1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thực tiễn áp dụng luật phá sản năm 2004

34 410 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực tiễn áp dụng luật phá sản năm 2004
Người hướng dẫn T.s Nguyễn Nam Hà
Trường học Trường đại học Công Nghiệp TPHCM
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại đề tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 260,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn áp dụng luật phá sản năm 2004

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 8:

1 Nguyễn Thị Ngọc Ánh 10271221

2 Đỗ Việt Bắc 08222111

3 Vũ Thị Lan Hương 11245531

4 Huỳnh Thị Trúc Ly (Nhóm trưởng) 11242851

5 Huỳnh Thị Ngân 11232761

6 Tạ Bảo Ngọc 10220251

7 Nguyễn Thị Như Ngọc 11243101

8 Lê Thị Kim Phúc 11088171

9 Nguyễn Thị Bích Thu 11031621

10.Phạm Thị Huyền Trang 11247071

11.Mai Văn Trúc 11244991

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Các thành viên trong nhóm 8 xin cam đoan với Thầy và tất cả các bạn rằng dưới

sự chỉ đạo và hướng dẫn của giáo viên bộ môn Nguyễn Nam Hà, bài tiểu luận này là sản phẩm của các thành viên trong nhóm qua một thời gian học tập và nghiên cứu đã cùng nhau thống nhất và hoàn thành Xin cam đoan là không sao chép bất cứ tài liệu nào và tất

cả tài liệu có trong bài đều được tham khảo dưới hình thức có chọn lọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

אּ∞אּ

Các thành viên nhóm 8 nói riêng cũng như tất cả các bạn sinh viên nói chung của trường đại học Công Nghiệp Tp.HCM xin được nói lời cảm ơn tới Ban giám hiệu cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong trường đã tạo điều kiện và môi trường học tập cho chúng em, đặc biệt là sự quan tâm của các Thầy Cô giáo phụ trách bộ môn luật kinh doanh.Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy Nguyễn Nam Hà, giảng viên trực tiếp giảng dạy chúng em, người đã tận tình dạy và hướng dẫn cách làm bài tiểu luận thế nào là đúng cách

Qua quá trình học tập, nhờ Thầy mà chúng em đã tiếp thu được nhiều kiến thức cần thiết của môn luật kinh doanh phục vụ cho việc học tập sau này Bài tiểu luận này vẫn còn nhiều thiếu sót, chúng em mong nhận được sự góp ý của Thầy

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:

1. HTX:Hợp tác xã

2. UBND: Uỷ ban nhân dân

3. VTNN: Công ty vật tư nông nghiệp tỉnh Quảng Nam

4. NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

5. TAND: Tòa án nhân dân

6. PSDN: Phá sản doanh nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, trải qua 20 năm thực hiện đã thu được “những thành tựu to lớn, mang tính lịch sử” Nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự thay đổi đó kéo theo sự thay đổi căn bản về thể chế kinh tế, cơ chế quản lý hoạt động, đặc biệt là hệ thống pháp luật để đáp ứng yêu cầu khách quan của nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội, tồn tại khách quan, nó hiện hữu như một sản phẩm của quá trình cạnh tranh chọn lọc và đào thể tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất kể thị trường phát triển của bất

kì ở nước nào hay thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Để đáp ứng yêu cầu đó Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993 Trải qua hơn 10 năm thực hiện, Luật phá sản( năm 1993) đã có những ưu điểm tác dụng to lớn trong thực tế, tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nó đã bộc lộ những hạn chế nhất định đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với thực tế Đáp ứng yêu cầu đó, Luật phá sản được Quộc hội Việt Nam thông qua ngày 15/06/2004 thay thế cho Luật phá sản năm 1993

Tìm hiểu quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Luật phá sản, ngoài ý nghĩa tìm hiểu các quy định về đối tượng, phạm vi áp dụng, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia giải quyết phá sản; quy định về trình tự, thủ tục giải quyết phá sản; nó còn

có ý nghĩa đánh giá trình độ, mức độ, xu hướng phát triển của nền kinh tế, từ đó có những giải pháp thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước hiện nay

Trang 7

NỘI DUNG

Chương 1: Khái quát chung bộ luật phá sản năm 2004.

1.1. KHÁI NIỆM PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN:

1.1.1 Khái niệm phá sản:

Phá sản là một hiện tượng kinh tế phát sinh từ rất sớm trong lịch sử nhân loại (từ thời kỳ La Mã) và nó phát triển, trở nên phổ biến trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa Hiện tượng phá sản là tất yếu trong nền kinh tế thị trường bất kể là thị trường của quốc gia TBCN hay XHCN

Trước tiên, để hiểu khái niệm luật phá sản, chúng ta cần hiểu các khái niệm

sau :

Doanh nghiệp: Theo qui định tại điều 4 của luật Doanh nghiệp, nhà nước qui

định, Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình,

pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích tự nguyện góp vốn, góp sức lập

ra theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Về thuật ngữ “phá sản” theo Luật thương mại 1972 của chính quyền Sài Gòn trước đây, nó được gọi là “khánh tận” để chỉ sự phá sản của các thương gia, còn vỡ

nợ được dùng để chỉ sự phá sản của các cá nhân Theo quan niệm thông thường của người Việt Nam thì phá sản thường được hiểu là không trả được nợ, để vỡ nợ

Theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng

ấn hành năm 2005 thì phá sản là: “Lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường

là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại, thất bại hoàn toàn”

Luật phá sản ở nước ta cũng không đưa ra khái niệm phá sản một cách trực tiếp mà chỉ đưa ra được khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến

Trang 8

hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”(Điều 3, Luật phá sản năm 2004).

Như vậy có thể hiểu phá sản ở đây là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Tuy nhiên, việc lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn đã là phá sản,

mà doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ được coi là phá sản khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản

Một số dấu hiệu để phân biệt giữa doanh nghiệp bị phá sản với doanh nghiệp

bị lâm vào tình trạng phá sản

− Không trả được nợ đến hạn

− Không trả được nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu

− Đã hoặc chưa tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản

1.1.2 Khái niệm pháp luật phá sản:

Pháp luật phá sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Pháp luật phá sản là một bộ phận cấu thành các nhóm chế định pháp luật về giải quyết hậu quả của khung pháp lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Trong hoạt động kinh tế, thương mại pháp luật về phá sản là một chế định đặc thù, tính đặc thù được biểu hiện ở việc chế định này vừa chứa đựng các quy phạm pháp luật nội dung vừa chứa đựng các quy phạm pháp luật hình thức

Pháp luật về phá sản cũng là một chế định không thể thiếu được trong kinh tế thị trường, bởi trong nền kinh tế đó (tức trong nền kinh tế thị trường) luôn có sự cạnh tanh giữa các chủ thể kinh doanh, do vậy mà có những chủ thể không đứng vững được trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó nên bị phá sản Do đó, phải có Luật phá sản

để giải quyết việc phá sản đó Trong pháp luật phá sản thì Luật phá sản là văn bản pháp luật quan trọng nhất nó quy định những vấn đề cơ bản trong việc giải quyết phá sản như: lý do phá sản, trình tự thủ tục phá sản, quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan,

tổ chức, cá nhân; thủ tục thu hồi, thanh lý tài sản và việc phân chia tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

1.2. MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ HỢP TÁC XÃ NĂM 2004:

Trang 9

Bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ nợ và chủ doanh nghiệp mắc nợ, khi doanh

nghiệp bị tuyên bố phá sản, tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp sẽ được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số tài sản còn lại của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Như vậy, mang lại sự công bằng cho các chủ nợ, tránh việc đòi nợ theo kiểu tự phát, làm mất trật tự an ninh Việc đòi nợ của các chủ nợ theo quy định của luật phá sản đảm bảo tất

cả các tài sản của doanh nghiệp đều được thu hồi và được định với mức giá cao nhất Thực hiện việc tuyên bố phá sản không những trả nợ một cách công bằng cho các chủ nợ

mà còn giải phóng con nợ khỏi những gánh nợ nần mà bản thân họ không thể trả được, tạo điều kiện cho họ làm lại từ đầu Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 quy định chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn cho các loại hình doanh nghiệp cũng như cho các nhà đầu tư thành viên, làm cho các nhà đầu tư dám đầu tư vào các lĩnh vực có tính rủi ro cao nhưng mang lại nhiều lợi nhuận Tuy nhiên luật doanh nghiệp cũng qui định chế độ chịu trách nhiệm vô hạn đối với chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh mặc dù đã bị tòa án tuyên bố phá sản Khi bị phá sản, chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh không được miễn trách nhiệm trả nợ, mà xem như là một món nợ mà họ phải trả cho đến khi nào hết thì thôi Qui định như vậy sẽ tạo

ra một sân chơi không bình đẳng ở các doanh nghiệp, làm mô hình doanh nghiệp tư nhân

và công ty hợp danh không phát triển vì các nhà đầu tư không đầu tư vào loại hình doanh nghiệp này để tránh trách nhiệm vô hạn

Bảo vệ quyền lợi của người lao động, Luật phá sản quy định người lao động là

đối tượng được ưu tiên thanh toán tiền công lao động, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp theo qui định của pháp luật lao động trước các chủ nợ khác nhằm mục đích bảo

vệ quyền lợi cho họ Người lao động không chỉ là người chịu thiệt thòi khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà còn chịu thiệt thòi khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản họ lo sợ mất việc làm, đến khi doanh nghiệp tuyên bố phá sản, họ phải lo đi tìm công việc mới Vì vậy có thể nói người lao động là đối tượng chịu thiệt thòi nhất trong mọi sự thay đổi của doanh nghiệp Do đó, pháp luật nóichung và pháp luật phá sản nói riêng có các qui định để làm giảm bớt các thiệt hại đó trong đó có thiệt hại do phá sản doanh nghiệp

Góp phần bảo đảm trật tự xã hội, tạo môi trường an toàn, văn minh.

1.3. NỘI DUNG BỘ LUẬT PHÁ SẢN NĂM 2004:

Luật phá sản được quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 có hiệu lực thi hành ngày 15/10/2004, có 9 chương, 95 điều

Trang 10

− Chương 1 về những quy định chung, gồm 12 Điều (từ Điều 1 đến Điều 12) Trong chương trình này xác định đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, xác định khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản,xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản và vai trò của VKSND trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

− Chương 2 về thủ tục nộp đơn và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm

19 Điều (từ Điều 13 đến Điều 32) Chương này quy định các chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, trách nhiệm của các chủ thể này trong việc cung cấp đầy đủ các bằng chứng, tài liệu cần thiết của pháp luật đông thời quy định trách nhiệm, quyền hạn của Tòa án khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

− Chương 3 ghi nhận về nghĩa vụ tài sản, gồm 10 Điều (từ Điều 33 đến Điều 42) Trong chương này chứa đựng những quy định về cách thức xác định nghĩa vụ tài sản, cách thức xử lí các khoản nợ chưa đến hạn, nợ có bảo đảm, cũng như cách thức xử

lí tài sản khi giải quyết yêu cầu phá sản Điểm quan trọng ở chương này là quy định ghi nhận thứ tự ưu tiên thanh toán cho các khoản nợ khi phân chia tài sản của doanh nghiệp

bị phá sản

− Chương 4 quy định các biện pháp bảo toàn tài sản, gồm 18 Điều( Điều 43 đến Điều 60).Chương này bên cạnh việc xác định rõ tài sản của con nợ còn quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cơ quan tố tụng cũng như các chủ nợ, con nợ, ngân hàng và người lao động trong việc bảo toàn tài sản của con nợ nhằm ổn định tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi hoặc giữ lại tài sản còn của doanh nghiệp để đảm bảo cho việc thanh toán giữa các chủ nợ được công bằng và hợp lí trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

− Chương 5 quy định về hội nghị chủ nợ như là một giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, gồm 7 Điều( từ Điều 61 đến 67) Chương này ghi nhận các vấn đề về quyền, nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ của các chủ nợ cũng như những người có liên quan, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ, nội dung của hội nghị chủ nợ và hậu quả pháp lý có thể xảy ra nếu người tham gia hội nghị chủ nợ vắng mặt…

− Chương 6 và chương 7 quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.Đây là 2 chương quan trọng thể hiện sự tiến bộ so với Luật

Trang 11

phá sản doanh nghiệp năm 1993 Nó thể hiện ở chỗ Luật phá sản năm 2004 đã đi theo hướng quy định những thủ tục khác nhau, có tính độc lập tương đối với nhau để Tòa án

có điều kiện lựa chọn áp dụng cho phù hợp với tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh được ghi nhận trong Mục 1 Chương 6 từ Điều

68 đến Điều 77, còn thủ tục thanh lý tài sản trong Mục 2 Chương này từ Điều 78 đến Điều 85 Các vấn đề liên quan đến vấn đề tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản cũng như các vấn đề khiếu nại, kháng nghị các quyết định đó được quy định trong Chương 7 từ Điều 86 đến Điều 92 Ngoài ra trong Luật phá sản còn có 2 Chương 3 Điều quy định về

xử lí vi phạm và điều khoản thi hành Nhìn chung, so với Luật phá doanh nghiệp năm

2003 thì Luật phá sản năm 2004 có sự đổi mới quan trọng, phản ánh đầy đủ hơn đáp ứng được nhiều yêu cầu hơn của kinh tế, pháp luật kinh tế nói chung và tình hình phá sản doanh nghiệp ở nước ta nói riêng Đông thời cũng phản ánh trình độ kĩ thuật xây dựng

và hoàn thiện pháp luật của nước ta trong thời gian qua đến nay nhất là về vấn đề pháp luật phá sản

1.4. CÁC YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN:

1.4.1 Nguyên tắc thanh lý tài sản và thanh toán nợ:

1.4.1.1 Nguyên tắc thanh toán khoản nợ:

Trong trường hợp không thể tiến hành được các hoạt động theo các qui định trên, Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản căn cứ vào Điều 78, 79, 80 và 81 LPS Khi đó phương án phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Điều 33, 34, 35, 36 và 37 Cụ thể như sau :

− Các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý tài sản được

xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn

− Các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó

+ Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp

+ Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp

− Tài sản được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng không phục hồi được thì phải hoàn trả lại giá trị đó

Trang 12

1.4.1.2 Thứ tự thanh toán các khoản nợ:

Việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự sau đây:

1/ Phí phá sản.

2/ Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác

theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết

3/ Các khoản nợ không có bảo đảm cho các chủ nợ Nợ thuế Nhà nước cũng là nợ

không có bảo đảm Trên nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ theo tỷ lệ tương ứng

 Trường hợp tài sản còn lại sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp

Ví dụ: Tài sản còn lại của doanh nghiệp A sau khi trả phí phá sản, các khoản nợ

lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là 2 tỷ đồng, tổng số nợ là 4 tỷ đồng, chủ nợ B cho vay 2 tỷ, tương ứng là 50% số nợ, C cho vay 1 tỷ tương ứng tỷ lệ là 25%, D cho vay

1 tỷ tương ứng tỷ lệ 25% Số tiền thanh toán cho từng chủ nợ là B 1 tỷ; C 500 triệu, D

500 triệu

 Căn cứ vào Điều 2 Nghị định 94/2005/NĐ-CP Về giải quyết quyền lợi người lao động ở Doanh nghiệp, Hợp tác xã bị phá sản có hướng dẫn các khoản nợ sau đây phải thanh toán cho người lao động

1.Tiền doanh nghiệp nợ người lao động:

a Tiền lương, phụ cấp theo lương mà doanh nghiệp còn nợ người lao động tính

đến thời điểm người lao động nghỉ việc

b Trợ cấp thôi việc theo quy định của Bộ Luật Lao động.

c Tiền chi phí y tế.

d Tiền bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

e Các quyền lợi khác được ghi trong thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao

động

2 Tiền nợ cơ quan Bảo hiểm xã hội là khoản tiền mà doanh nghiệp chưa đóng

hoặc đóng chưa đủ theo qui định Trường hợp, giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ phí phá sản không đủ thanh toán các khoản nợ, thì người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội được thanh toán các khoản doanh nghiệp nợ theo tỷ lệ tương ứng

Trang 13

Trong quá trình tiến hành thủ tục thanh lý tài sản, doanh nghiệp, chủ nợ, người mắc nợ có quyền khiếu nại, viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo qui định pháp luật phá sản.

1.4.2 Tình hình thụ lý, giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản và một

vài nhận định:

So với với tình hình thực hiện Luật PSDN năm 1993, tình hình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản năm 2004 đã được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn; hiệu quả giải quyết việc phá sản ở các cấp Toà

án vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn

Theo báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản có hiệu lực pháp luật đến nay, đã có 195 vụ phá sản được thụ lý Tình hình thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản là như sau:

− Năm 2005, toàn ngành Tòa án đã thụ lý mới 11 vụ Năm 2004 chuyển qua 3

vụ, tổng cộng 14 vụ Toà án đã giải quyết được 01 vụ (đạt 7,14%); còn tồn chuyển sang năm 2006 là 13 vụ

− Năm 2006, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 40 vụ; có 13 vụ từ năm 2005 chuyển qua, tổng cộng là 53 vụ Đã giải quyết được 16 vụ, đạt tỷ lệ 30,2%

− Năm 2007, toàn ngành Toà án đã thụ lý mới 144 vụ phá sản, trong đó, Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý 24 vụ Năm 2006 chuyển qua 31 vụ, tổng cộng là 175 vụ việc Trong số đó, Toà án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết xong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100% Còn lại 151 vụ phá sản do Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết như sau: quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 04 vụ, quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại 51 vụ đang được tiếp tục giải quyết

Qua thực tiễn thi hành Luật Phá sản thời gian vừa qua, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, tỷ lệ doanh nghiệp, HTX bị yêu cầu mở thủ tục phá sản còn ít, chưa

phản ánh đúng thực trạng tài chính thực tế của các chủ thể kinh doanh.

Luật Phá sản đã phát huy tác dụng trong việc lành mạnh hoá môi trường hoạt động sản xuất, kinh doanh; khắc phục được một phần tình trạng nhiều doanh nghiệp trên

Trang 14

thực tế đã mất khả năng thanh toán đáng lẽ phải chấm dứt hoạt động nhưng vẫn tồn tại, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp khác như trước đây Qua kết quả giải quyết phá sản năm 2007 của Toà án nhân dân cho thấy, đã có sự chuyển biến ngày càng tích cực trong việc thực thi Luật Phá sản Tuy nhiên, so với hơn nửa triệu doanh nghiệp, HTX đang hiện hữu, thì tỷ lệ doanh nghiệp, HTX bị yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất nhỏ, chưa phản ánh đúng tình trạng tài chính thực tế của các doanh nghiệp, HTX Tình trạng nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ nhưng không được xử lý bằng thủ tục phá sản mà lại xử lý bằng thủ tục thu hồi nợ dân sự, thủ tục hành chính và các thủ tục khác vẫn còn phổ biến Trong tổng số 30 địa phương có báo cáo (theo Công văn

số 65/KT ngày 21/5/2008 của Toà án nhân dân tối cao) thì có đến 09/30 địa phương không thụ lý vụ việc phá sản nào Trong số các địa phương có thụ lý vụ việc phá sản thì

số lượng rất khiêm tốn, tập trung ở một số địa phương như Hà Nội (31 vụ), Hồ Chí Minh (27 vụ), Đà Nẵng (10 vụ), Thừa Thiên Huế (33 vụ), Đắc Lăk (11 vụ), Lâm Đồng (6 vụ),

Thứ hai, quá trình tiến hành thủ tục phá sản còn bị kéo dài

Từ khi Luật Phá sản có hiệu lực đến nay đã gần được 4 năm, nhưng ở hầu hết các Tòa án địa phương việc giải quyết phá sản mới tiến hành đến việc ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, còn việc ra quyết định tuyên bố phá sản là rất ít, chủ yếu là quyết định tuyên bố doanh nghiệp, HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thụ lý 10 đơn yêu cầu, đã ra 10 quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, có quyết định ra từ tháng 12/2004, nhưng cho đến đầu tháng 6/2008 vẫn chưa ra được quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, HTX nào; Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra được 4 quyết định tuyên bố phá sản trong số 27 việc phá sản đã thụ lý; Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ra 28 quyết định tuyên bố phá sản trong số 33 việc thụ lý Trong đó, Tòa án nhân dân cấp huyện ra 27 quyết định tuyên bố HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt

Việc thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp còn bị kéo dài như trên là do nhiều nguyên nhân mà trước hết là xuất phát từ những hạn chế không chỉ của Luật Phá sản năm 2004 mà còn từ các văn bản hướng dẫn thi hành, và các văn bản pháp luật có liên quan (sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau) Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết phá sản của doanh nghiệp và các bên liên quan cũng chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc (như vi phạm về thời hạn tố tụng, vi phạm

về nghĩa vụ nộp tài liệu, báo cáo về tình hình kinh doanh, báo cáo kiểm kê, tài chính của

Trang 15

doanh nghiệp ) Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản bị kéo dài, gặp nhiều khó khăn

Thứ ba, tình trạng chấp hành các quy định về chế độ tài chính - kế toán trong các

doanh nghiệp còn yếu kém là một trong những nguyên nhân làm suy giảm hiệu lực của pháp luật phá sản.

Qua thực tiễn thi hành Luật Phá sản cho thấy, nhiều doanh nghiệp không tuân theo những quy định về tài chính - kế toán hiện hành, sổ sách kế toán còn sơ sài, thậm chí có những doanh nghiệp không có sổ sách kế toán, dẫn đến công nợ không rõ ràng, gian dối về chứng từ kế toán Sự không minh bạch về tài chính khiến cho Toà án rất khó xác định tình trạng phá sản của doanh nghiệp, do đó, đã ảnh hưởng lớn đến tiến độ giải quyết phá sản doanh nghiệp cũng như việc thi hành quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp

Thứ tư, số lượng và năng lực của đội ngũ cán bộ (thẩm phán, chấp hành viên )

còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác giải quyết phá sản doanh nghiệp

Việc giải quyết phá sản đòi hỏi mỗi thẩm phán không chỉ am hiểu sâu sắc về nội dung Luật Phá sản mà còn về các lĩnh vực chuyên ngành khác như tài chính, ngân hàng, quản lý kinh tế, kế toán thống kê và các ngành luật khác Thực tế cho thấy, đội ngũ thẩm phán, chấp hành viên còn hạn chế về trình độ, năng lực ở nước ta hiện nay đã làm cho pháp luật phá sản chưa thực sự phát huy hiệu quả là một công cụ xử lý nợ

Thứ năm, hiệu quả giải quyết phá sản còn kém; số nợ phải thu thấp hơn số nợ

phải trả, tỷ lệ thu hồi nợ rất thấp

Đây cũng là lý do các chủ nợ không muốn thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thay vào đó họ thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự để đòi nợ theo thủ tục tố tụng dân sự sẽ hiệu quả hơn, vì nếu doanh nghiệp HTX còn tài sản, thì khi thi hành án kết quả bán đấu giá tài sản không phải phân chia Ví dụ: trường hợp phá sản Công ty thủy sản khu vực II Đà Nẵng: Số nợ phải thu 10.479.775.313 đ; số nợ phải trả 50.498.514.864 đ; số nợ đã thu 100.000.000đ., đạt tỷ lệ 0.95%

Thứ sáu, tỷ lệ phục hồi doanh nghiệp sau khi mở thủ tục phá sản là rất thấp.

Luật Phá sản năm 2004 đã được xây dựng theo hướng là một công cụ nhằm phục hồi doanh nghiệp, tuy nhiên, trên thực tế, Luật vẫn chưa phát huy được hiệu quả này Trong tổng số 30 địa phương có báo cáo về Toà án nhân dân tối cao thì chỉ có 01 vụ việc phá sản tại Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng được giải quyết với kết quả phục hồi doanh nghiệp (Xí nghiệp Dâu Tằm tơ tháng tám)

Trang 16

Tính kém hiệu quả của Luật Phá sản đã làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh của nước ta Theo kết quả công bố trong Doing Business 2008, về thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh (trong đó có thủ tục phá sản), Việt Nam xếp thứ 124 trên tổng

số 178 nền kinh tế thế giới; thủ tục phá sản vẫn bị coi là kéo dài (trung bình là 5 năm), hiệu quả thu hồi nợ thấp (thông thường chủ nợ chỉ thu hồi khoảng 18% số nợ) Trong kết quả công bố tại Doing Business 2009 mới đây, tình hình này cũng không được cải thiện hơn

1.4.3 Áp dụng thủ tục phá sản đối với các đối tượng khác nhau:

1.4.3.1 Phân loại các hình thức phá sản:

Nếu căn cứ vào đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản, có hai loại Phá sản cá nhân

và Phá sản doanh nghiệp Cá nhân ở đây có thể là các chủ thể như chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân đăng ký kinh doanh, thành viên hợp doanh trong các công ty hợp danh…

Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng các khoản vay có nguy cơ không được thanh toán, có hai loại Phá sản trong tiêu dùng và Phá sản trong kinh doanh Phá sản trong tiêu dùng xảy ra khi cá nhân bị vỡ nợ dân sự do vay mượn vì mục đích tiêu dùng Tương tự, phá sản trong kinh doanh xảy ra khi doanh nghiệp/ cá nhân lâm vào tình trạng phá sản dùng khoản vay vào mục đích kinh doanh

Nếu căn cứ vào tính chất của vụ phá sản, có hai loại Phá sản về hiệu quả kinh tế

và Phá sản về tài chính: 1) Phá sản về hiệu quả kinh tế là tình trạng các khoản lợi nhuận ròng thu được từ hoạt động kinh doanh không tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra Mức lợi nhuận tương xứng ở đây được hiểu là mức lợi nhuận cơ hội tương ứng với mức rủi ro của cuộc đầu tư đó Một doanh nghiệp có thể bị lâm vào tình trạng phá sản về hiệu quả kinh tế ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp đó không có bất cứ món nợ nào Bởi lẽ, đối tượng chính được đề cập trong hình thức phá sản này là lợi nhuận kinh doanh được

đo lường độc lập với chi phí trả lãi vay của doanh nghiệp; 2) Phá sản về tài chính được dùng để chỉ một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng không được thực hiện các nghĩa vụ trả nợ mà nó đã cam kết với các chủ nợ theo đúng kỳ hạn Một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục trong kinh doanh (phá sản về hiệu quả kinh tế) sẽ bị gánh nặng nợ nần chồng chất và sẽ dẫn tới tình trạng bị phá sản về tài chính

Nếu căn cứ vào nguyên nhân phá sản, có Phá sản trung thực và Phá sản man trá Phá sản trung thực là hậu quả khách quan và trực tiếp của tình trạng không thích ứng của doanh nghiệp mắc nợ trước các đòi hỏi khắt khe và nghiệt ngã của thương trường Tức là việc phá sản xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch hoạ, khủng

Trang 17

quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, có sự sắp đặt từ trước của chủ doanh nghiệp mắc nợ lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ Chẳng hạn, con nợ gian lận trong việc ký kết các hợp đồng chuyển giao tài sản, báo cáo sai hoặc đưa ra những thông tin không trung thực Đây là một hành vi cạnh tranh nguy hiểm và vì vậy thường được xử lý rất nghiêm khắc về mặt hình sự

Nếu dựa vào cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp lý về phá sản, có Phá sản tự nguyện (Voluntary Bankruptcy) và Phá sản bắt buộc (Involuntary Bankruptcy) Phá sản

tự nguyện là do chủ doanh nghiệp mắc nợ tự đề nghị khi thấy doanh nghiệp hoàn toàn mất khả năng thanh toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ Phá sản bắt buộc được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ nợ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mắc nợ

1.4.3.2 Thủ tục phá sản:

• Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:

 Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

 Phục hồi hoạt động kinh doanh;

 Thanh lý tài sản, các khoản nợ;

 Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản

• Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật này, Thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hoặc quyết định chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản:

Sau khi các đối tượng có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản tại Toà án có thẩm quyền Toà án sẽ vào sổ thụ lý đơn, xem xét hồ sơ trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn và ra một trong hai quyết định: Quyết định mở thủ tục phá sản khi có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã đã lâm vào tình trạng phá sản; quyết định không

mở thủ tục phá sản khi không có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản Sau khi Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản, tuỳ từng trường hợp mà thẩm phán ra quyết định:

Thứ nhất, phục hồi hoạt động kinh doanh nếu xét thấy doanh nghiệp, hợp tác xã

còn có khả năng hồi phục và tiếp tục tồn tại nếu được sự hỗ trợ

Ngày đăng: 24/04/2014, 00:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nhà Pháp luật Việt – Pháp: Tài liệu Hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, 8-10/1/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp
7. Đặng Văn Thanh, Dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/ 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
8. Đào Trí Úc, Vị trí, vai trò, đặc trưng và các nguyên tắc của hoạt động tư pháp, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò, đặc trưng và các nguyên tắc của hoạt động tư pháp, Tạp chí
9. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Một số định hướng hoàn thiện pháp luật phá sản, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 3/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hướng hoàn thiện pháp luật phá sản
2. Luật phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã năm 2004 Khác
4. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Học viện CTQG Hồ Chí Minh Khác
5. Nhà Pháp luật Việt – Pháp: Tài liệu Hội thảo pháp luật về phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, 8-10/1/2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w