A MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác đã đặt nền móng cho thành tựu tư tưởng vĩ đại của nhân loại Sang đầu thế kỷ XX, được Lê nin kế thừa và phát tcho thành tựu tư tưởng vĩ đại của nhân loại. Sang đầu thế kỷ XX, được Lênin kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn khi đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mục tiêu đó. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, con người không chỉ là kết quả của sự tiến hoá cao nhất của tự nhiên và của sự phát triển xã hội, mà con người còn là chủ thể tích cực của mọi hoạt động, là chủ thể thực sự của các quá trình xã hội và là chủ thể sáng tạo duy nhất quyết định sự phát triển của xã hội. Trên cơ sở những thành tựu lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về con người và xây dựng con người mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Trong suốt quá trình lãnh đạo, những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin .
Trang 1A - MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác đã đặt nềnmóng cho thành tựu tư tưởng vĩ đại của nhân loại Sang đầu thế kỷ XX, được Lê-nin
kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành một học thuyết khoa học,cách mạng và nhân văn khi đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giảiphóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mụctiêu đó Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người không chỉ là kết quảcủa sự tiến hoá cao nhất của tự nhiên và của sự phát triển xã hội, mà con người còn làchủ thể tích cực của mọi hoạt động, là chủ thể thực sự của các quá trình xã hội và làchủ thể sáng tạo duy nhất quyết định sự phát triển của xã hội
Trên cơ sở những thành tựu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người vàxây dựng con người mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn xây dựng chủnghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa" Trong suốt quátrình lãnh đạo, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về con người và xây dựng con người mới luôn được Đảng ta vận dụng sáng tạo trongquá trình xây dựng và phát triển đất nước nhất là trong lĩnh vực giáo dục Giáo dụcnước ta, nhất là sau hơn 30 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, gópphần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu thì vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định đòi hỏi phải cónhững giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Là một giáo viên công tác trong ngành đã hơn hai mươi năm, bản thân đãchứng kiến sự chuyển mình của ngành giáo dục nói chung và của Trường trung họcphổ thông Hiệp Hòa số 3 nơi tôi đang công tác nói riêng, bản thân tôi vẫn luôn trăntrở làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục nơi trường tôi đang công tác, đónggóp vào thành tựu chung của giáo dục tỉnh Bắc Giang cũng như giáo dục toàn quốc,đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của thực tế xã hội hiện nay
Với những hiểu biết, nhận thức về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hổ Chí Minh, cùng với những kiến thức được học tập, tiếp nhận qua chương
Trang 2trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, bản thân tôi rất tâm đắc với nội dung về
vấn đề con người và quyết định chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người để nâng cao chất lượng công tác giáo dục ở Trường Trung học phổ thông Hiệp Hòa số 3 trong giai đoạn hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp, với
mong muốn đóng góp một số giải pháp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ởtrường phổ thông đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và thực tiễn chấtlượng giáo dục ở Trường THPT Hiệp Hòa số 3, đề ra những giải pháp phù hợp đểnâng cao chất lượng giáo dục ở Trường THPT Hiệp Hòa số 3 cũng như hệ thống cáctrường THPT trong toàn tỉnh Bắc Giang
3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về conngười và thực trạng công tác giáo dục ở Trường THPT Hiệp Hòa số 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thực trạng giáo dục ở Trường THPT Hiệp Hòa số 3 giai đoạn 2018 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử nghiên cứu các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh về con người Nghiên cứu các nghị quyết, văn bản, tài liệu các công trìnhnghiên cứu khác về quản lý giáo dục, quản lý dạy học, các vấn đề có liên quan đến đềtài
- Phương pháp thống kê (căn cứ vào số liệu hàng năm của đơn vị)
- Phương pháp so sánh, xử lý các số liệu, tư liệu thu thập
Trang 31.1 Cơ sở lý luận
1.2 Cơ sở thực tiễn
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPTHIỆP HÒA SỐ 3 GIAI ĐOẠN TỪ 2018-2020
2.1 Đặc điểm chung của nhà trường
2.2 Thực trạng hoạt động công tác giáo dục giai đoạn 2018-2020 của trườngTHPT Hiệp Hòa số 3
2.3 Nguyên nhân của những kết quả và tồn tại hạn chế
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT HIỆP HÒA SỐ 3 GIAIĐOẠN HIỆN NAY
3.1 Phương hướng, mục tiêu chung
3.2 Phương hướng mục tiêu cụ thể
Trang 4B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm của các nhà triết học trước Mác về con người
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ - trungđại, vấn đề bản tính con người được quan tâm hàng đầu giải quyết vấn đề này, cácnhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn chínhtrị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) và bảntính người là Bất Thiện (Pháp gia)
Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của các trường phái triết học
Ấn Độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy
tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu hình học) đối vớinhững vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướngthiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luậnđộc đáo của triết học Đạo Phật
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương tây từ Cổ đại Hy Lạp trải qua giaiđoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những quan niệm về con người trongtriết học vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học đều tự hỏi: thực chất con người
là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn trong chínhcon người Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, làmột thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ Conngười là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài Chỉ đứng sau thầnlinh Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn Chủ nghĩa duy tâm
và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạtđộng của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại
họ cho rằng phần xác quyết định và chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử
cả, và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện Càng ngày các nhà triết học
Trang 5càng tiến sâu hơn trong việc làm rõ bản chất của con người và không ngừng khắc phụcnhững hạn chế của những lý luận trước đó.
Tóm lại: Các quan niệm triết học nói trên đã đi đến những cách thức lý luận xemxét con người một cách trừu tượng Đó là kết quả của việc tuyệt đối hoá phần hồn thànhcon người trừu tượng - tự ý thức, còn chủ nghĩa duy vật trực quan thì tuyệt đối hoá phầnxác thành con người trừu tượng (Sinh học), tuy nhiên họ vẫn còn nhiều hạn chế, các quanniệm nói trên đều chưa chú ý đầy đủ đến bản chất con người
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
* Bản chất con người
Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết do con người và vì con người Do vậy,hình thành mối quan hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự pháttriển xã hội nói chung, trong xã hội xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề khôngthể thiếu được của thế giới quan Mác – Lênin
Theo quan niệm chủ nghĩa Mác – Lênin con người là khái niệm chỉ những cá thểngười như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó
Để tồn tại với tư cách là một con người trước hết con người cũng phải ăn, phải uống Điều đó giải thích vì sao Mác cho rằng con người trước hết phải ăn, mặc, ở, rồi mớilàm chính trị Nhưng chỉ dừng lại ở một số thuộc tính sinh học của con người thìkhông thể giải thích được bản chất của con người Không còn hoàn toàn mang tính tự
nhiên như ở con vật mà đã được xã hội hoá Mác viết: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội” con người là sự
kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con người vớicon vật, so sánh con người với những con vật có bản năng gần giống với con người
để tìm ra sự khác biệt đó Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có conngười mới làm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người biến đổi tự nhiên theo quyluật của tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụsản xuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuất đượcxem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác về con người
Trang 6Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố hàngđầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn nữa,con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử Thông qua hoạtđộng sản xuất vật chất con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã hội loàingoài Từ quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con người, coi như là một mục đích tựthân Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích cao cả của sự phát triển xã hội làphát triển con người toàn diện, nâng cao năng lực và phẩm giá con người, giải phóngcon người, để con người được sống với cuộc sống đích thực Và bước quan trọng nhấttrên con đường đó là giải phóng con người về mặt xã hội
Quan niệm của Mác về định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển của conngười làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của xã hộiloài người Ngày nay loài người đang sống trong bối cảnh quốc tế đầy những biếnđộng, cộng đồng thế giới đang thể hiện hết sức rõ ràng tính đa dạng trong các hìnhthức phát triển của nó xã hội loài người kể từ thời tiền sử cho đến nay bao giờ cũng làmột hệ thống thống nhất tuy nhiên cũng là một hệ thống hết sức phức tạp và chính vì
sự phức tạp đó đã tạo nên tính không đồng đều trong sự phát triển kinh tế xã hội ở cácnước, các khu vực khác nhau
* Con người là chủ thể sinh động nhất của xã hội
Sự “sinh động” ở đây có nghĩa là con người có thể chinh phục tự nhiên, cải tạo
tự nhiên Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài củagiới hữu sinh, đã là con người thì phải trải qua quy luật sinh-tử, mỗi con người đều cónhu cầu ăn, mặc ở, sinh hoạt Con người chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành laođộng sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình và chính lao động sảnxuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duynhất của vật chất, vật chất quyết định tinh thần theo logic thì lao động là nguồn gốccủa văn hoá vật chất và tinh thần
Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn con người sảnxuất ra của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người là chủ
Trang 7thể cải tạo tự nhiên Quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử chomình Con người không những là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thểcải tạo xã hội Bằng hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nềnvăn hoá vật chất, tinh thần Bằng hoạt động cách mạng, con người đánh dấu thêm cáctrang sử mới cho chính mình mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo những quyluật khách quan song quá trình vận động của con người luôn xuất phát từ nhu cầu,động cơ và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do đó đã tìm cách hạnchế hoặc mở rộng phạm vi tác dụng cuả quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mụcđích của mình Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xãhội thì không thể có xã hội, không thể có sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cảchính là của cải vật chất.
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về con người và Giáo dục - đào tạo
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin,được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người Trong đó, vấn đề con người là
vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nộidung tư tưởng của Người Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoànkết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhânriêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và pháttriển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng nhưxây dựng đất nước Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng
về con người của Hồ Chí Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành
viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài
hòa, phong phú Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp
là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là
cả loài người" Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con
người một cách chung chung, trừu tượng Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở
Trang 8mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của
con người với tư cách nhu cầu chính đáng
Trong suốt cuộc đời hoạt động , Chủ tịch Hồ Chí Minh với những cống hiến tolớn đối với cách mạng Việt Nam Những cống hiến to lớn đó, tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục và đào tạo đã tạo nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và kiến thiết nền giáodục nước nhà Những tư tưởng ấy không những có ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn đầy
ắp những bài học thực tiễn sinh động
*Về xây dựng và phát triển nền giáo dục toàn diện
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” đó là một
tất yếu lịch sử đã chứng minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm từ đó đãthấy rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Người luôn chú trọng một nền giáodục mới – một nền giáo dục với mục tiêu, nội dung và phương pháp phải hướng đếnviệc phát triển con người toàn diện, cũng như động viên mọi lực lượng tham gia xâydựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Một là: Phát triển toàn diện con người là mục đích cơ bản của nền giáo dục mới
Hai là: Nội dung giáo dục phải phong phú, toàn diện lấy chất lượng làm cốt để phát triển
con người toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ
Ba là: Nền giáo dục mới phải đảm bảo quyền bình đẳng cho tất cả mọi công dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo là nền tảng quan trọng để Đảng vàNhà nước ta hoạch định chiến lược giáo dục Việt Nam trong những năm qua và thờigian tới Nhận thức được vị trí, vai trò của giáo dục đào tạo đối với cách mạng Việt
Nam kế thừa tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”
Những kiến giải của Hồ Chí Minh về con người và giáo dục - đào tạo đã trởthành tải sản quý báu của dân tộc, là ngọn hải đăng soi đường cho sự nghiệp trồngNgười của Đảng và Nhà nước ta; là cơ sở cho việc xác định chiến lược đào tạo conngười, các chủ trương, chính sách, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục ViệtNam trong thời kỳ hội nhập và phát triển Quan điểm về đổi mới, phát triển giáo dục
Trang 9và đào tạo đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI Đây chính là cơ sở,tiền đề để Đảng ta ngày càng hoàn thiện hệ thống quan điểm, đồng thời là cơ sở đểNhà nước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo.Điều này đã được thể hiện cụ thể trong các văn kiện Đại hội Đảng, các văn kiện Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện của Bộ Chính trị, Ban Bí thưcác khóa VII, VIII, IX, X, XI, XII cũng như trong chính sách phát triển giáo dục vàđào tạo của nước ta đã xác định một cách toàn diện và cụ thể hơn quan điểm và địnhhướng đổi mới giáo dục và đào tạo để phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước
và khắc phục những tồn tại, yếu kém trong thời gian vừa qua
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
2.1.1 Vị trí của trường phổ thông
Vị trí của trường phổ thông được xác định trong Điều 2 của Điều lệ trường phổ thông
(Thông tư 32/2020 ban hành ngày 15/9/2020): Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều 28, của Luật giáo dục 2019 đã ghi rõ: Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở Tuổi của học sinh vào học lớp mười là
15 tuổi và được tính theo năm.
Mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2.2 Những yêu cầu đối với giáo dục THPT trong giai đoạn hiện nay
Luật giáo dục 2019 đã xác định “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện
con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp;
Trang 10có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhânlực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây, đặc biệt là trongNghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ làquốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước,
mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống
Trong Văn kiện đại hội XII, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước,Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sựphát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Namtrong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạyngười, dạy chữ, dạy nghề”
Như vậy, các nghị quyết và những định hướng lớn của Đảng, Nhà nước và Quốc
hội đều đã khẳng định: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu và chất lượng
giáo dục chính là yếu tố quyết định quan trọng nhất để làm nên thương hiệu củangành giáo dục
2.3 Nâng cao chất lượng giáo dục ở Trường phổ thông
2.3.1 Khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học
Chất lượng: Theo từ Việt Nam định điển Bách khoa nghĩa: “Chất lượng là cái tạo ra
sản phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bảnkhẳng định sự tồn tại của đối tượng và phân biệt nó với đối tượng khác”
Chất lượng giáo dục: “Chất lượng giáo dục là trình độ hiện thực hóa mục tiêu
giáo dục, thể hiện sự đổi mới và hiện đại hóa giáo dục theo định hướng XHCN cũngnhư khả năng thích ứng ngày càng cao của người học đối với những biến đổi nhanhchóng của thực tế Chất lượng giáo dục được xem xét, đánh giá một cách toàn diệnhay từng mặt, đối với cả ngành, từng địa phương, hay một trường học cụ thể, đối với
Trang 11người học trong từng giai đoạn, trong một hệ điều hành nhất định Chất lượng giáodục phổ thông là chất lượng của từng mặt đạo đức, trí dục, thể dục, mỹ dục, giáo dụclao động và hướng nghiệp hay nói cách khác đó là chất lượng của “Dạy chữ, dạyngười, dạy nghề thể hiện qua người học”
Chất lượng dạy học: Là sự thỏa mãn tối đa mục tiêu đã đặt ra đối với sản phẩm
GD&ĐT là sự hoàn thiện trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mức độ xác định
và khả năng đáp ứng được nhu cầu xã hội hóa cá nhân, đồng thời thỏa mãn được yêucầu đa dạng của kinh tế - xã hội luôn luôn phát triển Như vậy chất lượng gắn với hiệuquả trong và hiệu quả ngoài của sản phẩm GD&ĐT, chất lượng càng cao nghĩa là giatăng hiệu quả Chất lượng giáo dục có thể đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốcgia, địa phương, cộng đồng, nhà trường Tùy theo đối tượng mà cách nhìn chất lượng,hiệu quả khác nhau
Với đặc trưng, sản phẩm của quá trình dạy học là con người - thứ sản phẩmkhông được phép thứ phẩm, phế phẩm Giáo dục là một thứ ngành, nghề đòi hỏi chấtlượng lao động cao nhất cả về phía người giáo dục và người được giáo dục Chấtlượng giáo dục, dạy học được đánh giá qua những biểu hiện tài năng, đạo đức lốisống, lý tưởng của con người khi hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục khi hoànthành Chất lượng dạy học là chất lượng dạy và chất lượng học, sự phát huy tối đanăng lực của thầy và năng lực của học sinh để sau khi kết thúc quá trình giáo dục thuđược sản phẩm là những học sinh có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầucủa xã hội, của thực tế cuộc sống
2.3.2 Nâng cao chất lượng giáo dục trong trường phổ thông hiện nay
Nâng cao chất lượng dạy học không đơn thuần chỉ là nâng cao các hoạt động dạyhọc mà phải nâng cao quá trình tác động tới tất cả các thành tố hoạt động sư phạm cótác động hỗ trợ, giúp đỡ phục vụ cho hoạt động giáo dục của giáo viên và học sinh.Nâng cao chất lượng giáo dục cũng không chỉ là nâng cao chất lượng tri thức văn hóa
mà phải xem xét đến chất lượng giá trị, ý chí, kỹ năng và thái độ người học thông quaquá trình dạy học
Trang 12- Nâng cao chất lượng dạy học cũng là nâng cao các hoạt động toàn diện trongnhà trường, gồm các nội dung sau:
Thứ nhất: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục
Thứ hai: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp
Thứ ba: Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục các cấp
Thứ tư: Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo
Thứ năm: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục đào tạo
- Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, phải được xác định từ mụctiêu giáo dục phổ thông Muốn như vậy cần quan tâm đến các vấn đề sau:
+ Công tác xây dựng đội ngũ
+ Tăng cường CSVC, phương tiện trang thiết bị dạy học, các phòng học chứcnăng vì CSVC trường học là phương tiện dạy học, là điều kiện thiết yếu để tiến hànhdạy học và giáo dục trong nhà trường
+ Chú trọng đến công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực
+ Đặc biệt phải đổi mới phương pháp dạy học
+ Chú ý đến việc xây dựng nền nếp, kỷ cương trong công tác dạy học, thực hiênchức năng quản lý hành chính đưa các hoạt động vào kỷ cương bằng hệ thống nộiquy, quy định chặt chẽ
Trang 13Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG THPT HIỆP HÒA SỐ 3 GIAI ĐOẠN 2018-2020
1 Đặc điểm chung của huyện …….
…… là huyện trung du nằm ở phía Tây – Nam của tỉnh Bắc Giang, diện tích tựnhiên 201.120Km2, dân số 221.843 người Huyện chia thành 25 đơn vị hành chính saukhi sáp nhập xã Đức Thắng vào Thị trấn Thắng Toàn huyện có 104 trường học, 1Trung tâm giáo dục thường xuyên – dạy nghề Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiềuchuyển biến tích cực Học sinh xếp loại hạnh kiểm khá tốt đạt trên 90%; tỷ lệ học sinhkhá giỏi hàng năm đều tăng, Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 97%, Trung học phổthông đạt 98% Hiệp Hòa là huyện có thành tích cao trong bồi dưỡng học sinh giỏi;ngành giáo dục và đào tạo luôn xếp ở tốp đầu trong phong trào thi đua 10 huyện,thành phố
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hiệp Hòa, sự điều hành của chính quyền,trong những năm qua kinh tế - xã hội của huyện có nhiều bước phát triển, đời sốngvăn hóa và tinh thần của nhân dân ngày càng được quan tâm Tình hình an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội ổn định
2 Đặc điểm chung của nhà trường
Trường phổ thông cấp 2+3 Hùng Sơn, huyện Hiệp Hòa được thành lập theo
Quyết định số 30/QĐ-UB ngày 26/05/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.Trường có nhiệm vụ giáo dục, đào tạo học sinh cấp II xã Hùng Sơn và học sinh cấpIII ở 8 xã phía tây (Thái Sơn, Hòa Sơn, Hùng Sơn, Thường Thắng, Mai Trung, HợpThịnh, Đại Thành, Quang Minh) của huyện Hiệp Hòa
Năm 2003, thực hiện Quyết định 50/QĐ-UB ngày 23/7/2003 của Chủ tịchUBND Tỉnh Bắc Giang, Trường phổ thông cấp 2+3 Hùng Sơn tách ra thành trườngTHPT Hiệp Hòa số 3 và trường THCS Hùng Sơn Trường được mang tên là trườngTHPT Hiệp Hòa số 3 từ ngày đó Trải qua 21 năm xây dựng và từng bước trưởngthành, Trường THPT Hiệp Hòa số 3 đã phát triển cả quy mô và chất lượng, từ 6 lớpvới hơn 300 học sinh đã phát triển mỗi năm và hiện nay là 33 lớp với trên 1400 học
Trang 14sinh và 82 cán bộ, giáo viên Nhà trường đã có 35 phòng học và phòng chức năngtrong đó có 20 phòng học kiên cố đảm bảo cho học hai ca hàng ngày, đã có nhà đanăng, phòng thực hành Vật lí, Tin học, phòng thí nghiệm Hóa Sinh, có thư viện,phòng tổ chuyên môn,… Trường vinh dự được công nhận trường đạt Chuẩn quốc gialần 1 vào tháng 02 năm 2015 và lần 2 vào tháng 12 năm 2020.
3 Thực trạng hoạt động công tác giáo dục Trường THPT ………… giai đoạn 2018- 2021
- Các phòng học đều được trang bị đầy đủ bàn ghế phù hợp, có tivi 55 inch kết nốiInternet phục vụ cho việc học, có nhiều phòng học được sử dụng thiết bị dạy học hiện đạinhư hệ thống bảng từ
- Trường có khu vệ sinh riêng biệt, hiện đại, sạch sẽ, là điểm đến học tập mô hìnhcho nhiều trường trong toàn tỉnh Có hệ thống nước sạch, quạt mát,
- Nhà trường có biện pháp lưu trữ và bảo quản các loại hồ sơ theo quy định quanhiều năm như: Hồ sơ giáo dục giảng dạy của giáo viên và học sinh, các văn bản chỉđạo, quản lý tài sản, công tác tài chính, hồ sơ thi đua…
- Thực hiện tốt quy chế dân chủ, điều lệ trường phổ thông
3.2 Đội ngũ CBGV trong nhà trường hiện nay
Trình độ đào tạo: 100% đạt chuẩn trong đó trên chuẩn là 16 đ/c; cán bộ giảngdạy là 74; cán bộ văn phòng là 4 100% CBGV yên tâm công tác, chấp hành nghiêmchỉnh mọi chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Tích cực bồi dưỡng chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức Tự học tập và bồidưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụđược giao, đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện nay Nâng cao chất lượng tổ chức sinh
Trang 15hoạt chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; phát huy hiệuquả việc dự giờ rút kinh nghiệm, đánh giá giờ dạy của giáo viên trong các hội thi giáoviên dạy giỏi các cấp, tổ chức và quản lý các hoạt động sinh hoạt chuyên môn quamạng cho mỗi chủ đề theo hướng dẫn tại Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày08/10/2014 của Bộ GD&ĐT và Công văn số 74/SGDĐT-GDTrH ngày 22/01/2015của Sở GD&ĐT
- Thành lập tổ giáo viên cốt cán (với nhiệm vụ trọng tâm là bồi dưỡng, hỗ trợgiáo viên đổi mới phương pháp, tổ chức dạy học, áp dụng phương pháp, kỹ thuật dạyhọc tích cực vào giảng dạy
- Kết quả Giáo viên đạt Chiến sĩ thi đua và thi giáo viên giỏi các cấp như sau:
3.5.1 Công tác quản lý chỉ đạo chung
Trong các năm học, Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức cho cán bộ giáo viên
và học sinh học tập nghiêm túc kế hoạch tuyên truyền, học tập có hiệu quả các Chỉthị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của Sở GD & ĐT Bắc Giang Làm tốt công tác
Trang 16tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh việchọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Quản lý và sử dụng tốt ngân sách Nhà nước và ngân sách khác theo luật tàichính; thực hiện nghiêm túc công tác bảo quản và sử dụng tài sản công Phối hợp vớithanh tra nhân dân thực hiện nghiêm túc chế độ kiểm tra công tác sử dụng tài chính,
cơ sở vật chất, công tác cán bộ Thực hiện nghiêm các quy định của Luật phòng,chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Xây dựng trang Website, sử dụng mạng xã hội như Facebook và Zalo để đưathông tin về các hoạt động của nhà trường cũng như công tác tuyển sinh, điểm thi,lịch học và lịch công tác để học sinh và phụ huynh có thể dễ dàng theo dõi Trong cácnăm học đã triển khai và thực hiện đánh giá xếp loại cán bộ quản lý và giáo viên theochuẩn CBQL và Chuẩn giáo viên THPT
3.5.2 Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
3.5.2.1 Chất lượng giáo dục đạo đức
Trong những năm học vừa qua, Đoàn trường đã có những nội dung và biệnpháp thực hiện quản lý học sinh có hiệu quả như:
Ngay từ đầu năm học, Đoàn trường tổ chức cho 100% học sinh học tập nội quyhọc sinh, nội quy trường lớp, tổ chức cho học sinh viết cam kết thực hiện cuộc vậnđộng “Hai không”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tíchcực” các nội quy, các quy định của nhà nước về ANTT, ATGT; quán triệt nhiệm vụnăm học, giáo dục truyền thống, giáo dục pháp luật, giáo dục luật an toàn giao thông,bạo lực học đường, giáo dục theo chuyên đề hàng tháng cho học sinh nhân các ngày
lễ lớn như 20/10, 20/11, 22/12, 03/2, 08/3, 26/3, 30/4, 19/5
Thông qua các nội dung và biện pháp nêu trên công tác giáo dục đạo đức, quản
lý kỷ luật của học sinh nhà trường ngày càng tiến bộ Trong trường không có học sinh
vi phạm pháp luật, vi phạm an toàn giao thông, không có học sinh nghiện hút ma túy.Hầu hết các em học sinh đều có ý thức phấn đấu rèn luyện tốt, tự giác chấp hành nộiquy, quy định của trường và tham gia tích cực các hoạt động của nhà trường tổ chức