1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ôn tập cuối kì 2 8a5,2022,hn doc

18 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập cuối kì 2 8a5,2022,hn doc
Tác giả Trần Quốc Tuấn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn học Việt Nam
Thể loại Ôn tập cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 125 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN TẬP CUỐI KÌ II VĂN BẢN 1 HỊCH TƯỚNG SĨ Trần Quốc Tuấn I Khái quát chung 1 Tác giả Trần Quốc Tuấn (1231? 1300), tước Hưng Đạo Vương, là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc dưới triều đại nhà Trần,[.]

Trang 1

ÔN TẬP CUỐI KÌ II VĂN BẢN 1: HỊCH TƯỚNG SĨ

-Trần Quốc

Tuấn-I Khái quát chung

1 Tác giả

Trần Quốc Tuấn (1231? - 1300), tước Hưng Đạo Vương, là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc dưới triều đại nhà Trần, là người có công lớn trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên (1285 - 1287)

2 Tác phẩm

a) Hoàn cảnh ra đời:

- Văn bản “Hịch tướng sĩ” có tên chữ Hán là “ Dụ chư tì tướng hịch văn” được công

bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long, trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), nhằm nêu cao quyết tâm đánh giặc, thắng giặc

b) Thể loại: thể Hịch (Thể văn nghị luận cổ)

c) Kết cấu (bố cục): 4 phần.

d) Phương thức biểu đạt: Nghị luận.

II Phân tích

1 Phần 1: Từ đầu đến “ còn lưu tiếng tốt”

Nội dung: Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước của các tướng sĩ

2 Phần 2: Từ “Huống chi ta cùng các ngươi…” đến “ta cũng vui lòng”

Nội dung:

- Đoạn văn lột tả sự ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù đồng thời thể hiện lòng yêu nước, bộc lộ lòng căm thù giặc cao độ, sự đau xót vô hạn trước cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo và ý chí chiến đấu quyết xả thân để bảo vệ Tổ quốc của tác giả (hoặc viết ngắn gọn hơn: “ Đoạn văn lột tả sự ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù đồng thời nói lên lòng căm thù giặc cao độ, ý chí quyết xả thân chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc của tác giả” )

3 Phần 3: Từ “Các ngươi ở cùng ta…” đến “… phỏng có được không?”

Nội dung:

-Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai:

+ Nêu mối ân tình giữa chủ và tướng

Trang 2

+ Phê phán các biểu hiện sai trái trong hàng ngũ tướng sĩ

+ Khẳng định những hành động đúng, nên làm để tướng sĩ thấy rõ điều hay lẽ phải

4 Phần 4: Từ “Nay ta chọn binh pháp …” đến hết

Nội dung: Nêu nhiệm vụ cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu

III Luyện tập

Câu 1: Chỉ ra những nét chung, nét riêng của 3 văn bản: “Chiếu dời đô”, “Hịch

tướng sĩ”, “Nước Đại Việt ta”?

* Nét chung:

- Cả 3 văn bản đều được viết bởi những nhân vật lịch sử, ra đời gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử dựng nước giữ nước và đều thấm được tinh thần yêu nước nồng nàn Tinh thần yêu nước ấy trong các văn bản vừa có nét giống nhau, vừa có nét khác nhau, tức là vừa thống nhất, vừa đa dạng

- Cả 3 văn bản đều thể hiện nổi bật ý thức về chủ quyền dân tộc, đều toát lên lời

khẳng định nền độc lập dân tộc (Lớp 7 có văn bản cùng chủ đề khẳng định độc lập,

chủ quyền của dân tộc: “ Sông núi nước Nam” - từng được coi là của Lý Thường Kiệt)

* Nét riêng:

- Ở văn bản “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, nổi bật lên khát vọng xây dựng đất nước bền bỉ và ý chí tự cường của dân tộc đang trên đà lớn mạnh

- Nét nổi bật của “Hịch tướng sĩ” là lòng căm thù sôi sục, tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm

- Nội dung chủ yếu của tinh thần yêu nước trong “Nước Đại Việt ta” (trích “Bình Ngô Đại cáo”) của Nguyễn Trãi là khẳng định mạnh mẽ nền độc lập trên cơ sở ý thức dân tộc đặc biệt sâu sắc, đồng thời đó còn là niềm tự hào cao độ về sức mạnh chính nghĩa cùng truyền thống lịch sử, văn hóa vẻ vang

Câu 2: So sánh Hịch, Cáo, Chiếu

- Giống nhau:

+ Thường do vua chúa, thủ lĩnh viết

+ Thường được viết bằng văn vần, văn xuôi, văn biền ngẫu

+ Là văn nghị luận cổ.

- Khác nhau:

+ Hịch: dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh của một phong trào + Cáo: dùng để công bố kết quả một sự nghiệp Cáo thường xuất hiện khi công cuộc chiến đấu thắng lợi

+ Chiếu: dùng để ban bố mệnh lệnh, chủ trương, đường lối và yêu cầu thực hiện

Trang 3

Câu 3: Cho đoạn văn sau: “Huống chi … về sau”.

a) Đoạn văn trên trích trong văn bản nào? Văn bản đó được ra đời trong hoàn cảnh nào?

- Đoạn văn trên trích trong văn bản “Hịch tướng sĩ” của tác giả Trần Quốc Tuấn

- Hoàn cảnh ra đời: Văn bản “Hịch tướng sĩ” có tên chữ Hán là “ Dụ chư tì tướng hịch văn” được công bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long, trước cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ hai (1285), nhằm nêu cao quyết tâm đánh giặc, thắng giặc

b) Nội dung của đoạn trích trên nói về vấn đề gì?

- Đoạn văn lột tả sự ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù đồng thời thể hiện lòng yêu nước, bộc lộ lòng căm thù giặc cao độ, sự đau xót vô hạn trước cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo và ý chí chiến đấu quyết xả thân để bảo vệ Tổ quốc của tác giả (hoặc viết ngắn gọn hơn: “ Đoạn văn lột tả sự ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù đồng thời nói lên lòng căm thù giặc cao độ, ý chí quyết xả thân chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc của tác giả” )

c) Văn bản chứa đoạn trích trên thuộc thể văn nào? Trình bày hiểu biết của em về thể loại văn học đó?

- Văn bản chứa đoạn trích trên thuộc thể hịch

- Hịch: là thể văn chính luận trung đại (thể văn nghị luận thời xưa) thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài

Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lý lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết phục

Đặc điểm nổi bật của hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe

Hịch thường được viết theo thể văn biền ngẫu (từng cặp câu cân xứng với nhau) (Thông thường bài hịch kêu gọi đánh giặc gồm 4 phần chính: phần mở đầu có tính chất nêu vấn đề, phần thứ 2 nêu truyền thống vẻ vang trong sử sách để gây lòng tin tưởng, phần thứ 3 nhận định tình hình, phân tích phải trái để gây lòng căm thù giặc, phần cuối nêu chủ trương cụ thể và kêu gọi đấu tranh)

d) Đối tượng và mục đích mà bài hịch hướng tới?

- Đối tượng: tướng sĩ - quân ta

- Mục đích: Bài hịch này được làm để khích lệ tướng sĩ học tập cuốn “Binh thư yếu lược” (Sách tóm tắt những điều cốt yếu về binh pháp) do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, khích lệ ý chí lập công danh, tinh thần xả thân vì nước, đánh bại tư tưởng bàng quan trước vận mệnh đất nước trong hàng ngũ tướng sĩ, nghĩa là đánh bại kẻ thù

Trang 4

e) Sự ngang ngược và tội ác của kẻ thù được tác giả lột tả như thế nào?

Mối ân tình giữa Trần Quốc Tuấn và tướng sĩ dựa trên những mối quan hệ nào? Mối quan hệ ân tình ấy đã khích lệ điều gì ở các tướng sĩ?

* Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù được lột tả bằng những hành động thực tế

và qua cách diễn đạt, những hình ảnh ẩn dụ:

+ Kẻ thù tham lam tàn bạo đòi ngọc, lụa, thu bạc vàng, vét kiệt của kho có hạn, hung hãn như “hổ đói”

+ Những hình tượng ẩn dụ: “uốn lưỡi cú diều”, “thân dê chó” để chỉ sứ Nguyên, cho thấy nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của Trần Quốc Tuấn Đồng thời đặt những hình tượng đó trong thế tương quan “lưỡi cú diều” – “sỉ mắng triều đình”, “thân dê chó” – “bắt nạt tể phụ”, Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm, khơi dậy lòng căm thù giặc sâu sắc

*Mối ân tình giữa Trần Quốc Tuấn và tướng sĩ dựa trên 2 mối quan hệ:

+ Quan hệ chủ - tướng: để khích lệ tinh thần trung quân, ái quốc

+ Quan hệ cùng cảnh ngộ: để khích lệ lòng ân tình thủy chung của những người

chung hoàn cảnh: “lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ

thì cùng nhau vui cười”

-> Nêu mối ân tình giữa mình và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với đạo vua tôi cũng như đối với tình cốt nhục

f) Viết đoạn văn theo cách diễn dịch để làm rõ tinh thần yêu nước thiết tha của tác giả thông qua việc tìm hiểu văn bản.

Lòng yêu nước nồng nàn, tha thiết của Trần Quốc Tuấn được bộc lộ sâu sắc, chân thành trong bài hịch Ông là tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam Ông vô cùng đau lòng trước việc tướng lĩnh dưới quyền không biết căm tức, hổ thẹn khi thấy nước bị nhục, chủ bị khinh mà lại ham vui chơi, hưởng lạc trước vận mệnh Tổ quốc đang bị giặc ngoại xâm đe dọa nên ông đã thuyết phục và khích lệ các tướng sĩ dưới quyền phải lo rửa nhục, dạy bảo quân sĩ để khi giặc đến đánh cho giặc tan tành, để lại tiếng thơm muôn thuở Ông thấy rõ dã tâm của giặc và hiểm họa của Tổ quốc, những hành động bạo tàn làm nhục quốc thể của giặc Trần Quốc Tuấn phẫn uất sục sôi hận thù và nung nấu ý chí, xả thân cứu nước Như vậy, bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, cùng với việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ liệt kê, so sánh, nói quá đã thể hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm xả thân vì nước của Trần Quốc Tuấn Quả thật, bài hịch đã kế tục truyền thống yêu nước ngàn năm của dân tộc, là ý chí quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm

Trang 5

Vì vậy, bài hịch đã từng được coi là áng “thiên cổ hùng văn” trong nền văn học nước nhà

Câu 4: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.”

a) Đoạn văn trên gồm mấy câu, mỗi câu được trình bày theo mục đích nói nào?

- Đoạn văn trên gồm 2 câu

- Cả 2 câu được trình bày theo mục đích: bày tỏ tâm trạng của Trần Quốc Tuấn với binh sĩ dưới quyền

b) Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn? Tác dụng?

- Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật: so sánh, nói quá

+ So sánh: “Ruột đau như cắt”

+ Nói quá: “xả thịt”, “lột da”, “nuốt gan”, “uống máu”, “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”

- Tác dụng: thể hiện nỗi lòng của vị chủ tướng, mong muốn xả thân chiến đấu hi sinh cho Tổ quốc, quyết không đội trời chung với giặc

c Câu văn: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng?

- Nghệ thuật: nói quá

- Tác dụng: thể hiện nỗi lòng của vị chủ tướng, mong muốn xả thân chiến đấu hi sinh cho Tổ quốc, quyết không đội trời chung với giặc

c) Viết đoạn văn diễn dịch cảm nhận về nỗi lòng của vị chủ tướng (nhân vật “ta”) trong văn bản “Hịch tướng sĩ” (Trong đoạn có sử dụng một câu ghép, một trợ từ, một câu nghi vấn bộc lộ cảm xúc, một câu cam thán)

*ĐOẠN VĂN DIỄN DỊCH:

Tác phẩm “Hịch tướng sĩ” - áng văn bất hủ được được công bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long, trước cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ 2 (1285), là lời hiệu triệu toàn quân ra trận, nêu cao

tinh thần quyết tâm chiến thắng của toàn dân tộc, đồng thời cũng chất chứa một lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha của Trần Quốc Tuấn Thật vậy, trước họa ngoại xâm,

để đánh bại tư tưởng cầu an hưởng lạc, bàng quan trước vận mệnh đất nước, Trần Quốc Tuấn đã nêu gương sáng trong lịch sử, những mẫu người lý tưởng của chế độ

Trang 6

phong kiến Trung Quốc đã sẵn sàng chết vì vua, vì chủ tướng như Kỷ Tín, Do Vu,

Dự Nhượng…, để khích lệ ý chí xả thân vì nước của các tướng sĩ đời Trần Phải chăng Trần Quốc Tuấn đã thấy rõ dã tâm của giặc phương Bắc, chúng ngang ngược, tham lam, tàn bạo cực độ, âm mưu biến nước ta thành quận huyện của chúng? Than ôi, bọn chúng như “cú diều”, “dê chó”, là “hổ đói” thật đáng khinh

bỉ và căm giận đến tận xương tủy, phải tiêu diệt chúng! Ông thể hiện tâm trạng uất hận trào dâng trong lòng với binh sĩ: đó là nỗi căm giận bốc lửa, quyết không đội trời chung với giặc, là khí phách quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, nguyện xả thân trên chiến trường cho dù thịt nát xương tan để bảo vệ Tổ quốc. Khi tự bày tỏ nỗi lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã là tấm gương yêu nước bất khuất, có tác dụng động viên to lớn đối với các tướng sĩ Trần Quốc Tuấn còn nêu mối ân tình giữa mình và các tướng sĩ để khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với đạo vua, tình cốt nhục cũng như đối với dân tộc Ông còn phê phán nghiêm khắc hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan của tướng sĩ trước vận mệnh đất nước, giúp

họ trở về con đường đúng đắn, nhận thức hơn về độc lập dân tộc Và hơn hết là ông

đã chỉ ra những việc cần làm, hãy đề cao cảnh giác, đoàn kết với nhau trước nguy cơ

bị ngoại bang lăm le bờ cõi, đặc biệt hãy chăm học “Binh thư yếu lược do chính ông biên soạn cũng là một cách rèn luyện để chiến thắng giặc thù Như vậy, bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, cùng với việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ liệt kê, so sánh, nói quá đã thể hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm xả thân vì nước của Trần Quốc Tuấn Ông chính là một tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam Quả thật, bài hịch

đã kế tục truyền thống yêu nước ngàn năm của dân tộc, là ý chí quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Vì vậy, bài hịch

đã từng được coi là áng “thiên cổ hùng văn” trong nền văn học nước nhà

* ĐOẠN VĂN QUY NẠP:

Tác phẩm “Hịch tướng sĩ” - áng văn bất hủ được được công bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long, trước cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ 2 (1285) Đây là lời hiệu triệu toàn quân ra trận, nêu cao

tinh thần quyết tâm chiến thắng của toàn dân tộc, đồng thời cũng chất chứa một lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha của Trần Quốc Tuấn Thật vậy, trước họa ngoại xâm,

để đánh bại tư tưởng cầu an hưởng lạc, bàng quan trước vận mệnh đất nước, Trần Quốc Tuấn đã nêu gương sáng trong lịch sử, những mẫu người lý tưởng của chế độ phong kiến Trung Quốc đã sẵn sàng chết vì vua, vì chủ tướng như Kỷ Tín, Do Vu,

Dự Nhượng…, để khích lệ ý chí xả thân vì nước của các tướng sĩ đời Trần Phải

Trang 7

chăng Trần Quốc Tuấn đã thấy rõ dã tâm của giặc phương Bắc, chúng ngang ngược, tham lam, tàn bạo cực độ, âm mưu biến nước ta thành quận huyện của chúng? Than ôi, bọn chúng như “cú diều”, “dê chó”, là “hổ đói” thật đáng khinh

bỉ và căm giận đến tận xương tủy, phải tiêu diệt chúng! Ông thể hiện tâm trạng uất hận trào dâng trong lòng với binh sĩ: đó là nỗi căm giận bốc lửa, quyết không đội trời chung với giặc, là khí phách quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, nguyện xả thân trên chiến trường cho dù thịt nát xương tan để bảo vệ Tổ quốc. Khi tự bày tỏ nỗi lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã là tấm gương yêu nước bất khuất, có tác dụng động viên to lớn đối với các tướng sĩ Trần Quốc Tuấn còn nêu mối ân tình giữa mình và các tướng sĩ để khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với đạo vua, tình cốt nhục cũng như đối với dân tộc Ông còn phê phán nghiêm khắc hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan của tướng sĩ trước vận mệnh đất nước, giúp

họ trở về con đường đúng đắn, nhận thức hơn về độc lập dân tộc Và hơn hết là ông

đã chỉ ra những việc cần làm, hãy đề cao cảnh giác, đoàn kết với nhau trước nguy cơ

bị ngoại bang lăm le bờ cõi, đặc biệt hãy chăm học “Binh thư yếu lược do chính ông biên soạn cũng là một cách rèn luyện để chiến thắng giặc thù Như vậy, bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, cùng với việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ liệt kê, so sánh, nói quá đã thể hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm xả thân vì nước của Trần Quốc Tuấn - ông quả là một tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam

* ĐOẠN VĂN TỔNG PHÂN HỢP:

Tác phẩm “Hịch tướng sĩ” - áng văn bất hủ được được công bố vào tháng 9/1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long, trước cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ 2 (1285), là lời hiệu triệu toàn quân ra trận, nêu cao tinh

thần quyết tâm chiến thắng của toàn dân tộc, đồng thời cũng chất chứa một lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha của Trần Quốc Tuấn Thật vậy, trước họa ngoại xâm, để

đánh bại tư tưởng cầu an hưởng lạc, bàng quan trước vận mệnh đất nước, Trần Quốc Tuấn đã nêu gương sáng trong lịch sử, những mẫu người lý tưởng của chế độ phong kiến Trung Quốc đã sẵn sàng chết vì vua, vì chủ tướng như Kỷ Tín, Do Vu, Dự Nhượng…, để khích lệ ý chí xả thân vì nước của các tướng sĩ đời Trần Phải chăng Trần Quốc Tuấn đã thấy rõ dã tâm của giặc phương Bắc, chúng ngang ngược, tham lam, tàn bạo cực độ, âm mưu biến nước ta thành quận huyện của chúng?

Than ôi, bọn chúng như “cú diều”, “dê chó”, là “hổ đói” thật đáng khinh bỉ và căm giận đến tận xương tủy, phải tiêu diệt chúng! Ông thể hiện tâm trạng uất hận trào dâng trong lòng với binh sĩ: đó là nỗi căm giận bốc lửa, quyết không đội trời

Trang 8

chung với giặc, là khí phách quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, nguyện xả thân trên chiến trường cho dù thịt nát xương tan để bảo vệ Tổ quốc. Khi tự bày tỏ nỗi lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã là tấm gương yêu nước bất khuất, có tác dụng động viên to lớn đối với các tướng sĩ Trần Quốc Tuấn còn nêu mối ân tình giữa mình và các tướng sĩ để khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với đạo vua, tình cốt nhục cũng như đối với dân tộc Ông còn phê phán nghiêm khắc hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan của tướng sĩ trước vận mệnh đất nước, giúp họ trở

về con đường đúng đắn, nhận thức hơn về độc lập dân tộc Và hơn hết là ông đã chỉ

ra những việc cần làm, hãy đề cao cảnh giác, đoàn kết với nhau trước nguy cơ bị ngoại bang lăm le bờ cõi, đặc biệt hãy chăm học “Binh thư yếu lược do chính ông biên soạn cũng là một cách rèn luyện để chiến thắng giặc thù Như vậy, bằng nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, cùng với việc sử dụng thành công các biện pháp tu từ liệt kê, so sánh, nói quá đã thể hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm xả thân vì nước của Trần Quốc Tuấn - ông quả là một tấm gương trung nghĩa sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Trang 9

CHIẾU DỜI ĐÔ

I Khái quát chung

1 Tác giả

Lý Công Uẩn (974 - 1028) tức Lý Thái Tổ, vị vua khai sáng triều Lý, là vị vua anh minh, có chí lớn, lập nhiều chiến công

2 Tác phẩm

a) Hoàn cảnh sáng tác

Chiếu dời đô được viết vào năm 1010, sau khi Lý Thái Tổ lên ngôi, nhận thấy nhiều hạn chế của kinh đô Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ viết bài chiếu này bày tỏ ý định rời đô

từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (nay là Hà Nội)

b) Thể chiếu

- Thể chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho quần thần hoặc thần dân

- Chiếu có thể viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, được công bố và đón nhận một cách trang trọng

 Chiếu dời đô được viết bằng chữ Hán, ra đời gắn liền với sự kiện trọng đại: Thành Đại La (Hà Nội) trở thành kinh đô của nước ta dưới triều Lý và nhiều triều đại phong kiến Việt Nam

II Bài tập

Câu 1: Sự đúng đắn của quan điểm dời đô về Đại La đã được minh chứng như thế nào trong lịch sử nước ta?

- Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước từ khi Lý Công Uẩn dời đô đến Đại La

- Thủ đô luôn là trái tim

- Thăng Long - Hà Nội luôn vững vàng trong thử thách về lịch sử (trong các cuộc chiến tranh xưa và nay)

Câu 2: Khi kết thúc bài “Chiếu dời đô”, tác giả viết: “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở Các khanh nghĩ như thế nào?” Những câu này có đặc điểm đặc biệt gì về cách trình bày và có ý nghĩa, tác dụng như thế nào?

- Đặc điểm về trình bày và đặt câu: là câu đưa ra mệnh lệnh nhưng nhà vua lại dùng

từ “muốn” chứ không phải là “quyết định” và lại đặt câu hỏi

Trang 10

 Tác dụng:

+ Bài chiếu như là tâm tình, trao đổi, nhà vua rất tôn trọng ý của triều đình

+ Cách diễn đạt đó khiến mệnh lệnh của nhà vua dễ đi vào lòng người, ý vua hợp với lòng dân

Câu 3: Vì sao nói “Chiếu dời đô” phản ánh ý thức độc lập tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

- Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý

đủ sức chấm dứt nạn phong kiến các cứ; thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc định đô ở Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn đất nước về một mối, nguyện vọng xây dựng đất nước độc lập, tự cường

Câu 4: Tại sao khi kết thúc bài chiếu, Lý Thái Tổ không ra mệnh lệnh mà lại đtặ câu hỏi: “Các khanh nghĩ như thế nào?” Cách kết thúc như vậy có tác dụng gì?

- Cách kết thúc mang tính chất đối thoại, trao đổi, tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần dân Bài “Chiếu dời đô” thuyết phục người đọc, người nghe bằng lý

lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân thành của nhà vua phù hợp với nguyện vọng của nhân dân

Câu 5: Thuyết minh về văn bản “Chiếu dời đô”

a.Mở bài: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

- Nêu tên tác giả, quê quán, năm sinh, năm mất, đặc điểm con người, sự nghiệp

- Khái quát về tác phẩm: “Chiếu dời đô” ra đời phản ánh ý chí tự lực tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt

b Thân bài: Tác phẩm

* Giá trị của văn bản:

- Giá trị lịch sử: là văn bản ghi dấu một sự kiện lịch sử trọng đại, mở ra một thời kì phát triển và cường thịnh của đất nước trong chế độ phong kiến

- Đồng thời bài chiếu còn thể hiện tầm nhìn sáng suốt và chí mở nghiệp lớn cho đất nước của Lý Công Uẩn

- Giá trị văn học bài “Chiếu dời đô”: là văn bản nghị luận có kết cấu chặt chẽ gồm

3 phần

Ngày đăng: 29/03/2023, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w