1 21 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ một vấn đề lớn có tính chiến lược của quốc gia Vì vậy, hơn lúc nào hết ngay từ thời bình phải xây dựng lực lượng dân quân tự v.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ một vấn đề lớn có tính chiến lượccủa quốc gia Vì vậy, hơn lúc nào hết ngay từ thời bình phải xây dựng lựclượng dân quân tự vệ có sức chiến đấu cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ củaquân đội trong thời chiến để đất nước chủ động trong mọi tình huống Dânquân tự vệ có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp để luôn có sự pháttriển là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, cácngành, các tổ chức đoàn thể xã hội
Hậu Giang là tỉnh nội địa nằm ở trung tâm tiểu vùng Tây sông Hậu;Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, qua các chươngtrình, dự án đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội Quán triệt, thực hiện nghiêmcác nghị quyết, chỉ thị của trên về lực lượng dân quân tự vệ Đảng ủy Quân sự
và Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh đã chủ động phối hợp với Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành chỉ thị, kế hoạch và triển khai toàn diện cácmặt hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ trên địa bản tỉnh Hậu Giang
Trong những năm qua, lực lượng dân quân tự vệ của huyện Vị Thủykhông ngừng rèn luyện nâng cao khả năng chiến đấu, luôn sẵn sàng hỗ trợ địaphương khi cần thiết Huyện Vị Thủy đã có nhiều giải pháp để tập trung nângcao chất lượng huấn luyện với các bài tập thiết thực, sát với tình hình thực tếđịa phương và cả những hoạt động vì cộng đồng Lực lượng dân quân tự vệ
có số lượng hợp lý, quy mô, tổ chức biên chế tinh gọn, phù hợp với yêu cầunhiệm vụ quốc phòng, công tác quân sự địa phương và khả năng bảo đảm chế
độ chính sách của địa phương theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ.Bên cạnh đó, lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức, quản lý chặt chẽ, được
Trang 2trang bị cơ bản đầy đủ vũ khí, cơ sở vật chất nên chất lượng huấn luyện, diễntập ngày một nâng cao, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ Xuất phát từ lý do trên
tôi chọn chủ đề: “Nâng cao hiệu quả huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu đối với lực lượng dân quân tự vệ xã Vị Bình, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang”
làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích: Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận chung về lực lượngdân quân tự vệ Trên cơ sở đó, thấy được vị trí, vai trò của lực lượng dân quân
tự vệ xã Vị Bình, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang, đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao chất lượng huấn luyện và sức chiến đấu của lực lượng dân quân tự
vệ xã Vị Bình, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang
Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường huấn luyện và sức chiến đấu củalực lượng dân quân tự vệ xã Vị Bình, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu đối với lực lượng dân quân tự vệ xã Vị Bình, huyện Vị Thuỷ, tỉnhHậu Giang
Phạm vi nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2017 - 2021
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3- Phương pháp luận: Khóa luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận củaphép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; vậndụng tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước về huấn luyện và sức chiến đầu của lực lượng dân quân tự vệ.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Khóa luận sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử; phương pháp khảo sát, thuthập số liệu thực tế; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống;phương pháp phỏng vấn sâu một số cá nhân có kinh nghiệm trọng lực lượng
vũ trang
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụlục( nếu có) khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu về lực lượng dân quân tự vệ
Chương 2 Thực trạng công tác huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ giaiđoạn từ năm 2017 - 2021
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huấn luyện và sức chiến đấu củalực lượng dân quân tự vệ trong thời gian tới
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN VÀ SẴN SÀNG CHIẾN
ĐẤU ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ 1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm: “Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng khôngthoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dânnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệchính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước,làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiếntranh.”
- Huấn luyện dân quân tự vệ: kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trịvới huấn luyện quân sự, rèn luyện kỷ luật gắn với xây dựng nền nếp chínhquy Bên cạnh đó, coi trọng bồi dưỡng, tập huấn cho các đối tượng sử dụngthành thạo vũ khí, trang bị có trong biên chế, làm chủ vũ khí, trang bị mới,hiện đại; đồng thời, tích cực đổi mới phương pháp, nội dung phù hợp với từngđối tượng, xây dựng phong trào thi đua sôi nổi trong lực lượng vũ trang tỉnh
1.2 Vai trò của lực lượng dân quân tự về tại địa phương
“Dân quân tự vệ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý, điều hành của Chính phủ mà trựctiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cáccấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trựctiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương.”
Dân quân tự vệ là một lực lượng chiến lược trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốcphòng toàn dân và phong trào toàn dân đánh giặc trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc và trong thời bình tại địa phương Trong tình hình hiện nay,chúng ta phải đối phó với chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ
Trang 5và sẵn sàng chiến đấu chống mọi tình huống chiến tranh xâm lược của cácthế lực thù địch thì vai trò của dân quân tự vệ càng được coi trọng.
Đánh giá vai trò dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
“Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vôđịch, là bức tường sắt của Tổ quốc Vô luận kẻ thù nào dù hung bạo đếnđâu hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tanrã”
Trong thời bình, dân quân tự vệ là lực lượng đông đảo tham giaxây dựng kinh tế, phát triển địa phương và cả nước Là lực lượng nòng cốtcùng toàn dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòngtoàn dân, phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh làm thất bại chiếnlược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, phòng chống các tệ nạn xã hội,phòng chống thiên tai, địch hoạ bảo đảm an toàn cho nhân dân
Trong thời chiến, dân quân tự vệ làm nòng cốt cho toàn dân đánhgiặc, chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng, phương tiện của địch, căngkéo, kìm chân, buộc địch phải sa lầy tại địa phương ; vận dụng linh hoạtcác hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu, tạo thế, tạo lực cho bộđội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu, tham gia phục vụ chiến đấu giữvững thế trận chiến
1.3 Nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ
+ Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nòng cốt cùngtoàn dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở
+ Phối hợp với quân đội, công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo
vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhândân, tài sản của nhà nước, của tổ chức ở cơ sở, tính mạng và tài sản của cá nhân,
Trang 6tổ chức người nước ngoài, các mục tiêu, các công trình quốc phòng, an ninh trênđịa bàn.
+ Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quảthiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác
+ Vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện các chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sởvững mạnh toàn diện
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.4 Quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ
- Quan điểm của Đảng
+ Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, quản lý,điều hành của các bộ, ngành, chính quyền địa phương và chỉ huy trực tiếp của
cơ quan quân sự; gắn xây dựng dân quân tự vệ với kiện toàn và nâng cao chấtlượng hệ thống chính trị cơ sở
+ Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”, khôngngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng chính trị
+ Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, có vị trí chiến lượctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xâydựng lực lượng dân quân tự vệ là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của cả
hệ thống chính trị
- Quan điểm của tỉnh
Trên cơ sở quy định của Luật dân quân tự vệ, cơ quan quân sự địaphương đã chủ động, tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp, banhành nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật về công tác quốc phòng,quân sự địa phương, công tác dân quân tự vệ cấp mình Phát huy vai trò của
Trang 7các phương tiện thông tin đại chúng, các hình thức tuyên truyền đến toàn dân,tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức, nâng cao trách nhiệm trongviệc xây dựng dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ
- Quy định pháp luật của Nhà nước
Luật Dân quân tự vệ năm 2019, gồm: 08 chương, 50 điều (so với Luậtnăm 2009, giảm 01 chương, 16 điều) một số điều trọng tâm về xây dựng dânquân tự vệ như sau:
- Tại điều 3, Luật Dân quân tự vệ có quy định Dân quân tự vệ là thànhphần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, chínhquyền, tính mạng, tài sản của Nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức ở địaphương, cơ sở; làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi
có chiến tranh
- Về nhiệm vụ của Dân quân tự vệ so với Luật Dân quân tự vệ năm
2009, tại Điều 5 của Luật này kế thừa và bổ sung nhiệm vụ “Tham gia thựchiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theoquy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền” để thống nhất vớiLuật Quốc phòng (năm 2018), đáp ứng yêu cầu hoạt động của Dân quân tự vệtrong tình hình mới, các hình thái chiến tranh mới trong tương lai, phù hợpvới khả năng của Dân quân tự vệ
- Về thành phần Dân quân tự vệ, tại điều 6, Luật quy định, gồm Dânquân tự vệ tại chỗ; Dân quân tự vệ cơ động; Dân quân thường trực; Dân quân
tự vệ biển; Dân quân tự vệ phòng không, pháo binh, trinh sát, thông tin, côngbinh, phòng hóa, y tế Như vậy, Luật này đã quy định dân quân thường trực làmột trong những thành phần của Dân quân tự vệ, không luân phiên trong dânquân cơ động để khẳng định địa vị pháp lý của dân quân thường trực, phù hợpvới thực tế hiện nay các địa phương đã và đang thực hiện
Trang 8- Tại điều 8 của Luật Dân quân tự vệ năm 2019, quy định thời hạn thamgia dân quân thường trực là 02 năm; đồng thời, bổ sung quy định đối với dânquân biển, tự vệ và chỉ huy đơn vị Dân quân tự vệ được kéo dài thời hạn thamgia đến hết 50 tuổi đối với nam, đến hết 45 tuổi đối với nữ để khắc phục tìnhtrạng một số địa phương, cơ quan tổ chức thiếu người để tổ chức hoạt độngcủa lực lượng Dân quân tự vệ.
- Trong Chương IV, từ điều 29 đến điều 32 quy định về hoạt động của
Dân quân tự vệ, cụ thể như: hoạt động sẵn sàng chiến đấu; hoạt động chiếnđấu, phục vụ chiến đấu; hoạt động phối hợp của Dân quân tự vệ; thẩm quyềnđiều động Dân quân tự vệ Trong đó, hoạt động sẵn sàng chiến đấu của Dânquân tự vệ có quy định: Làm nòng cốt xây dựng thôn, xã, phường, thị trấnchiến đấu; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, khu vực phòng thủ,nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng nền
an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ở địa phương Tham gia thực hiệncác biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và hoạtđộng khác
- Tại Chương V, từ điều 33 đến điều 39, quy định về: chế độ phụ cấp,bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với các chức vụ chỉ huy Dân quân tự vệ;chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ khi làm nhiệm vụ; chế độ, chínhsách đối với Dân quân tự vệ bị ốm, bị tai nạn, chết, bị thương, hy sinh
1.5 Nội dung công tác huấn luyện hàng năm
- Phương châm xây dựng: Xây dựng dân quân tự vệ theo hướng “vữngmạnh, rộng khắp, coi trọng chất lượng là chính”
+ Vững mạnh : Được thể hiện là chất lượng phải toàn diện cả về chínhtrị tư tưởng, tổ chức, trình độ chính trị, quân sự và chuyên môn nghiệp vụ, biên chếtrang bị hợp lí, thống nhất, có kỷ luật nghiêm, cơ động nhanh sẵn sàng chiến đấutốt Mỗi tổ chức dân quân tự vệ phải luôn vững vàng
Trang 9+ Rộng khắp: Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng ở hầu hết cáclàng, bản, xóm, ấp xã, phường, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, ở đâu có
tổ chức Đảng, chính quyền và có dân, đều phải tổ chức dân quân tự vệ, kể cảcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh
+ Coi trọng chất lượng là chính: Chỉ tuyển chọn đưa vào đội ngũ nhữngcông dân có lí lịch rõ ràng, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có phẩmchất chính trị, đạo đức tốt, chấp hành đúng các chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật Nhà nước, các quy định ở địa phương, có sức khoẻ phù hợp
- Tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ:
+ Về tổ chức: Dân quân tự vệ được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượngnòng cốt (lực lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiếnđấu)
Lực lượng dân quân tự vệ nòng cốt : Bao gồm dân quân tự vệ bộ binh,binh chủng và dân quân tự vệ biển (đối với vùng biển), được tổ chức thànhlực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ Đối với xã (phường) thuộc địa bàntrọng điểm về quốc phòng an ninh, biên giới ven biển, hải đảo có yêu cầuchiến đấu cao thì được xem xét tổ chức lực lượng dân quân thường trực
Lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi: Gồm cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệnòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và công dân trong độ tuổiquy định (nam từ đủ 18 đến hết 45 nữ từ đủ 18 đến hết 40 tuổi)
+ Biên chế : Biên chế dân quân tự vệ được thống nhất trong toàn quốc
Số lượng cán bộ cán bộ chiến sĩ từng đơn vị do Bộ Quốc phòng quy định+ Về cơ cấu và chức năng của cán bộ quân sự cơ sở, phân đội:
Cơ cấu biên chế ban chỉ huy quân sự được tổ chức ở xã, phường, thịtrấn, các doanh nghiệp của địa phương và các ngành của nhà nước gồm 3người: chỉ huy trưởng, chính trị viên và phó chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân
sự cơ sở chịu trách nhiệm làm tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền cấp mình
Trang 10tổ chức triển khai công tác hoạt động dân quân tự vệ Cấp xã, phường, thị trấnchỉ huy trưởng là thành viên uỷ ban nhân dân, là đảng viên, thường nằm trong
cơ cấu cấp uỷ địa phương Các cơ sở khác, chỉ huy trưởng có thể kiêm nhiệmhoặc không kiêm nhiệm Bí thư đảng uỷ, Bí thư chi bộ các cơ sở kiêm chínhtrị viên chịu trách nhiệm về công tác đảng, công tác chính trị trong dân quân
tự vệ Phó chỉ huy trưởng ở xã phường là cán bộ chuyên trách, các phó chỉhuy cơ sở còn lại là chuyên trách hoặc kiêm nhiệm Xã đội trưởng, chính trịviên xã đội, xã đội phó và tương đương do chủ tịch uỷ ban nhân dân cấphuyện bổ nhiệm theo đề nghị của uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi đã thốngnhất với huyện đội trưởng Thôn đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng
và khẩu đội trưởng dân quân tự vệ do Huyện đội trưởng bổ nhiệm theo đềnghị của của xã đội trưởng Cơ cấu cán bộ tiểu đoàn, đại đội, gồm chỉ huytrưởng, chính trị viên, phó chỉ huy trưởng Cấp trung đội, tiểu đội và tươngđương có một cấp trưởng, một cấp phó
+ Về vũ khí, trang bị của dân quân tự vệ:
Vũ khí, trang bị cho dân quân tự vệ từ các nguồn do Bộ Quốc phòng cấp,các địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch Song, dù từ nguồn nào, vũkhí trang bị đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho dân quân tự vệ quản
lí Do vậy, phải được đăng kí, quản lí, bảo quản chặt chẽ ; sử dụng đúng mụcđích và đúng quy định của pháp luật
- Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với dân quân tự vệ
+ Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị cho lực lượng dân quân tự vệ làmột nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm làm cho dân quân tự vệ nâng caonhận thức về chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức cách mạngtrong sáng Trên cơ sở đó phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thànhnhiệm vụ, bảo vệ quê hương, làng xóm, địa phương, đơn vị mình
Trang 11+ Huấn luyện quân sự: Hằng năm, lực lượng dân quân tự vệ được huấnluyện theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định, nội dunghuấn luyện phải phù hợp và sát với cơ sở do chỉ huy quân sự địa phương cáccấp xác định cụ thể Huấn luyện toàn diện cả chiến thuật, kĩ thuật, cả bộ binh
và các binh chủng, chuyên môn kĩ thuật, Thời gian huấn luyện theo quyđịnh của pháp lệnh
vị dân quân tự vệ các xã, thị trấn đều duy trì và đạt tỷ lệ nữ giới là 16% trở lên
so với quân số và lực lượng lãnh đạo Đảng đạt mức 26% trở lên Trong đó,Chính trị viên tại các đơn vị dân quân tự vệ là Bí thư Đảng ủy các xã, thị trấnkiêm nhiệm đồng thời cũng là Bí thư Chi bộ Quân sự
Xuất phát từ tình hình chung hiện nay lực lượng dân quân tự vệ có nhữngthuận lợi khó khăn sau: