Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều loại phân bón lá với thành phần đa dạng, phong phú như các loại phân dạng khoáng đa lượng, vi lượng, đa vi lượng hỗn
Trang 1BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆỆ VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN LÁ BIO- HUNNIA
CÓ THÀNH PHẦN CHIẾT XUẤT TỪ THỰC VẬT
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Sinh học Thực nghiệm
Chủ nhiệm đề tài: Th.S Nguyễn Trâm Anh
Trang 2MỞ ĐẦU
Phân bón lá là một loại phân bón cung cấp và bổ sung các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng ở dạng dễ hấp thu, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho cây như mangan (Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu), silic (Si)… Dùng phân bón qua lá sẽ mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng, bởi nó không gây ảnh hưởng xấu qua đất, nước và không khí, không tồn dư các chất độc hại cho sức khoẻ con người trong sản phẩm thu hoạch, không phát sinh độc tố gây ô nhiễm môi trường, khi sử dụng không cần bảo hộ phòng độc
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều loại phân bón lá với thành phần đa dạng, phong phú như các loại phân dạng khoáng đa lượng, vi lượng, đa vi lượng hỗn hợp… Các loại phân bón này đều đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng đáng kể Hiện nay để góp phần giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học và phân bón hóa học, một số loại phân bón lá có thành phần chiết xuất từ tự nhiên như các loài rong biển, các loài thực vật,… đã được nghiên cứu và sử dụng Loại phân này cho hiệu quả cao trong việc tăng năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt là tăng khả năng kháng bệnh của cây trồng Một số sản phẩm phân bón lá được sản xuất trong nước có nguồn gốc tự nhiên như phân bón lá hữu cơ Ban mai 5 (Công ty
Cổ phần Ban Mai) do tận dụng được nguồn nguyên liệu có sẵn (phế thải chế biến thực phẩm động vật) nên giá thành hạ Ngoài một số ít các sản phẩm trong nước, hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều loại phân bón lá có nguồn gốc tự nhiên được nhập khẩu với thành phần chủ yếu là axit amin như Natubor, từ các vi sinh vật như Bioplant, các vitamin như Organim… Tuy nhiên giá thành của chúng khá cao do phải nhập khẩu hoàn toàn
Trang 3Phân bón lá Bio- hunnia do Công ty Hunnia Z-Holding của Hungary sản xuất trong thành phần có chất chiết xuất từ các loại thực vật giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt và tăng khả năng đề kháng của cây trồng đối với một số bệnh hại khó điều trị bằng thuốc bảo vệ thực vật hóa học Sử dụng phân bón lá góp phần giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sản phẩm an toàn
Tuy nhiên, giá thành nhập khẩu phân bón Bio- hunnia còn khá cao (16 USD/lít) Nếu được phía bạn trợ giúp, chúng ta có thể từng bước thay thế các nguyên liệu ngoại nhập bằng các nguyên liệu trong nước nhằm chủ động sản xuất phân bón tại Việt Nam để hạ giá thành sản phẩm Vì vậy, chúng tôi đề xuất
đề tài: “Nghiên cứu sản xuất và sử dụng phân bón lá Bio- hunnia có thành
phần chiết xuất từ thực vật”
Xuất xứ đề tài:
- Ngày 27/10/2005, Viện Ứng dụng Công nghệ đã ký với Viện Nghiên cứu chiến lược Hungary và công ty Hunia-Zholding về thỏa thuận hợp tác nghiên cứu sử dụng và sản xuất phân bón lá an toàn cho nông nghiệp
- Ngày 28/6/2006 đại diện công ty Hunnia- Zholding sang Việt Nam kết hợp với Trung tâm sinh học khảo sát điều kiện thực tế tại Việt Nam Sau đó Viện ứng dụng công nghệ đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ đưa chương trình hợp tác này vào khuôn khổ các dự án nghị định thư với nước ngoài
- Ngày 21/8/2007 đề tài được phê duyệt thuyết minh tại hội đồng cấp Nhà nước và tháng 12/2007 được cấp kinh phí để thực hiện
Trang 4Mục tiêu cụ thể:
1 Đánh giá được tiềm năng kích thích sinh trưởng và khả năng sử dụng phân bón lá có chứa chất chiết xuất thực vật phục vụ cho việc phát triển các loại phân bón hữu cơ trong tương lai
2 Lựa chọn phụ gia thay thế và phát triển kỹ thuật gia công, tạo dạng phân bón lá có chứa thành phần chất chiết xuất thực vật để chủ động gia công sản phẩm trong nước nhằm hạ giá thành sản phẩm
3 Đề xuất qui trình sử dụng phân bón lá Bio-hunnia đối với một số loại cây trồng ở Việt Nam như cà chua, súp lơ, dưa hấu
Trang 5PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sử dụng phân bón lá trên thế giới
1.1.1 Phân bón lá đối với cây trồng
Phân bón lá là loại phân bón được tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân lá Phân bón lá được cây trồng hấp thu rất nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng đạt tỷ lệ cao (đến 90% chất bón qua lá) Theo Donelon (2005) 80% lượng photpho có trong các loại phân bón thông thường có thể bị đất giữ lại, nhưng lên tới 80% lượng photpho thêm vào phân bón lá được hấp thu trực tiếp trên cây Silberbush (2002) chỉ ra rằng phân bón lá được sử dụng rộng rãi để bù đắp những thiếu hụt dinh dưỡng trong cây do việc cung cấp các chất dinh dưỡng vào gốc không đáp ứng đầy đủ Ngoài ra sử dụng phân bón lá ít hao tổn hơn so với bón vào đất và do dùng với lượng ít nên hiệu quả kinh tế hơn
Bón phân qua lá là một tiến bộ kỹ thuật được áp dụng nhiều trong những năm gần đây Trên thế giới việc sử dụng phân bón lá bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, đến những năm 80 của thế kỷ này thì việc sử dụng phân bón lá đã trở nên rất phổ biến
Trong thành phần phân bón lá có các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, do vậy phân bón qua lá giúp tăng chất lượng và giá trị thương phẩm của sản phẩm Bhonde và cộng sự (1995) đánh giá hiệu quả của kẽm, đồng và bo trên cây hành tây Kích thước và năng suất cũng như chất lượng của củ hành đã tăng lên khi áp dụng trong kết hợp các loại vi lượng hơn là sử dụng riêng lẻ Công thức áp dụng
3 ppm Zn, 1ppm Cu và 0,5 ppm Bo đã đạt năng suất cao nhất
Một số phân bón lá có chất điều hòa sinh trưởng trong thành phần nên có tác dụng kích thích cây sinh trưởng rất mạnh, thúc đẩy sự ra hoa, kết quả, giảm
Trang 6gibberellic acid đã tăng cường sự sinh trưởng và tăng sản lượng trái của cây mướp tây đáng kể
Các loại phân khoáng đa, trung, vi lượng cũng được sử dụng để bón qua lá góp phần tăng năng suất cho cây trồng Palaniappan et al (1999) áp dụng phân bón NPK với tỷ lệ tương đương với phân bón vào đất, kết quả năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất tăng lên tương đương với tỷ lệ phân bón NPK ở dạng dung dịch lỏng khi so sánh với lượng phân bón vào đất tương ứng
Các loại phân khoáng đa vi lượng được nghiên cứu nhiều hơn cả, do nó có tác dụng vừa tăng năng suất vừa tăng phẩm chất cây trồng Palaniappan (1999)
đã sử dụng phân bón N và K (100% và 75% tỷ lệ được khuyến cáo), phân bón lá Multi-K và Polyfeed với nồng độ 1% trên cà chua Việc áp dụng 100% NK và 2 lần phun Polyfeed (30 và 45 ngày sau khi gieo) và 3 lần phun Multi-K (60, 75 và
90 ngày sau gieo) đã làm tăng năng suất, chất lượng cho cây cà chua và lợi nhuận cho sản xuất
Mặc dù hiện nay các loại phân bón lá kể trên đã được nghiên cứu và sử dụng với một lượng lớn, góp phần không nhỏ vào việc tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên các loại phân bón mới vẫn tiếp tục được nghiên cứu Đó là các loại phân bón với thành phần có nguồn gốc tự nhiên thân thiện với môi trường, cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho cây, cải tiến đáng kể tốc độ tăng trưởng của cây trồng Nhìn chung các loại phân bón này có thành phần được chiết xuất từ rất nhiều nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên như rong biển, than bùn, các loại thực vật… Tác dụng của phân bón lá này có thể được tổng kết ở các mặt sau đây:
• Tăng khả năng nảy mầm (thời gian và số lượng) của các loại hạt (lúa, hoa, rau…)
• Tăng năng suất và chất lượng các loại cây trồng từ các loại rau, các loại cây có củ (khoai tây, cà rốt, củ cải…) các loại cây có quả (cam, chanh, chuối, đào… ), các loại cây ngũ cốc (ngô, lúa), tăng trọng lượng và chất lượng các loại hoa (hướng dương, lan…)
• Tăng khả năng chịu sương muối của các loại cây (cà chua, chanh, ngũ
Trang 7• Tăng khả năng hấp thu cỏc muối sinh dưỡng (N,P,K) của cõy trồng từ đất, tăng hàm lượng N trong sản phẩm cõy trồng
• Kộo dài thời gian bảo quản và hạn chế sự hư thối của cỏc loại quả (cam, chanh, tỏo ) và rau
1.1.2 Giới thiệu về phõn bún lỏ Bio- hunnia
Phõn bún lỏ Bio- hunnia được sản xuất tại Hungary, đõy là một loại phõn bún an toàn, được hiệp hội nụng dõn hữu cơ Hungary cấp chứng chỉ khuyến khớch sử dụng cho nụng nghiệp, với thành phần phự hợp tiờu chuẩn của Liờn đoàn Nụng nghiệp Hữu cơ thế giới (IFOAM)
Thành phần chế phẩm bao gồm: Cỏc nguyờn tố trung lượng như Ca 7%,
Mg 5%; cỏc nguyờn tố vi lượng như Cu 8000 mg/kg, Zn 7000 mg/kg, Mn 8000 mg/kg, Fe 4000 mg/kg và hỗn hợp chất chiết xuất từ thực vật như cỏc axit hữu
cơ, vitamin.Bio-hunnia không chỉ có tác dụng nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng mà còn có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch, giúp cây trồng chống lại sâu bệnh Bio-hunnia là một hỗn hợp bao gồm các chất ở 3 dạng: dễ
tan, huyền phù và dạng sữa Với các chất dễ tan – cung cấp ngay lập tức các
nguyên tố trung và vi lượng (Ca, Mg, các ion Zn, Mn ) cho cây trồng Với các chất dạng huyền phù có thể tồn tại trên cây trong thời gian dài (ngay cả khi trời mưa) vì thế nó có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trong thời gian dài hơn
Đó là đặc tính có tác dụng lâu của chế phẩm Các chất dạng sữa là hỗn hợp các chất chiết xuất từ hơn 60 loại cây trồng vừa có tác dụng như các chất mang ion tự nhiên, giúp các nguyên tố đa lượng và vi lượng tham gia vào quá trình trao đổi chất có hiệu quả hơn, vừa có tác dụng cản trở việc hình thành và phát triển của nấm và vi khuẩn tăng cường khả năng chống bệnh của cây trồng Đây là một chế
Trang 8lượng của dưa hấu được bón Bio- hunnia tăng khoảng 12 – 17% Nồng độ đường tăng và vị dưa ngọt hơn
Phõn bún lỏ Bio- hunnia khụng chỉ nõng cao năng suất và chất lượng cõy trồng mà cũn giỳp cõy cú khả năng phũng chống một số sõu bệnh Đó cú cỏc nghiờn cứu về tỏc dụng Bio- hunnia đối với việc hạn chế một số bệnh hại cho thấy: khi ngõm cỏc miếng khoai tõy đó lõy nhiễm vi khuẩn Erwinia caratovota trong chế phẩm Bio-hunnia nồng độ 2%, 4% trong 1 giờ, 100% cỏc miếng khoai tõy đều khụng bị nhiễm bệnh Khi xử lý Bio- hunnia nồng độ 1%, 2% và 4% cho cõy tỏo một năm tuổi đó được nhiễm trựng nhõn tạo với Erwinia amylorora cho kết quả giống như sử dụng streptomycin sulphate chuẩn Một số kết quả thử nghiệm trờn đồng ruộng cũng cho thấy Bio- hunnia khụng chỉ làm tăng năng suất chất lượng cõy trồng mà cũn cú thể tăng cường khả năng khỏng một số bệnh do nấm và vi khuẩn gõy ra Khi sử dụng cho dưa hấu, Bio-hunnia làm tăng khả năng
đề khỏng của bộ lỏ với cỏc bệnh hại gõy ra bởi, Erysiphy, Fusarium, Pseudoperonosppora Verticillium, Colletotriebum, Cladosporium, virus bệnh khảm Khi sử
dụng Bio- hunnia với liều lượng 5 lớt/ha với 3 lần xử lý cú thể giỳp hồ tiờu đỏ chống chịu hoàn toàn với virus bệnh khảm thời kỳ đầu Xử lý Bio- hunnia cho lỳa mỡ giỳp lỳa mỡ
hạn chế được bệnh khụ nhanh lỏ gõy ra bởi Helminthosporium tritib- repentis
Ngoài ra trong thành phần phõn bún lỏ Bio- hunnia cũn chứa cỏc loại dầu dễ bay hơi cú tỏc dụng xua đuổi cụn trựng gõy hại Cỏc kết quả nghiờn cứu cho thấy sử dụng Bio- hunnia thường xuyờn sẽ làm giảm 12%- 20% lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng
Trang 91.2 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón lá trong nước
1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón ở Việt Nam
Trong thời gian gần đây, nền kinh tế nước ta phát triển liên tục, đặc biệt có
sự phát triển vượt bậc trong nông nghiệp Việc tăng trưởng kinh tế nông nghiệp chắc chắn có vai trò quan trọng của thâm canh trong sản xuất và sử dụng phân bón Song việc sử dụng phân bón tập trung chủ yếu là các loại phân NPK, phân bón gốc, trong khi đó các loại phân bón lá chỉ chiếm số lượng khiêm tốn Theo
số liệu của Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2009 có ít nhất 300 doanh nghiệp đầu mối tham gia vào các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới kinh doanh phân bón (sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ) và đưa ra thị trường ít nhất 3000 loại phân bón, trong đó phân bón lá chỉ chiếm 380 loại
Hàng năm, lượng phân hóa học được sử dụng ngày càng tăng cao Trong vòng 10 năm lượng phân urê tăng 58,6%, DAP tăng 354,6%, NPK tăng 6 lần Mặc dù việc sử dụng phân bón NPK và các loại phân bón gốc là rất cần thiết để nâng cao năng suất cây trồng nhưng việc sử dụng quá nhiều và không cân đối sẽ gây tác hại không nhỏ đến môi trường đất, nước ngâm, nước tưới cũng như chất lượng nông sản Theo số liệu điều tra của vụ KH-CN, Bộ NN và PTNT năm
2009 hệ số sử dụng phân bón hóa học còn thấp: hàng năm có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân đã trực tiếp hay gián tiếp gia tăng
áp lực ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng
Ngoài việc sử dụng phân khoáng không hợp lý, hiệu lực phân bón thấp,
Trang 10Công nghệ và xử lý môi trường thì 1 gam phân chuồng tươi có 820.000- 1.050.000 con vi trùng và 1200- 2500 trứng giun Đây là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh về đường hô hấp và tiêu hóa cho con người
Việc sử dụng các loại phân hữu cơ từ rác thải chưa qua phân loại cũng dẫn đến nguy cơ tăng các kim loại Pb, Ni, Zn… trong đất Vì vậy để góp phần giảm thiểu tình trạng trên, một số giải pháp như nghiên cứu nâng cao hiệu lực phân bón để giảm thiểu ô nhiễm, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức môi trường nông nghiệp nông thôn… đã được đề ra Trong đó việc nghiên cứu và chế tạo các loại phân bón mới thân thiện với môi trường cũng được coi là một biện pháp quan trọng
1.2.2 Tình hình sử dụng phân bón lá ở nước ta
Phân bón lá được bắt đầu sử dụng rộng rãi ở nước ta từ năm 1990, đến nay thị trường phân bón đang rất đa dạng về chủng loại và thành phần Nhưng nhìn chung có thể chia thành 7 loại như sau:
1 Loại 1: Phân bón lá loại khoáng đa lượng
Hiện nay loại phân bón lá này còn được bán rất ít trên thị trường Trong thành phần của loại phân bón này chỉ có một vài nguyên tố đa lượng dưới dạng khoáng nên chỉ có tác dụng cung cấp cho cây trồng các nguyên tố đa lượng và chỉ có tác dụng vào một số thời điểm nhất định của cây trồng
Phân bón lá MPK (Mono Postassium Phosphate) có 2 thành phần: lân (52%) và kali (34%) có tác dụng giúp cây lúa mau hồi phục, kích thích ra rễ non trong môi trường bị ngộ độc phân và hữu cơ Với các loại rau và trái cây thúc đẩy chuyển hoá Nitrate dư thừa trong cây thành các amino axit và đạm, góp phần làm giảm hàm lượng nitrate có trong lá và trái, tăng hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng trên xoài, nho, dưa hấu khi pha chung với thuốc trừ bệnh
Trang 11Cũng giống như loại phân bón lá trên, hiện nay loại phân bón lá này cũng
ít được sử dụng Sử dụng phân bón lá giàu các nguyên tố vi lượng đã làm tăng năng suất rau, đồng thời làm giảm hàm lượng nitrate trong rau (là chỉ tiêu để đánh giá an toàn thực phẩm)
Các thí nghiệm với các loại phân bón lá ngoại nhập như: Palangmai từ Thái Lan, Micropholate, Multi Pholate của Anh và các loại phân bón lá được sản xuất trong nước như QS của Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm nông hoá trên cải bắp cho thấy năng suất tăng từ 15,3% – 24,5%, hàm lượng nitrate trong rau giảm 30%- 60%, với cải xanh tăng năng suất 12,7%- 23,6%, hàm lượng nitrate giảm 20%- 35%, với dưa chuột tăng năng suất từ 10%- 19,4%, giảm hàm lượng nitrate trong quả từ 25%- 35%
3 Loại 3: phân bón lá khoáng đa vi lượng hỗn hợp
Đây là loại phân bón lá được bán chủ yếu trên thị trường và được nhiều người sử dụng Loại phân bón này thường ở dạng lỏng và bột, được đóng thành gói Đây là loại phân bón thích hợp và có hiệu quả tốt với mọi cây trồng do nó cung cấp được đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết nhất cho cây trồng ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau
Hiện nay việc sản xuất các loại phân bón lá thường theo xu hướng dinh dưỡng đa thành phần, gồm các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, trung lượng và một tỉ lệ nhỏ các nguyên tố đa lượng Trong đó các nguyên tố vi lượng và trung lượng có tác dụng thúc đẩy mạnh hoạt động quang hợp, tăng quá trình khử NO3- trong cây thành NH3, các hoạt động tổng hợp axit amin, protit và các hoá chất
Trang 124 Loại 4: phân bón lá gồm hỗn hợp các axit amin
Phân bón lá này mới xuất hiện trên thị trường Thành phần của nó bao gồm 17 các axit amin, được điều chế dưới dạng lỏng và được đóng trong các chai Loại phân bón lá này có tên thương phẩm Sri Diamin 30AA hay Diamin N9- B Công ty Valagro SpA có sản phẩm Megafol là một chất kích thích sinh học dùng để phun lên lá, chứa các chiết xuất axit amin từ thực vật bằng quá trình thuỷ phân không sử dụng nhiệt hoặc axit Megafol làm tăng cường khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cây trong thời kỳ có những biến động tự nhiên, thời kỳ phát triển, ra hoa, ra quả, quả phát triển và chín
5 Loại 5: phân bón lá loại hoocmon thực vật
Phân bón này không chứa các nguyên tố dinh dưỡng, nó chỉ chứa các hoocmon thực vật (chất kích thích sinh trưởng thực vật) và thường được sản xuất
ở dạng lỏng Nên hạn chế dùng các loại phân bón này, trừ trường hợp dùng trong mục đích ra hoa trái vụ và kích thích đậu quả
Phun phân bón lá Biotex hay HVP có tác dụng cho trái cam nghịch vụ, phun phân bón lá Đầu trâu 005 làm tăng tỉ lệ đậu quả ở cam
6 Loại 6: phân bón lá hỗn hợp nhiều thành phần
Đây là xu hướng chính trong sản xuất phân bón lá hiện nay Đây là loại phân bón lá thường kết hợp nhiều thành phần dinh dưỡng, thậm chí cả hoocmon thực vật và một số hoạt chất giúp cây trồng tăng khả năng hấp thu hoặc khả năng đồng hoá các chất dinh dưỡng Thành phần của nó tương tự các loại phân bón lá hỗn hợp đa vi lượng, ngoài ra còn có thể bổ sung hoocmon thực vật
Hiện nay có rất nhiều phân bón lá dạng này, trong số đó các sản phẩm được nhập khẩu từ các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật… đang chiếm một thị phần lớn rất lớn Ngoài ra, các công ty trong nước, các viện nghiên cứu cũng sản xuất một số sản phẩm được thị trường ưa chuộng
Trang 13Phân bón lá Đầu trâu tỷ lệ 10: 10: 5 (Công ty Phân bón Bình Điền), có bổ sung vi lượng và chất điều hoà sinh trưởng (gibberelin, α-NAA, β-NOA) chuyên dùng cho lúa là một sản phẩm được bà con nông dân rất ưa chuộng
Phân bón qua lá FID (Viện Thổ nhưỡng Nông hoá) không chỉ có tác dụng tăng năng suất cây trồng mà còn có thể bổ sung iốt cho người thông qua lượng iốt hoà tan trong cây Kết quả thí nghiệm trên các loại đất phù sa sông Hồng ở
Hà Nội, đất bạc màu ở Sóc Sơn (Hà Nội), đất đỏ vàng ở Hoà Bình, đất Bazan ở Buôn Ma Thuột… phân bón lá FID đều làm tăng lượng iốt và năng suất đáng kể
Cụ thể tăng năng suất lúa 13%, đậu tương tăng 15%, rau muống 23% hàm lượng iốt ở lúa tăng lên 3 lần, cải Đông Dư tăng 1,5 lần
Viện Công nghệ Xạ hiếm (Bộ khoa học và công nghệ) đã nghiên cứu chế tạo chế phẩm phân bón lá ĐH1 có chứa vi lượng đất hiếm cho cây chè, làm tăng năng suất búp chè từ 20,5%- 38,4% và tỷ lệ búp chè loại A tăng 33%, sản phẩm chè không có mùi vị lạ, hương vị chè thơm hơn, độ đắng giảm
7 Loại 7: phân bón lá có thành phần được chiết xuất từ các nguyên liệu tự nhiên (chất chiết xuất từ thảo dược, rong biển, tảo…)
Đây là các chế phẩm dưỡng cây thế hệ mới theo khuynh hướng tích cực bảo vệ cây trồng và góp phần tạo cân bằng ổn định môi trường Loại phân bón này cho hiệu quả cao trong việc tăng năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt giúp cây trồng vượt qua được một số điều kiện bất lợi (rét, đất chua, mặn…) và giúp tăng khả năng kháng bệnh cây trồng Từ đó có thể giảm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
Một số chế phẩm đã có mặt trên thị trường như Proplant, WEGH của
Mỹ chứa 4- 6% chất chiết xuất thảo dược
Trang 14cơ sở muối hòa tan của axit humic… Với trữ lượng lên đến 1 tỷ m3, đây là một trong những nguồn nguyên liệu tiềm năng để sản xuất phân bón lá
Đôlomit là một loại cacbonnat kép của Ca và Mg, có công thức hóa học CaCO3, MgCO3 Ngoài hai thành phần chủ yếu của CaCO3 và MgCO3, đôlomit còn có một lượng nhỏ SiO2, Fe2O3, Al2O3 Trong công nghiệp phân đạm, người
ta dùng đôlomit làm chất chống dính cho loại phân bón chế từ amoni nitrat (NH4NO3) với tỷ lệ sau: chứa không dưới 19%-20% MgO, 32%-33% CaO, không quá 2.5% SiO2, 1.5% R2O3 Trong nông nghiệp, cùng với đá vôi, đôlomit cũng được dùng để sản xuất vôi lưu huỳnh khô có tác dụng diệt nấm mốc và sâu bệnh, cũng như gây trung hòa axit thổ nhưỡng để cải tạo đất Ngoài ra, đôlomit cũng thường được sử dụng để chế biến phân ủ, nhằm tạo ra phân khoáng đa thành phần
Ở nước ta đôlomit đã được phát hiện ở nhiều địa phương như Vĩnh Phú,
Hà Sơn Bình, Thanh Hóa Mỏ đôlomit có chất lượng tốt là Ngọc Long (Thanh Hóa) với hàm lượng Mg rất cao Thế nhưng từ trước đến nay chúng ta chủ yếu
sử dụng đôlomit làm vật liệu xây dựng, còn sử dụng làm phân bón rất hạn chế
Trong thành phần phân bón lá Bio- hunnia, đôlomit chiếm khoảng 90% trọng lượng Tuy nhiên đôlomit được khai thác ở các mỏ hiện nay của Việt Nam
có thành phần Ca/Mg rất khác nhau Để sản xuất phân bón Bio- hunnia theo yêu cầu của nhà sản xuất, hàm lượng CaO yêu cầu tối thiểu là 30% và MgO là 19%
Rỉ đường: là sản phẩm phụ của công nghiệp mía đường Thành phần chủ yếu của rỉ đường gồm các loại đường saccharose, glucose, maltose , ngoài ra còn một số vitamin B1, B2, PP, axit panototenic Từ lâu rỉ đường đã được biết đến là nguồn năng lượng tốt và hiệu quả cho rất nhiều vi sinh vật và những sinh vật sống để tạo ra các dạng phân ủ dùng trong nông nghiệp Trên thực tế ở Việt Nam, người ta ít sử dụng rỉ đường để phun trực tiếp cho cây trồng Tuy nhiên
Trang 15khi phun trực tiếp cho cây Rỉ đường có tác dụng cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng như các loại vitamin, cung cấp hydratcacbon, các ion kim loại từ cây mía ban đầu Ngoài ra rỉ đường còn có thể thúc đẩy quá trình hấp thu dinh dưỡng của cây trồng do nó có thể đóng vai trò là một chelate tuyệt vời, giúp chuyển hóa một vài nguyên tố dinh dưỡng sang dạng dễ tiêu cho cây trồng Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, việc sử dụng rỉ đường như là một nguồn nguyên liệu
để sản xuất phân bón lá còn chưa có nhiều nghiên cứu đề cập tới
Với nguồn nguyên liệu để sản xuất phân bón lá của nước ta khá đa dạng
và phong phú, nên thực tế đã sản xuất được khá nhiều loại phân bón lá, đặc biệt như các loại phân có nguồn gốc tự nhiên (được tách chiết từ than bùn) tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng như phân lân 333, Ban mai 5 (công ty cổ phần Ban Mai) , ưu điểm của loại sản phẩm này là tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có nên giá thành hạ Một số loại phân bón ngoài việc giúp cây trồng phát triển và tăng năng suất, tạo sản phẩm sạch còn giúp cây trồng phục hồi nhanh sau thiên tai Điển hình là sản phẩm KH của công ty cổ phần Thanh Hà giúp cây trồng đặc biệt là cây lúa phục hồi nhanh trong điều kiện ngập mặn, ngập úng, phèn chua giá rét Tuy nhiên các loại phân bón này không có khả năng giúp cây trồng kháng lại một số bệnh hại, đặc biệt là một số bệnh khó điều trị bằng thuốc
hóa học như bệnh héo vàng do nấm Fusarium sp trên cây cà chua, Phytophthora sp
trên cây hồ tiêu
Ngoài ra hiện nay để đáp ứng nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu nhiều loại phân bón có nguồn gốc tự nhiên Tuy nhiên
Trang 16Đặc biệt sản phẩm Proplant của Thái Lan sản xuất từ enzim động vật có giá bán
là 1.000.000 đ/lít Chính vì vậy việc nghiên cứu kết hợp với các nước bạn để có công nghệ sản xuất loại phân bón này là rất cần thiết
Trang 17PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phân bón lá:
• Phân bón lá Bio-hunnia do Công ty Hunnia Z – holding Hungary sản xuất
• Phân bón lá Bio-hunnia được sản xuất tại Việt Nam
- Cây trồng:
• Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill)
- Giống PT18, giống Ba Lan: sử dụng trong các thí nghiệm ở quy mô nhà lưới Giống PT18 là giống có khả năng kháng lại một số bệnh hại như bệnh héo
vàng do nấm Fusarium solani, bệnh héo xanh do Ralstonia solanacearum gây ra
Giống Ba Lan là giống mẫn cảm với các bệnh này
- Giống Thái Lùn: được sử dụng trong các thí nghiệm ở đồng ruộng, có các đặc điểm đặc trưng như sau:
+ Sinh trưởng: khỏe mạnh, sinh trưởng hữu hạn, thân lá có màu xanh đậm, quả đẹp hình tròn cùi dày, khi chín quả màu đỏ sẫm, độ Brix 4,6
+ Thời gian sinh trưởng từ 120- 130 ngày
+ Năng suất: vụ đông sớm đạt 40-45 tấn/ha, vụ đông chính đạt 50-60 tấn/ha
• Cây súp lơ (Brassica cauliflora Liz)
- Giống Hoa Sen của Nhật: sử dụng trong các thí nghiệm ở đồng ruộng, có các đặc điểm đặc trưng như sau:
Trang 18+ Năng suất: đạt 15- 16 tấn/ha
• Cây dưa hấu (Citrullus lanatus)
- Giống Hắc Mỹ Nhân VL 408: sử dụng trong các thí nghiệm ở quy mô nhà lưới
- Giống Hoa Sen 74: sử dụng trong các thí nghiệm đồng ruộng, có các đặc điểm đặc trưng như sau:
+ Sinh trưởng: dễ đậu quả, da màu xanh đậm, quả hình bầu dục, thích nghi rộng , chống chịu bệnh khá, độ Brix 12- 13
+ Thời gian sinh trưởng từ 60- 62 ngày (mùa nắng) và 65- 67 ngày (mùa mưa)
+ Năng suất: 30-40 tấn/ha
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu :
• Xã Biên Giang, Hà Đông, Hà Nội
• Xã Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội
• Xã Nguyên Giáp, Tứ Kỳ, Hải Dương
• Nhà lưới Viện Bảo vệ Thực vật, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu:
Trang 19- Loại đất: Đất phù sa của hệ thống sông Hồng (ở Hà Nội) và hệ thống sông Thái Bình (ở Hải Dương)
- Phân bón: Phân bón lá Bio-hunnia, urê, supephotphat, kalisunphat
- Thuốc bảo vệ thực vật: Zineb, Anvil…
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu thành phần phụ gia, kỹ thuật phối trộn Bio-hunnia từ thành phần hữu cơ chiết xuất từ thực vật và các chất trung vi lượng
- Nghiên cứu sử dụng một số chất thay thế trong sản xuất phân bón Bio-Hunnia
ở Việt Nam
- Nghiên cứu kỹ thuật phối trộn và tạo dạng sản phẩm
2.4.2 Nghiên cứu so sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio-hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với một số cây trồng
- So sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio- hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với súp lơ
- So sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio- hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với cà chua
- So sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio- hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với dưa hấu
2.4.3 Nghiên cứu khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón lá hunnia đối với một số cây trồng chủ yếu ở Việt Nam
Bio Nghiên cứu khả năng kích thích sinh trưởng của BioBio hunnia đối với cây cà chua
- Nghiên cứu khả năng kích thích sinh trưởng của Bio- hunnia đối với cây súp lơ
- Nghiên cứu khả năng kích thích sinh trưởng của Bio- hunnia đối với cây dưa
Trang 20- Nghiên cứu khả năng kháng bệnh của Bio- hunnia đối với một số bệnh hại trên cây cà chua
- Nghiên cứu khả năng kháng bệnh của Bio- hunnia đối với một số bệnh hại trên cây dưa hấu
2.4.5 Đề xuất qui trình sử dụng phân bón lá Bio-hunnia cho một số cây trồng
- Đề xuất qui trình sử dụng phân bón lá Bio- hunnia cho cây cà chua
- Đề xuất qui trình sử dụng phân bón lá Bio-hunnia cho cây súp lơ
- Đề xuất qui trình sử dụng phân bón lá Bio-hunnia cho cây dưa hấu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.5.1.1 Phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh
- Xác định hàm lượng NO3-: phương pháp so màu theo TCVN 206-94
- Hàm lượng đường tổng số: phương pháp Ixekutz theo TCVN 5366-91
- Hàm lượng vitamin C: phương pháp chuẩn độ Iốt theo TCVN 5246-90
- Hàm lượng axit hữu cơ tổng số: TCVN 5483-91
- Độ Brix: xác định bằng chiết quang kế
2.5.1.2 Phân tích hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
- Phân tích dư lượng thuốc BVTV: FDA- Mỹ
- Phân tích dư lượng kim loại nặng: AOAC- Mỹ
2.5.1.3 Phương pháp xác định diện tích lá, hàm lượng diệp lục trong lá
- Chỉ số diện tích lá: phương pháp cân nhanh
- Hàm lượng diệp lục trong lá: phương pháp CRAUS
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong nhà lưới
2.5.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Bio-hunnia đối với bệnh héo
Trang 21a.Công thức thí nghiệm
- Thí nghiệm tiến hành trong nhà lưới tại Viện bảo vệ thực vật được bố trí 6 công thức:
+ Công thức 1: Đối chứng - phun nước lã
+ Công thức 2: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,1%
+ Công thức 3: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,2 %
+ Công thức 4: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,3 %
+ Công thức 5: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,4 %
+ Công thức 6: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,5 %
Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, 15 cây thí nghiệm/ 1 lần nhắc lại
b.Phương pháp sử dụng chế phẩm
Hoà tan chế phẩm theo nồng độ của các công thức thí nghiệm, tiến hành phun ướt đều trên toàn bộ lá và tưới vào gốc cây Phun khi cây trồng được 5 ngày, các lần tiếp theo định kỳ phun 7 ngày 1 lần
c Phương pháp đánh giá khả năng kích thích sinh trưởng
+ Đo các chỉ tiêu chiều cao cây, số lá vào thời điểm bắt đầu trồng và sau trồng 10, 20, 30, 40 ngày
d Phương pháp lây bệnh nhân tạo:
Nguồn nấm Fusarium oxysporium lây nhiễm nồng độ 106 bào tử /ml và lây nhiễm 20 ml/cây Lây bệnh nhân tạo sau khi xử lý chế phẩm 1 tuần theo phương pháp sát thương cơ giới Quan sát và ghi nhận triệu chứng ở các thời điểm sau lây nhiễm 7, 14, 21, 28 ngày
e Các chỉ tiêu theo dõi:
Trang 222.5.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Bio-hunnia đối với bệnh héo
vàng do nấm Fusarium solani gây ra trên cà chua
a.Công thức thí nghiệm
- Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới tại Viện bảo vệ thực vật được bố trí
6 công thức:
+ Công thức 1: Đối chứng phun nước lã
+ Công thức 2: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,1%
+ Công thức 3: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,2 %
+ Công thức 4: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,3 %
+ Công thức 5: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,4 %
+ Công thức 6: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,5 %
b.Phương pháp sử dụng chế phẩm
Hoà tan chế phẩm theo nồng độ của các công thức thí nghiệm, tiến hành phun ướt đều trên toàn bộ lá và tưới vào gốc cây Phun khi chiều mát khi cây trồng được 5 -7 ngày, các lần tiếp theo định kỳ phun 7 ngày 1 lần
c Phương pháp đánh giá khả năng kích thích sinh trưởng
+ Đo các chỉ tiêu chiều cao cây, số lá vào thời điểm bắt đầu trồng và sau trồng 10, 20, 30, 40 ngày
d Phương pháp lây bệnh nhân tạo
- Nguồn nấm Fusarium solani lây nhiễm nồng độ 107-8 bào tử /ml và lây nhiễm 5 ml/cây Lây bệnh nhân tạo sau khi xử lý chế phẩm 1 tuần theo phương pháp sát thương rễ và tưới bào tử nấm vào đất Quan sát và ghi nhận triệu chứng ở các thời điểm sau lây nhiễm 7, 14, 21, 28 ngày
e.Các chỉ tiêu theo dõi:
Trang 23+ Tỷ lệ cây bị bệnh:
B
A X 100 (trong đó A là số cây bị bệnh B là số cây thí nghiệm)
+ Theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây cà chua
2.5.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm Bio-hunnia đối với bệnh héo
xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra trên cà chua
a.Công thức thí nghiệm
- Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới tại Viện bảo vệ thực vật được bố trí
6 công thức:
+ Công thức 1: Đối chứng phun nước lã
+ Công thức 2: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,1%
+ Công thức 3: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,2 %
+ Công thức 4: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,3 %
+ Công thức 5: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,4 %
+ Công thức 6: phun phân bón lá Bio-hunnia 0,5 %
b.Phương pháp sử dụng chế phẩm
Hoà tan chế phẩm theo nồng độ của các công thức thí nghiệm, tiến hành phun ướt đều trên toàn bộ lá và tưới vào gốc cây Phun khi chiều mát khi cây trồng được 5- 7 ngày, các lần tiếp theo định kỳ phun 10 ngày 1 lần
c Phương pháp đánh giá khả năng kích thích sinh trưởng
Đo các chỉ tiêu chiều cao cây, số lá vào thời điểm bắt đầu trồng và sau trồng 10, 20, 30, 40 ngày
d Phương pháp lây bệnh nhân tạo
Trang 24e.Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỷ lệ cây bị bệnh:
B
A X 100 (trong đó A là số cây bị bệnh B là số cây thí nghiệm)
+ Theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của cây cà chua
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
2.5.3.1 Thí nghiệm diện hẹp
a.Thí nghiệm trên súp lơ
- Các công thức thí nghiệm
CT 1: đối chứng (phun nước lã)
CT 2: phun phân bón Bio-hunnia 0,1 %
CT 3: phun phân bón Bio-hunnia 0,2 %
CT 4: phun phân bón Bio-hunnia 0,3 %
CT 5: phun phân bón Bio-hunnia 0,4 %
- Thời kỳ phun: sau khi ra ruộng 5-7 ngày bắt đầu phun, giai đoạn đầu phun 7 ngày /lần, khi cây chéo nõn phun 10 ngày/lần
- Phương pháp bố trí: 30 m2/ô, theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, lặp lại 3 lần
- Mật độ khoảng cách: 0,40 x 0,45 m
- Trên nền bón phân: phân chuồng 500 kg/sào; đạm ure 5 kg/sào; phân lân 4 kg/sào; phân kali 8 -10 kg/sào
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển: chiều cao cây và số lá/cây
+ Các chỉ tiêu cấu thành năng suất: đường kính hoa, trọng lượng hoa lơ, năng suất kg/ô
b.Thí nghiệm trên cà chua
- Bố trí thí nghiệm: 30 m2/ô, theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, lặp lại 3 lần
Trang 25CT 1: đối chứng (phun nước lã)
CT 2: phun phân bón Bio-hunnia 0,1 %
CT 3: phun phân bón Bio-hunnia 0,2 %
CT 4: phun phân bón Bio-hunnia 0,3 %
CT 5: phun phân bón Bio-hunnia 0,4 %
- Mật độ khoảng cách: 0,7 x 0,4 – 0,45 m
- Trên nền bón phân:
+ 500 kg phân chuồng hoai mục/sào
+ Urê: 12 kg/sào
+ Super lân: 20 kg/sào
+ Kali sunphat: 10 kg/sào
- Thời kỳ phun:
· Cây trong bầu: phun 1-2 lần với nồng độ 0,1%
· Cây ngoài đồng ruộng:
+ Lần 1: sau trồng 7 – 10 ngày
+ Lần 2, 3: cách nhau 7 ngày
+ Lần 4: khi cây xuất hiện nụ non
+ Lần 5: quả non đang phát triển
+ Lần 6, 7, 8: trước mỗi đợt thu hoạch quả 10 ngày
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển: chiều cao cây, số lá
+ Các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất: đường kính quả, số
Trang 26- Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, nhắc lại 3 lần
+Cây con trong bầu: phun Bio- hunnia nồng độ 0,1%
Lần 1: khi xuất hiện 2 lá mầm
Lần 2: trước khi trồng ra ruộng 1 ngày
+ Cây ngoài đồng ruộng
Lần 1: sau trồng 5 – 7 ngày
Lần 2, 3: cách nhau 7 ngày
Lần 4: khi xuất hiện hoa đực
Lần 5: khi quả bắt đầu hình thành
Lần 6: khi quả đạt trọng lượng khoảng 1,0 kg (đạt 1/3 kích thước quả cuối cùng)
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Sinh trưởng: tỷ lệ nảy mầm, số lá /dây chính, chiều dài dây chính
Trang 27+ Năng suất: trọng lượng trung bình quả, năng suất (kg/ô, kg/sào)
2.5.3.2 Mô hình diện rộng
a.Thí nghiệm trên súp lơ
- Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí trên diện rộng của nhiều hộ nông dân với tổng diện tích các hộ thí nghiệm là 5000 m2
- Diện tích các hộ chia thành các ô theo số công thức thí nghiệm
- Địa điểm thí nghiệm: xã Biên Giang - Hà Đông - Hà Nội
- Công thức thí nghiệm:
+ CT 1: đối chứng (phun nước lã)
+ CT2: phun phân bón Bio-hunnia nồng độ 0,2%
+ CT 3: phun phân bón Bio- hunnia nồng độ 0,3%
- Thời kỳ phun: sau khi ra ruộng từ 5 -7 ngày bắt đầu phun Giai đoạn đầu phun
7 ngày/lần, khi cây chéo nõn phun 10 ngày/lần
- Lượng phân bón sử dụng: 4 lít/ ha
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây: số lá/cây, chiều cao cây + Tình hình sâu bệnh hại
+ Các chỉ tiêu cấu thành năng suất
+ Chỉ tiêu năng suất: năng suất thực tế, năng suất lý thuyết
+ Hiệu quả kinh tế /1ha
+ Một số chỉ tiêu chất lượng: đường tổng số, axit hữu cơ tổng số, chất xơ
tổng số, Vitamin C, hàm lượng nitrat (NO3-) trong súp lơ
Trang 28- Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí trên diện rộng của nhiều hộ nông dân với tổng diện tích các hộ thí nghiệm là 5000 m2
- Diện tích các hộ chia thành các ô theo số công thức thí nghiệm
- Địa điểm thí nghiệm: xã Yên Nghĩa - Hà Đông - Hà Nội
- Công thức thí nghiệm:
+ CT 1: đối chứng (phun nước lã)
+ CT2: phun phân bón Bio-hunnia 0,2%
+ CT 3: phun phân bón Bio- hunnia 0,3%
- Thời kỳ phun: tương tự diện hẹp
- Lượng phân bón sử dụng: 5 lít/ ha
- Nền bón phân: tương tự diện hẹp
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển: chiều cao cây, số lá, thời gian
sinh trưởng qua các giai đoạn
+ Các chỉ tiêu cấu thành năng suất: tỷ lệ đậu quả, số chùm quả/cây, số
quả/cây, đường kính quả, trọng lượng trung bình quả
+ Các chỉ tiêu năng suất: năng suất thực tế, năng suất lý thuyết
+ Một số chỉ tiêu về sâu, bệnh hại
+ Hiệu quả kinh tế / ha
+ Các chỉ tiêu chất lượng: Hàm lượng NO3-, độ Brix, hàm lượng vitamin
C (%), hàm lượng đường tổng số (%), hàm lượng axit (%),
+ Hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
c.Thí nghiệm trên dưa hấu
- Cách bố trí: Thí nghiệm được bố trí trên diện rộng của nhiều hộ nông dân với tổng diện tích các hộ thí nghiệm là 5000 m2
Trang 29- Địa điểm thí nghiệm: xã Nguyên Giáp – Tứ Kỳ - Hải Dương
- Các công thức thí nghiệm:
+ CT 1: đối chứng – phun nước lã
+ CT 2: phân bón Bio-hunnia nồng độ 0,3%
+ CT 3: phun phân bón Bio- hunnia nồng độ 0,4%
- Thời kỳ phun: tương tự diện hẹp
- Lượng phân bón sử dụng: 4,5 lít/ ha
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Sinh trưởng: số lá /dây chính, chiều dài dây chính
+ Chỉ tiêu về sâu, bệnh hại
+ Các chỉ tiêu về năng suất và năng suất: trọng lượng trung bình quả, năng
suất lý thuyết, năng suất thực thu
+ Hiệu quả kinh tế /ha
+ Một số chỉ tiêu cảm quan (vị ngọt, mức độ cát, màu sắc quả), đường kính quả, chiều dài quả, độ dày thịt quả, độ dày cùi quả
+ Một số chỉ tiêu chất lượng: độ Brix, hàm lượng đường tổng số (%), hàm
lượng axit (%)
2.5.4 Phương pháp điều tra bệnh hại:
Theo phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật quyển I, II và III ấn hành năm 1999, 2000 của Viện Bảo vệ Thực vật
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu:
Theo chương trình IRRISTAT, EXCEL
Trang 30PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN PHỤ GIA, KỸ THUẬT PHỐI TRỘN HUNNIA TỪ THÀNH PHẦN HỮU CƠ CHIẾT XUẤT TỪ THỰC VẬT VÀ CÁC CHẤT TRUNG VI LƯỢNG
BIO-3.1.1 Nghiên cứu sử dụng một số chất thay thế trong sản xuất phân bón Bio-Hunnia ở Việt Nam
Để sản xuất phân bón lá Bio-hunnia, ở Hungrary đã sử dụng các nguyên liệu bao gồm rỉ đường, đôlomit (hỗn hợp Ca- Mg- CaCO3), các muối ZnSO4, CuSO4, MnSO4 và các chất chiết xuất thực vật Trong đó chất chiết xuất thực vật chiếm khoảng 10%, các muối vi lượng, đôlomit, rỉ đường chiếm khoảng 90% Nhằm hạ giá thành sản phẩm tối đa trong việc sản xuất phân bón Bio- hunnia, chúng tôi đã nghiên cứu để thay thế các chất có thể sản xuất ở Việt Nam đó là muối vi lượng, đôlomit, rỉ đường
a Rỉ đường:
Để sử dụng rỉ đường cho việc sản xuất phân bón lá, chúng tôi tiến hành loại bỏ một số cặn khó lắng trong thành phần rỉ đường Quá trình xử lý được tiến hành như sau:
Trang 31Một số loại muối khác nhau như CuSO4, ZnSO4, MnSO4 đều không có yêu cầu gì đặc biệt, vì vậy có thể sử dụng để thay thế trong sản xuất phân bón lá
3.1.2 Nghiên cứu kỹ thuật phối trộn và tạo dạng sản phẩm
Do chế phẩm chứa tất cả các nguyên tố quan trọng với hàm lượng cao nhưng không gây độc hại cho cây trồng nên việc sản xuất phân bón Bio- hunnia dựa trên nguyên tắc tạo phức đa thành phần Quy trình điều chế bao gồm 5 phần với các bước như sau:
+ Điều chế hỗn hợp dinh dưỡng vi lượng: hòa tan hoàn toàn hỗn hợp muối
vi lượng trong nước nóng
+ Tạo phức nóng giữa rỉ đường và hỗn hợp các muối trên (P 1)
+ Điều chế hỗn hợp chất dinh dưỡng trung lượng: hòa đôlomit vào nước nóng
+ Tạo phức giữa P 1 và dung dịch đolomit (phức P 2)
+ Phối trộn các chất theo tỷ lệ được tính toán trước: phối trộn chất chiết xuất thực vật với hỗn hợp các muối trên
Trên cơ sở các bước thí nghiệm trên chúng tôi đưa ra qui trình điều chế phân bón Bio-hunnia như sau:
Trang 32Sơ đồ quy trình sản xuất phân bón Bio- hunnia ở Việt Nam
T= 700C
Nước nóng
Phức nóng (P 1)
Định lượng sản phẩm phân tích chất lượng
Muối vi lượng
Rỉ đường
Chất chiết xuất thực vật
Trang 33Trong đó:
1: Nước đun đến nhiệt độ 700C
2: Muối vi lượng bao gồm MnSO4 34,5g; ZnSO4 49,5g; CuSO4 50g
7: Chất chiết xuất từ thực vật đã được tách chiết của Hungary
8: Trộn chất chiết xuất thực vật (90ml) với phức P2
9: Định lượng đến 1 lít và điều chỉnh pH = 5,5
Trang 34Với việc điều chế phân bón theo qui trình trên chúng tôi thu được phân
bón Bio-hunnia có các thành phần các nguyên tố vi lượng và đa lượng như sau
(bảng 1):
Bảng 1: Thành phần các nguyên tố trong phân bón Bio-Hunnia
Tỷ lệ % STT Thành phần
Phân bón sản xuất tại Việt Nam Phân bón sản xuất tại Hungary
* Với đolomit có tỷ lệ CaO 31% và MgO là 19%
Với thành phần như trên, phân bón Bio-hunnia được sản xuất tại Việt Nam có
thành phần tương tự với phân bón được sản xuất tại Hungary
Căn cứ theo tỷ lệ các chất đã phối trộn, chúng tôi đã tính toán giá thành phân
bón Bio- hunnia được sản xuất tại Việt Nam như sau:
Trang 35Bảng 2: Giá thành phân bón Bio- hunnia sản xuất tại Việt Nam
TT Hóa chất Lượng dùng/1 lít SP Đơn giá TT/1 lít sản phẩm
1 Chất chiết xuất thực vật (mua của Hungary) 90 ml 1.500.000 đ/lít 135.000
Với việc sử dụng một số thành phần thay thế có thể sản xuất ở Việt nam
(chiếm 90% trọng lượng), kết hợp với việc sử dụng hỗn hợp chất chiết xuất thực
vật từ Hungary, đã điều chế thành công phân bón Bio-hunnia với thành phần
phân bón được sản xuất tại Hungary Theo ước tính, giá thành phân bón được
sản xuất tại Việt Nam có thể giảm 43% so với nhập ngoại hoàn toàn
3.2 NGHIÊN CỨU SO SÁNH KHẢ NĂNG KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG
CỦA PHÂN BÓN BIO-HUNNIA SẢN XUẤT Ở HUNGARY VÀ Ở VIỆT
NAM ĐỐI VỚI MỘT SỐ CÂY TRỒNG
3.2.1 So sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio-
hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với súp lơ
Để so sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio-Hunnia sản
Trang 36- Công thức 3: Phân bón Bio-hunnia sản xuất ở Hungary nồng độ 0,3%
Thí nghiệm được tiến hành trên súp lơ giống Hoa Sen (Nhật Bản), tại xã Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội
3.2.1.1 Ảnh hưởng của phân bón Bio-Hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt
Nam đối với sinh trưởng và năng suất súp lơ
Tiến hành phun cả hai loại chế phẩm Bio- hunnia Việt Nam và Hungary với nồng độ 0,3% cho súp lơ trong bầu sau khi cây bắt đầu xuất hiện lá thật Theo dõi khả năng hồi xanh của súp lơ trên ruộng Kết quả được trình bày ở bảng 3
Bảng 3: Ảnh hưởng của hai loại phân bón đến súp lơ giai đoạn hồi xanh
Chỉ tiêu Công thức
Tỷ lệ sống (%)
Chiều cao cây (cm) Số lá/cây
CT 1 (ĐC) 91,1 15 6,3
Kết quả bảng 3 cho thấy:
Tỷ lệ sống của cây con sau thời gian hồi xanh (7 ngày sau trồng) ở cả hai công thức có phun phân bón đều là 100%, tỷ lệ này ở công thức đối chứng là 91,1%
Tiếp tục theo dõi sinh trưởng của súp lơ sau giai đoạn hồi xanh, kết quả được trình bày ở bảng 4
Trang 37Bảng 4: Động thái sinh trưởng của cây súp lơ sau khi sử dụng phân bón lá
14 ngày sau trồng 35 ngày sau trồng 52 ngày sau trồng 62 ngày sau trồng Chỉ tiêu
Công thức Cao cây (cm) lá/cây Số Cao cây (cm) lá/cây Số Cao cây (cm) lá/cây Số Cao cây (cm) lá/cây Số
CT 1 (ĐC) 18,0 6,2 40,2 12,7 60,7 16,5 60,7 16,5
Kết quả bảng 4 cho thấy:
- Sử dụng phân bón lá làm cho chiều cao cây tăng có ý nghĩa so với đối chứng
ở tất cả các thời điểm nghiên cứu Từ giai đoạn cây đang sinh trưởng (14 ngày sau
trồng) cho đến khi thu họach (62 ngày sau ra ruộng), chiều cao cây ở công thức đối
chứng thay đổi tương ứng từ 18,0cm đến 60,7cm; trong khi đó ở các công thức có sử
dụng phân bón lá chiều cao cây thay đổi tương ứng là từ 20,5- 20,7cm đến 64,5cm-
65,5cm
- Số lá/cây thay đổi có ý nghĩa so với đối chứng tại các thời điểm nghiên
cứu Đồng thời khi so sánh tác động của 2 loại phân bón này đối với chiều cao
cây và số lá/cây cũng không thấy sự thay đổi có ý nghĩa
- Như vậy các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của 2 loại phân bón đến
sinh trưởng súp lơ đều cho thấy hai loại phân bón này có hiệu quả tương
tự nhau khi tác động lên số lá và chiều cao cây súp lơ Kết quả nghiên cứu
Trang 38Bảng 5: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất súp lơ
Chỉ tiêu
Công thức
Đường kính hoa
lơ (mm)
Trọng lượng hoa lơ (g)
Năng suất thực thu (kg/ô)
Năng suất thực thu (tấn/ha)
Tăng so với đối chứng (%)
Kết quả bảng 5 cho thấy:
- Các công thức thí nghiệm đều có chỉ số cấu thành năng suất cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng Đường kính hoa lơ và trọng lượng hoa lơ ở công thức đối chứng
là 184,7 mm và 673,9g; ở các công thức thí nghiệm tương ứng là 189,5mm và 817,4g; 190,4 mm và 821,7 g
- Năng suất thu được ở các công thức thí nghiệm cũng tăng có ý nghĩa so với đối chứng Năng suất ở công thức đối chứng là 46,5kg/ô trong khi đó ở hai công thức thí nghiệm năng suất thu được là 56,4 kg/ô và 56,7kg/ô; tăng so với đối chứng tương ứng là 21,3% và 21,9%
- Khi so sánh các chỉ số cấu thành năng suất và năng suất ở hai công thức thí nghiệm không thấy có sự sai khác có ý nghĩa Các hoa lơ thu được ở hai công thức thí nghiệm đều xanh và chắc (ảnh 1)
Trang 39
Ảnh 1: Ảnh hưởng của hai loại phân bón đến kích thước hoa lơ
Như vậy phân bón Bio-hunnia được sản xuất ở Việt Nam và Hungary
có tác dụng tương tự nhau lên sinh trưởng và năng suất súp lơ
3.2.1.2 Ảnh hưởng của phân bón Bio-Hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với chất lượng súp lơ
Kết quả được trình bày ở bảng 6
Bảng 6: Một số chỉ tiêu hóa sinh trong súp lơ Chỉ tiêu
Công thức
Đường tổng
số (%)
Chất xơ tổng số (%)
Hàm lượng vitamin C (%)
CT 1 (ĐC) 1,27 1,2 0,037
Kết quả bảng 6 cho thấy:
- Một số chỉ tiêu hóa sinh (đường tổng số, chất xơ tổng số, vitamin C ở các công
Trang 403.2.2 So sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio-Hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với cà chua
Để so sánh khả năng kích thích sinh trưởng của phân bón Bio-Hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với cà chua, chúng tôi sử dụng hai loại phân bón trên với cùng nồng độ và quy trình như đã xử lý cho cà chua ở phần phương pháp thí nghiệm, với các công thức thí nghiệm như sau:
- Công thức 1: Đối chứng – phun nước lã
- Công thức 2: Phân bón Bio-hunnia sản xuất ở Việt Nam nồng độ 0,3%
- Công thức 3: Phân bón Bio-hunnia sản xuất ở Hungary nồng độ 0,3% Thí nghiệm được bố trí tại thôn Hòa Bình, xã Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội
3.2.2.1 Ảnh hưởng của phân bón Bio-Hunnia sản xuất ở Hungary và ở Việt Nam đối với sinh trưởng và năng suất cà chua
Cây con sau trồng ra ruộng 7 ngày sẽ bắt đầu sinh trưởng thân lá Lúc này tiến hành đếm tỷ lệ cây sống và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Kết quả thu được ở bảng 7
Bảng 7: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cà chua giai đoạn cây con
Chỉ tiêu Công thức
Tỷ lệ sống (%)
Chiều cao cây (cm) Số lá/cây
CT 1 (ĐC) 92,2 14,0 4,0