vẫn là châu lục của sự bất bình đẳng và nghèo đói Khía cạnh nổi bật của tình trạng này là thị trường lao động không ổn định cùng với một hệ thống an sinh xã hội rất hạn chế Mức độ bảo hiểm thất nghiệp ít ỏi buộc những người mất việc trong khu vực chính thức phải nhanh chóng tìm những việc làm bấp bênh hoặc lao động tự do vì họ không có đủ thời gian để tìm kiếm công việc phù hợp

Trong bối cảnh thiếu vắng một hệ thống an sinh xã hội mở rộng, cần xác định mối liên hệ giữa tình trạng lao động và mức độ đói nghèo của các hộ gia đình Trên thực tế, tình trạng hội nhập lao động kém - tính theo số lượng giờ làm việc và chất lượng công việc - đã tạo nên hiện tượng “người lao động nghèo” khá phổ biến ở các nước Mỹ Latin và cho thấy rằng có việc làm không

có phải là bảo đảm không rơi vào nghèo khổ

1 Phiên bản trước của báo cáo này đã được trình bày tại Hội nghị về khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức, ngày 06- 7 tháng Năm 2010, Hà Nội Tôi muốn cảm ơn Luis Beccaria, Aureo de Paula và các đại biểu tham dự hội nghị này đã cho ý kiến đóng góp và cũng cảm ơn Ana Laura Fernández và Paula Monsalvo đã hợp tác nhiệt tình.

Trang 39

Trong một khu vực với tỉ lệ lao động bấp bênh, mức độ phi chính thức và

tỉ lệ nghèo đói cao, cần phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng này Bài viết này nhằm mục đích phân tích so sánh hai khía cạnh liên quan tới phi chính thức Khía cạnh đầu tiên là mối liên hệ giữa phi chính thức và tình trạng thu nhập phân khúc Khía cạnh thứ hai là mối quan hệ giữa phi chính thức và nghèo đói, và đặc biệt là các cơ chế trực tiếp và gián tiếp mà thông qua đó quan hệ này được xác minh

Bốn nước Mỹ Latin có lao động phi chính thức khác nhau đáng kể về quy

mô và đặc điểm đã được lựa chọn Argentina và Chile có IS tương đối nhỏ trong bối cảnh châu Mỹ Latin; trong khi đó Brazil và Peru có IS khá lớn Dữ liệu được sử dụng trong bài viết này dựa trên các cuộc điều tra hộ gia đình được cập nhật mới nhất Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu đầu tiên phân tích so sánh mối liên hệ giữa phi chính thức, sự phân khúc, và nghèo đói ở Mỹ Latin

Phần tiếp theo trình bày tổng quan các khuôn khổ lí thuyết khác nhau

về khái niệm phi chính thức và phân khúc thu nhập Phần 2 đề cập chi tiết các tiêu chí khác nhau dùng để đo lường mức độ phi chính thức cũng như các phương pháp ước tính được sử dụng Phần 3 mô tả các nguồn thông tin Phần 4 giới thiệu một vài nét chính về mức độ và đặc điểm phi chính thức tại các quốc gia được lựa chọn Hai phần tiếp theo trình bày các kết quả kinh tế lượng: trong phần 5 các kết quả liên quan đến chênh lệch thu nhập lao động gắn với tình trạng phi chính thức, phần 6 các kết quả liên quan đến tác động độc lập của tình trạng phi chính thức đối với tỉ lệ đói nghèo Cuối cùng, phần

7 trình bày các kết luận

1 Phi chính thức, phân khúc thu nhập và nghèo đói: một số vấn đề lí thuyết

1.1 Việc làm trong khu vực chính thức và việc làm phi chính thức (IE)

Lao động phi chính thức là một trong các đề tài được phân tích và được coi là đặc điểm nổi bật của tình trạng lao động ở châu Mỹ Latin Có ít nhất hai cách tiếp cận khác nhau về khái niệm khác nhau liên quan đến lao động

Trang 40

phi chính thức, như trình bày bên dưới:

Phương pháp Khái niệm liên quan

Sản xuất Khu vực phi chính thức (IS) / Khu vực chính thức (FS)

Việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS) / Việc làm trong Khu vực chính thức

Lao động Việc làm phi chính thức (IE) (Người lao động phi chính thức) / Việc làm chính

thức (FE) (Người lao động chính thức)

Khái niệm IS (IS) xuất hiện vào đầu những năm 1970, trong các tài liệu

của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1972) về các nước châu Phi Sau đó Chương trình việc làm khu vực Mỹ Latin và vùng Caribe (“PREALC” chữ viết tắt tiếng Tây Ban Nha) phát triển khái niệm này cho châu Mỹ Latin nhằm lí giải sự gia tăng của một bộ phận lớn dân cư, những người không thể tham gia vào quá trình hiện đại hóa sản xuất thông qua thị trường lao động chính thức Theo cách tiếp cận “sản xuất”, tình trạng phi chính thức phản ánh sự bất lực của các nền kinh tế trong việc tạo ra đủ việc làm trong khu vực chính thức nhằm theo kịp sự phát triển của lực lượng lao động IS thường gắn với các cơ sở sản xuất nhỏ có năng suất thấp và thường phải vật lộn để sống còn

và ít khả năng tích lũy tài sản Công việc được tạo ra trong lĩnh vực này được

gọi là việc làm trong khu vực phi chính thức (EIS)

Cùng với khái niệm dựa trên “cách tiếp cận sản xuất”, việc làm phi chính thức (IE) là một khái niệm được phát triển trong những năm gần đây Dựa trên

“cách tiếp cận lao động”, IE đề cập đến một khía cạnh khác của phi chính thức

và tập trung vào điều kiện làm việc Đặc biệt, cách tiếp cận này gắn khái niệm phi chính thức với việc trốn tránh các quy định lao động, định nghĩa IE là tình trạng người lao động không chịu sự điều tiết của pháp luật về lao động

Trong bài viết này, cả hai cách tiếp cận “sản xuất “ và “lao động “ sẽ được xem xét để xác định tính chất đặc thù của mỗi khía cạnh và mối liên hệ giữa các khía cạnh này

1.2 Tình trạng phi chính thức và phân khúc thu nhập

Khái niệm về phân khúc thu nhập được sử dụng ở đây để chỉ sự khác biệt

về thu nhập lao động không do các thuộc tính cá nhân của người lao động tạo ra Điều đó có nghĩa là chênh lệch về thu nhập liên quan tới một số đặc

Ngày đăng: 29/04/2014, 15:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng A.1. Đặc điểm của tình trạng phi chính thức - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
ng A.1. Đặc điểm của tình trạng phi chính thức (Trang 64)
Bảng A.2. Phương trình Mincer. OLS (tiếp) - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
ng A.2. Phương trình Mincer. OLS (tiếp) (Trang 66)
Hình 2. Mức độ hài lòng về công việc trong khu vực kinh tế phi chính thức  theo các nhóm, 2009 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Hình 2. Mức độ hài lòng về công việc trong khu vực kinh tế phi chính thức theo các nhóm, 2009 (Trang 84)
Hình 4: Phân bố các mức độ kém hiệu quả của các cơ sở sản xuất trong  năm 2004 và 2001 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Hình 4 Phân bố các mức độ kém hiệu quả của các cơ sở sản xuất trong năm 2004 và 2001 (Trang 183)
Hình 1: Lí do các hoạt động của các IPU không đăng kí - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Hình 1 Lí do các hoạt động của các IPU không đăng kí (Trang 245)
Hình 2: Giải quyết các sự vụ với các quan chức - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Hình 2 Giải quyết các sự vụ với các quan chức (Trang 248)
Đồ thị 3 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 3 (Trang 337)
Đồ thị 4                                              Đồ thị 5 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 4 Đồ thị 5 (Trang 339)
Đồ thị 7                                                       Đồ thị 8 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 7 Đồ thị 8 (Trang 341)
Đồ thị 10 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 10 (Trang 344)
Đồ thị 11: Cộng đồng Andean và Chile: các Bộ Lao động và chi tiêu xã hội,  2000-2010* - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 11: Cộng đồng Andean và Chile: các Bộ Lao động và chi tiêu xã hội, 2000-2010* (Trang 345)
Đồ thị 12                                            Đồ thị 13 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
th ị 12 Đồ thị 13 (Trang 346)
Sơ đồ dưới đây minh họa các dòng dịch chuyển. - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Sơ đồ d ưới đây minh họa các dòng dịch chuyển (Trang 396)
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô, nghèo đói, thất nghiệp và việc làm trong  khu vực phi chính thức 2002-2010 - Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô, nghèo đói, thất nghiệp và việc làm trong khu vực phi chính thức 2002-2010 (Trang 421)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w