1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

lý thuyết chung về nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại việt nam

27 772 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 387,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lý thuyết chung về nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại việt nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG

MÔN: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ VÀ THỰC TẾ MỘT SỐ HÌNH THỨC

ÁP DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TẠI VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : Cô Thân Thị Vi Linh

LỚP : TTTT ca 4 chiều thứ 2

Trang 2

HOÀNG XUÂN TRƯỜNG

LÊ QUANG TRUNG

LỚP TTQTC K11

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, kìm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển đúng hướng và phù hợp với chính sách kinh tế vĩ

mô Tuy nhiên, bên cạnh đó việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa tỏ ra nhạy bén và các chính sách của Ngân hàng nhà nước chưa linh thoạt Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế ngày càng sôi động thì việc điều hành chính sách tiền tệ từ các công cụ trực tiếp chuyển sang các công cụ gián tiếp trong đó có việc áp dụng nghiệp vụ thị trường mở ngày càng trở nên cấp bách Điều này là phù hợp với quá trình cải cách hệ thống Ngân hàng, với việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ trong giai đoạn mới

Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “lý thuyết chung về

nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại Việt Nam” với mong muốn đóng góp tiếng nói của mình vào việc sử dụng

Nghiệp vụ thị trường mở để ngày càng hoàn thiện chính sách tiền tệ quốc gia Trong quá trình tìm hiểu không thể tránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế, chúng tôi mong được sự giúp đỡ chỉ bảo của các thầy cô

Trang 4

I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ.

1 Lịch sử ra đời của nghiệp cụ thị trường mở (NVTTM)

Khi FED được thành lập trước đây, thì việc thay đổi lãi suất chiết khấu là công cụ đầu tiên của chính sách tiền tệ Khi đó FED chưa phát hiện ra NVTTM là một công cụ đầy sức mạnh để ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ, và đạo luật về dự trữ liên bang đã không có điều quy định nào về việc thay đổi dự trữ bắt buộc Nguyên tắc chỉ đạo cho việc tiến hành chính sách tiền tệ là khi nào các khoản cho vay còn được cấp cho những mục đích sản xuất, nghĩa là để nâng đỡ hàng hoá và dịch vụ, thì việc cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng để nó cấp các khoản vay đó chắc là không có lạm phát Trong thực tiễn, nó có nghĩa là FED cho các NHTM thành viên vay khi họ đến cửa sổ chiết khấu xuất trình các phiếu chiết khấu Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chính sách của FED tái chiết khấu các phiếu chiết khấu được và duy trì ở mức lãi suất thấp để cho kho bạc tài trợ chiến tranh đã đưa đến một cuộc lạm phát dữ dội Trong năm 1919 và

1920, tỉ lệ lạm phát bình quân là 14% FED quyết định sẽ không tiếp tục theo đuổi chính sách bị động theo học thuyết tín phiếu thực tế, bởi vì nó không phù hợp mục tiêu ổn định giá cả, và lần đầu tiên từ khi được thành lập, FED chấp nhận trách nhiệm đóng một vai trò chủ động để ảnh hưởng đến nền kinh tế

Vào những năm 1920, xảy ra một sự kiện đặc biệt quan trọng – FED phát hiện

ra NVTTM Khi FED được thành lập, nguồn thu nhập của nó hoàn toàn chỉ là từ lãi thu được của những khoản tín dung cấp cho các ngân hàng thành viên Sau cuộc suy thoái 1920-1921, khối lượng vay chiết khấu giảm sút nghiêm trọng và FED rất túng tiền Nó giải quyết vấn đề này bằng cách mua các chứng khoán sinh lãi Khi làm như vậy, FED phát hiện ra rằng, dự trữ trong hệ thống NHTM tăng lên và những khoản cho vay và tiền gửi ngân hàng tăng lên gấp bội Kết quả đó ngày nay đối với chúng ta rất hiển nhiên nhưng đối với FED lúc bấy giờ là một phát hiện Một công

cụ mới của chính sách tiền tệ ra đời, và vào cuối những năm 1920, đó là một vũ khí quan trọng nhất trong kho vũ khí của FED

Trang 5

2 Định nghĩa NVTTM.

NVTTM là hoạt động NHTW mua vào hoặc bán ra những GTCG của chính phủ trên thị trường Thông qua hoạt động mua bán GTCG, NHTW tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường

NVTTM là một trong các công cụ được NHNN sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

3 Cơ chế tác động của NVTTM.

Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng

3.1 Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng.

Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO)

và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO)

Sơ đồ 1.1 Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng

Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán

ra Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng Kết quả là dự

Dự trữ mở rộng cho vay giảm

Khối lượng TD giảm

MS giảm

Trang 6

trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.

3.2 Về mặt giá - Tác động qua lãi suất.

Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu

vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage

về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế,

và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định

Sơ đồ 1.2 Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất

Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu

về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó Khi giá chứng khoán thay đổi,

tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ

Cung của quỹ cho vay giảm

Lãi suất ngắn hạn tăng

Lãi suất thị trường tăng

Giá TPKB giảm

LS thị trường tăng tăng

Trang 7

trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu

AD và sản lượng

Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng

4 Hàng hóa trên thị trường mở.

4.1 Tín phiếu kho bạc.

Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do Chính phủ phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường ngắn, dưới 12 tháng Đây là công cụ chủ yếu của NVTTM của hấu hết NHTW các nước vì :

- Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao

- Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhu cầu can thiệp của NHTW với liều lượng khác nhau Bộ tài chính là người có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát hành, thanh toán lãi và gốc của tín phiếu Tín phiếu Kho bạc được phát hành hàng tuần để chi trả các khoản

nợ ngắn hạn của Chính phủ Vì vậy, khối lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của Chính phủ

Trang 8

4.2 Tín phiếu NHTW.

Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công

cụ cho OMO Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng

Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này

4.3 Chứng chỉ tiền gửi.

Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các định chế tài chính phi ngân hàng phát hành Xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong một thời gian nhất định với một mức lãi xuất định trước Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắn hạn (cũng có trường hợp thời hạn lên tới 3-5 năm) Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi chính là sức sống của nó, và do đó nó được sử dụng như là hàng hoá phổ biến trong nghiệp vụ thị trường mở

4.4 Thương phiếu.

Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian xác định

Trang 9

Đây là giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu vốn ngắn hạn Luật và pháp lệnh thương phiếu ở các nước đảm bảo tính chất an toàn cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện được phép phát hành thương phiếu Thương phiếu là tài sản có đối với người sở hữu; Có thể là ngân hàng (thông qua các hành vi chiết khấu hoặc cho vay có bảo đảm bằng thương phiếu) hoặc các tổ chức phi ngân hàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp (cơ chế bảo lãnh của ngân hàng làm cho thương phiếu có tính chuyển nhượng cao và vì thế được chấp nhận dễ dàng trong thanh toán của các tổ chức này) Vì vậy, việc mua bán thương phiếu của Ngân hàng Trung ương sẽ ảnh hưởng mạnh đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửi của các khách hàng tại ngân hàng thương mại.

4.5 Trái phiếu chính phủ.

Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính

4.6 Trái phiếu chính quyền địa phương.

Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác thời hạn và các điều kiện ưu đãi liên quan đến trái phiếu Thông thường người sở hữu trái phiếu của chính quyền địa phương được hưởng ưu đãi

về thuế thu nhập trái phiếu Sự can thiệp của NHTW qua việc mua bán trái phiếu loại này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu là để tài trợ cho chi tiêu của họ và thường chỉ có chính quyền địa phương lớn phát hành Loại chứng khoán này được các nhà đầu tư ưa chuộng và các NHTM thường dùng loại chứng khoán này tái chiết khấu tại NHTW

5 Các NVTTM.

5.1 Nghiệp vụ giao dich chứng từ có giá.

a Giao dịch không hoàn lại (Các giao dịch mua đứt bán đoạn).

Trang 10

Các giao dịch không hoàn lại bao gồm các nghiệp vụ mua, bán chứng khoán của NHTW theo các phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường Hình thức giao dịch này làm chuyển hẳn quyền sở hữu đối với các chứng khoán

là đối tượng giao dịch Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ của các ngân hàng

là dài hạn

b Giao dịch có hoàn lại (Giao dịch có kỳ hạn).

Hình thức này chủ yếu sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp

đồng mua lại (Repor) Hợp đồng mua lại, sử dụng khi NHTW thực hiện một giao

dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là mua chứng khoán từ người môi giới trên

thị trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày xác định trong tương lai Hợp

đồng mua lại đảo ngược được áp dụng khi NHTW muốn rút bớt dự trữ của hệ

thống ngân hàng Để đạt được mục đích này, NHTW bán chứng khoán cho người giao dịch, người đồng ý sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai Sự chênh lệch giá bán chứng khoán tại thời điểm t = 0 và thời điểm t = T là lãi suất của khoản vay Repor Nói chung, hợp đồng mua lại được sử dụng trong một thời gian rất ngắn, thường là hợp đồng qua đêm với t = 1 ngày Tuy nhiên cũng có

hợp đồng mua lại dài hơn với t > 1 ngày, đựoc gọi là Repor có thời hạn Với loại

Repor mở, thời hạn t không được xác định trước mà 2 bên thoả thuận lại vào mỗi ngày Giao dịch theo hợp đồng Repor thực chất là một khoản cho vay có đảm bảo bằng các chứng khoán có tính thị trường cao

Các giao dịch có hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường

mở vì những lý do sau:

Thứ nhất, đây là một công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu

những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng

Thứ hai, chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp

đồng mua đứt bán đoạn

Thứ ba, Thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ

không hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục

Trang 11

Thứ tư, làm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị

trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW

5.2 Nghiệp vụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ.

Trong nghiệp vụ này khi tham gia giao dịch thi NHTW đồng thời ký hai hợp đồng và lấy ngoại tệ làm đối tượng trao đổi

Hợp đồng 1: Mua bán ngoại tệ với tỷ gia giao ngay

Hợp đồng 2: Bán hoặc mua ngoại tệ với tỷ giá co ky hạn

Ngoài ra, một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong NVTTM như: Phát hành chứng chỉ nợ của NHTW; Giao dịch hoán đổi các chứng khoán đến hạn

6 Phương thức hoạt động của NVTTM.

6.1 Giao dịch song phương.

Là phương thức mà NHTW với người giao dịch giao dịch thẳng với nhau hoặc giao dịch thông qua nhà môi giới hoặc đại lý chứng khoán mà không mua bán thông qua hình thức đấu thầu

Giao dịch song phương thường không được thông báo trước, ngày can thiệp tùy thuộc vào quyết định của NHTW

6.1 Giao dịch theo phương thức đấu thầu.

a Phương thức đấu thầu khối lượng.

Là việc xác định khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia nghiệp vụ TTM trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng GTCG mua hoặc bán và lãi suất do NHTW thông báo cụ thể như sau :

- NHTW thông báo cho các TCTD mức lãi suất và khối lượng các loại GTCG cần mua hoặc cần bán (NHTW có thể không thông báo khối lượng cần mua hoặc cần bán)

Trang 12

- Các đơn vị thành viên tham gia dự thầu khối lượng các loại giấy tờ cần mua hoặc cần bán theo mức lãi suất do NHTW công bố

Sau khi mở thầu, NHTW xác định khối lượng trúng thầu của các đơn vị tham gia dự thầu theo nguyên tắc sau :

+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD bằng hoặc thấp hơn khối lượng NHTW cần mua hoặc cần bán thì khối lượng trúng thầu của đơn vị chính

là khồi lượng dự thầu

+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lượng NHTW cần mua hoặc cần bán thì khối lượng trúng thầu của các TCTD sẽ được phân bổ theo tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các TCTD

b .Phương thức đấu thầu lãi suất

Là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTD tham gia NVTTM trên cơ

sở khối lượng dự thầu của các TCTD, khối lượng GTCG mà NHTW cần mua hoặc cần bán

- NHTW có thể công bố hoặc không công bố khối lượng GTCG cần mua hoặc cần bán

- Các đơn vị thành viên dự thầu theo mức lãi suất và khối lượng GTCG cần mua hoặc cần bán ứng với mức lãi suất đó Lãi suất dự thầu được tính theo tỷ lệ phần trăm và được làm tròn đến hai con số sau dấu phẩy Lãi suất sẽ được sắp xếp theo thứ tự lãi suất dự thầu giảm dần, nếu NHTW là người mua và ngược lại lãi suất sẽ được sắp xếp theo thứ tự tăng dần nếu NHTW là người bán

- Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu cao nhất (trường hợp NHTW bán) và

lãi suất dự thầu thấp nhất (trường hợp NHTW mua) mà tại đó đạt được khối lượng GTCG NHTW cần mua hoặc cần bán

Có hai phương thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo lãi suất thống nhất hoặc theo lãi suất riêng lẻ:

Trang 13

+ Lãi suất thống nhất: là toàn bộ khối lượng trúng thầu được tính theo một

mức lãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán

+ Lãi suất riêng lẻ: khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với từng mức

lãi suất dự thầu được công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán

Khối lượng trúng thầu được tính theo nguyên tắc :

+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng dự thầu chính là khối lượng trúng thầu

+ Nếu tổng khối lượng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lượng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lượng trúng thầu của các TCTD được tính

tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các TCTD đó

7 Ưu nhược điểm của NVTTM.

7.1 Ưu điểm.

Có thể khái quát một số ưu điểm điểm của NVTTM như sau:

- NVTTM là công cụ chính sách tiền tệ chủ động: Thông qua NVTTM, NHTW có thể tạo ra những biến động có tính chất cung cấp tín hiệu cho thị trường theo mục tiêu chính sách tiền tệ và tác động vào xu hướng trên thị trường NVTTM do NHTW khởi xướng khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW (chẳng hạn như cho vay cầm cố bằng GTCG, cho vay tái chiết khấu)

do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng NHTW có thể thực hiện nghiệp vụ theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết

- NVTTM do các ngân hàng tự nguyện thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không có tính chất bắt buộc như công cụ dự trữ bắt buộc

- NVTTM có thể thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời hạn giao dịch, NHTW có thể điều chỉnh vốn khả dụng của các ngân hàng với quy mô vốn lớn-nhỏ với thời gian dài hay ngắn tuỳ theo quyết định mua bán là ngắn hay dài Tính linh hoạt của NVTTM còn thể hiện là khi thực hiện NVTTM

Ngày đăng: 22/04/2014, 18:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng - lý thuyết chung về nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại việt nam
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng (Trang 5)
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất - lý thuyết chung về nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại việt nam
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất (Trang 6)
Bảng 2.6: Kết quả giao dịch NVTTM năm 2008 - lý thuyết chung về nghiệp vụ thị trường mở và thực tế một số hình thức áp dụng và hiệu quả tại việt nam
Bảng 2.6 Kết quả giao dịch NVTTM năm 2008 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w