1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên

81 382 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 880,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc khác nhau trong khẩu phần đến tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng của gà sinh sản Lương Phượng .... Ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc trong khẩu

Trang 1

NGUYỄN VĂN ĐÍCH

NGHIÊN CỨU CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG BỘT NGỌN, LÁ LẠC CHO GÀ CÔNG NGHIỆP

NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Hiền Lương

Thái Nguyên – năm 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công

bố dưới bất kỳ hình thức nào

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Đích

Trang 3

- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: TS Phạm Thị Hiền Lương đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong

quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Đích

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 (cho 1 lần thí nghiệm) 34

Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn của gà thí nghiệm 1 34

Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 36

Bảng 2.4 Giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn của gà thí nghiệm 2 37

Bảng 3.1 Ước tính sản lượng ngọn, lá lạc ở Thái Nguyên và một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, năm 2009 40

Bảng 3.2 Kết quả phơi, sấy ngọn và lá lạc bằng các phương pháp khác nhau 41

Bảng 3.3 Thành phần hóa học của ngọn, lá lạc khi thu hoạch củ (%) 43

Bảng 3.4 Thành phần một số loại vitamin trong ngọn, lá lạc 45

Bảng 3.5 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm (%) 46

Bảng 3.6 Khối lượng gà thí nghiệm qua các kỳ cân(g) 47

Bảng 3.7 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) 48

Bảng 3.8 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 50

Bảng 3.9 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) 51

Bảng 3.10 Tiêu tốn ME/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (Kcal) 52

Bảng 3.11 Tiêu tốn Protein/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (g) 52

Bảng 3.12 Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm (n=48) 53

Bảng 3.13 Thành phần hoá học của thịt gà thí nghiệm 54

Bảng 3.14 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (đ) 55

Bảng 3.15 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (g) 56

Bảng 3.16 Năng suất trứng qua các tuần tuổi (quả) 57

Bảng 3.17 Năng suất và tỷ lệ trứng giống qua các tuần đẻ 58

Bảng 3.18 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 59

Bảng 3.19 Ảnh hưởng của bột ngọn, lá lạc đến chất lượng trứng 61

Bảng 3.20 Tỷ lệ ấp nở của trứng gà thí nghiệm 62

Bảng 3.21 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng, 10 trứng giống 63

Bảng 3.22 Chi phí thức ăn cho 10 trứng và trứng giống 64

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm 48 Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 49 Hình 3.3 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 50

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 2

4 Những đóng góp mới của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở gia cầm 3

1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 5

1.1.3 Vài nét về giống gà Lương Phượng 17

1.1.4 Vài nét về giống gà Ross 308 17

1.1.5 Một số đặc điểm sinh vật học của cây lạc 18

1.1.6 Cơ sở để đánh giá chất lượng thức ăn thực vật 19

1.1.7 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi 20

1.1.8 Các hạn chế của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi 23

1.1.9 Sử dụng thân lá lạc trong chăn nuôi 23

1.1.10 β – caroten và xantophin trong thức ăn thực vật 24

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Xác định năng suất, sản lượng ngọn, lá lạc; thành phần hoá học, vitamin và giá trị dinh dưỡng của bột ngọn, lá lạc bằng các phương pháp phơi, sấy khác nhau 40

3.1.1 Xác định năng suất và sản lượng ngọn, lá lạc khi thu hoạch củ 40

3.1.2 Phương pháp chế biến ngọn, lá lạc 41

Trang 8

3.1.3 Kết quả phân tích thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của

ngọn, lá lạc 42

3.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc khác nhau trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà thương phẩm Ross 308 46

3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 46

3.2.2 Khả năng sinh trưởng của gà thịt 47

3.2.3 Khả năng chuyển hoá thức ăn của gà thí nghiệm 51

3.2.6 Chi phí thức ăn cho gà thí nghiệm 55

3.3 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc khác nhau trong khẩu phần đến tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng của gà sinh sản Lương Phượng 56

3.3.1 Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm 56

3.3.2 Năng suất trứng 56

3.3.3 Năng suất trứng giống và tỷ lệ trứng giống 58

3.3.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc trong khẩu phần đến khối lượng trứng của gà thí nghiệm 59

3.3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột ngọn, lá lạc trong khẩu phần đến chất lượng trứng 60

3.3.6 Tỷ lệ ấp nở 62

3.3.7 Tiêu tốn thức ăn cho sản lượng trứng và trứng giống 63

3.3.8 Chi phí thức ăn cho sản lượng trứng và trứng giống 64

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong chăn nuôi, việc sản xuất bột cỏ, bột lá và phối hợp chúng vào thức ăn hỗn hợp của gia súc, gia cầm được thực hiện nhiều trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Bởi vì, bột cỏ không chỉ có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi, mà còn góp phần

hạ giá thành sản phẩm Ở một số nước trên thế giới việc sản xuất bột cỏ, bột

lá đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến, như: Thái Lan, Ấn Độ… Qua nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước , nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn bột cỏ thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn Thức ăn chiếm 60-70% giá thành sản phẩm chăn nuôi và càng ngày nó càng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng sản phẩ m, đến an toàn thực phẩm cho con người và an toàn môi trường sinh thái Mặc dù quan trọng như vậy , nhưng đến nay , các nghiên cứu tìm ra các loại cây thức ăn có tiềm năng để sản xuất bột lá và sử dụng cho gà chưa nhiều

Lạc là cây trồng có diện tích và sản lượng lớn ở nước ta Hàng năm theo ước tính, ngoài củ, sản lượng thân lá lạc đạt khoảng 1,2 – 1,4 triệu tấn Nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền, đang bị bỏ phí nhiều và làm cơ sở cho việc xây dựng dự án sản xuất thử các cây cỏ có tiềm năng, làm thức ăn bổ sung cho gia cầm, lợn, cá trong những năm tiếp theo Việc nghiên cứu sử dụng bột ngọn, lá lạc bổ sung cho gia cầm nói chung và

gà nuôi nhốt nói riêng là rất cần thiết Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại Thái Nguyên”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của bột

ngọn, lá lạc, làm cơ sở cho việc phối hợp khẩu ăn cho gà

Trang 10

- Xác định được mức bổ sung bột ngọn, lá lạc vào khẩu phần của gà đẻ

trứng và gà thịt nuôi nhốt

3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thêm nguồn tư liệu về thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của bột ngọn, lá lạc làm thức ăn

bổ sung cho vật nuôi

Kết quả nghiên cứu sử dụng bột ngọn, lá lạc làm thức ăn bổ sung cho

gà sẽ đưa ra tỷ lệ thích hợp trong việc phối hợp khẩu phần cho gà đẻ và gà thịt nuôi nhốt

4 Những đóng góp mới của đề tài

Những nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào nguồn tư liệu về thành phần hoá học, vitamin và giá trị dinh dưỡng của bột ngọn, lá lạc, giúp các nhà chăn nuôi ở miền núi phía Bắc có thể lựa chọn nguồn thức ăn bổ sung

từ bột ngọn, lá lạc và phối hợp khẩu phần hiệu quả hơn; giúp cho các nhà sản xuất thức ăn phối trộn hỗn hợp thức ăn đảm bảo giá trị dinh dưỡng cho gà đẻ

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở gia cầm

Gia cầm khác với các động vật khác ở chỗ cường độ của quá trình trao đổi chất lớn, thân nhiệt cao (40 – 42oC) Gia cầm sinh trưởng nhanh, khối lượng gà hướng thịt Broiler lúc 50 ngày tuổi gấp 40 – 50 lần khối lượng khi mới nở (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân - 1998) [10]

* Tiêu hoá ở miệng

Tuyến nước bọt ở gà kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt Trong nước bọt

có chứa một ít men amylaza nên cũng có ít tác dụng đối với tiêu hoá Gà mái có thể tiết 7 – 12 ml nước bọt trong một ngày đêm (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh

Vân - 1998) [10]

* Tiêu hoá ở diều

Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hoá từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng nhau 1:1 thì được giữ lại ở diều 5 – 6 giờ

Độ pH trong diều gia cầm khoảng 4,5 – 5,8 Sau khi ăn 1 – 2 giờ diều

co bóp theo dạng dãy (khoảng 3 -4 lần co bóp) với khoảng cách 15 – 20 phút, sau khi ăn 5 – 12 giờ là 10 – 30 phút, khi đói 8 – 16 lần/giờ

Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần đường chuyển hoá thành đường glucoza

* Tiêu hoá ở dạ dày

Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ Khối lượng dạ dày tuyến là 3,5 – 6g Vách dạ dày gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Dạ dày tiết dịch có chứa acid Clohidric, pepsin và musin Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là

Trang 12

không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường Thức ăn không được giữ lại lâu ở dạ dày tuyến mà chuyển xuống dạ dày cơ Ở dạ dày tuyến Protein được

thuỷ phân như sau:

Protein + nước + Pepsin và HCl Abulmoz + Pepton

Dạ dày cơ có cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh

Ở đây thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của men dịch dạ dày tuyến, enzyme và vi khuẩn

Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào tá tràng, có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ cùng tham gia, môi trường kiềm hoá tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid Sỏi

và các dị vật trong dạ dày làm tăng khả năng nghiền của thành dạ dày

* Tiêu hóa ở ruột

Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1,0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza

Dịch tuyến tụy lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH=6 ở gà, pH=7,2 – 7,5 ở gia cầm khác) Dịch này có chứa men tripsin, carboxy peptidaza, amylaza, mantaza, lipaza

Dịch mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, là dịch lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH = 7,3 – 8,5

Ở ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào hình cốc của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa ở ruột già phụ thuộc vào enzym của ruột non đi xuống, các enzym này chỉ hoạt động ở phần đầu của ruột già và với tốc độ chậm hơn so với ruột non Trong ruột già có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giống như trong dạ cỏ của động vật nhai lại Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đường và protein Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được hấp thu tại đây

Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột gà để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12 Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân (Cao Văn, Hoàng Toàn Thắng, 2003) [31]

Trang 13

1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm

* Đặc điểm sinh dục của gia cầm

- Cơ quan sinh dục cái của gia cầm

Gồm một buồng trứng và ống dẫn trứng Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo bao ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [10] + Buồng trứng

Theo Brandsch H và Bilchel (1978) [35], xác định trong thời kỳ đầu ấp trứng cả hai buồng trứng phải và trái đều hình thành và phát triển

Từ ngày ấp thứ 5 đến 7, buồng trứng trái phát triển hơn buồng trứng bên phải Ở gia cầm trưởng thành chỉ có buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức năng Còn buồng trứng và ống dẫn trứng phải không phát triển Buồng trứng gà có khoảng 586 đến 3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [14], sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín

Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý của gia cầm Song điều chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của thần kinh và thể dịch

+ Ống dẫn trứng

Là một phần hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh tế bào trứng và kết thúc quá trình tạo trứng ở lỗ huyệt Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo tuổi và hoạt hóa chức năng hệ sinh dục Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng trơn, thẳng, có đường kính đồng nhất trên chiều dài ống dẫn Sau khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng có chiều dài 68cm, khối lượng 77g Khi đẻ với cường độ cao chiều dài tăng tới 86 – 90cm, đường kính tới 10cm Ở gà không đẻ, ống dẫn trứng có kích thước tương ứng là 11 – 18cm và 0,4 – 0,7cm

Khi gia cầm thành thục, ống dẫn trứng gồm các phần sau: phễu (hình loa kèn), phần tiết lòng trắng, phần eo, tiếp theo là tử cung, âm đạo, huyệt

Trang 14

Phễu: phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng dài 4 – 7cm, đường kính 8 – 9cm, nằm dưới buồng trứng Bề mặt niêm mạc phễu gấp nếp, không

có tuyến Lớp niêm mạc cổ phễu có tuyến hình ống, chất tiết của nó tham gia vào tạo trứng và hình thành dây chằng lòng đỏ Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng dừng lại ở đây khoảng 20 phút

Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng Ở thời kỳ gia cầm đẻ trứng với tỷ lệ cao, chúng có thể dài tới 20 – 30cm, niêm mạc phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu tiết ra lòng trắng đặc hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây khoảng 3 giờ

Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng hình thành nên buồng khí Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua màng này đi vào lòng trắng Trứng dừng ở đây khoảng 60 – 70 phút

Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, là phần mở to ra tạo thành tử cung dài 8 – 12cm, tuyến vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng, chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong lòng trắng làm tăng khối lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành nên vỏ trứng diễn ra chậm chạp Trứng dừng lại ở đây khá lâu 18 – 20 giờ

Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng

ra ngoài cơ thể Thành âm đạo có nhiều lớp cơ lớn, niêm mạc nhăn nhưng không có các tuyến hình ống Tại chính mép biểu mô của âm đạo tiết ra một chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo ở trên vỏ Trứng đi qua phần âm đạo rất nhanh

- Những trường hợp trứng dị hình:

+ Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được, vì vậy, vẫn có quá trình tạo trứng và hình thành trứng nhỏ

Trang 15

+ Trứng 2 lòng đỏ: Do 2 trứng cùng rụng một thời điểm, hoặc cách nhau không quá 20 phút, vì vậy, hình thành nên quả trứng rất to

+ Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột, một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại, gây ra nhu động ngược lên phía trên, gặp tế bào trứng rụng mới, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng

Ngoài ra, còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D hoặc do co bóp của ống dẫn trứng…

- Cơ quan sinh dục đực

Gồm: Tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và cơ quan giao phối Tinh hoàn có hình ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng nằm ở

vị trí phía trên thùy thước của thận, cạnh túi khí bụng, khối lượng tinh hoàn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý Cơ quan giao cấu có cấu trúc khác biệt, nó không phát triển Ở gà tây gần như không có cơ quan giao phối, ngỗng, gà, vịt có gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt

Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc, tế bào sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển, mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành hai tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển, sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng

Số lượng một lần phóng tinh gà 0,6 – 2ml Trong mỗi 1ml chứa 3,2 tỷ tinh trùng Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú, nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu từ 3 – 5 ngày nhưng tinh trùng gà sống được rất lâu trong đường sinh dục con cái

* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của gia cầm

- Khả năng sinh sản của gia cầm

Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố

cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm Sản phẩm của chăn nuôi gia cầm là thịt và trứng, trong đó, sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng Còn gà hướng thịt (cũng như

gà hướng trứng) khả năng sinh sản quyết định đến sự phân đàn di truyền

Trang 16

giống mở rộng quy mô đàn gia cầm Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt

Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm Theo Brandsch H và Bilchel (1978) [35], thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính:

+ Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục

+ Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng

+ Tần số thể hiện bản năng đòi ấp

+ Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông

+ Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm

- Tuổi đẻ đầu

Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5% Theo Brandsch H và Bilchel (1978) [35], thì những gà có tuổi đẻ những quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Những gia cầm thuộc giống bé có khối lượng cơ thể nhỏ, thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp, sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn

Trang 17

- Năng suất trứng

Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể Năng suất trứng là một tính trạng số lượng, nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ

tỷ lệ đẻ đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và tỷ lệ đẻ thấp ở cuối kỳ sinh sản Năng suất trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết chu kỳ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài

sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền, vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng,…

Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân

Trang 18

giảm dần về thời gian và cường độ chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra sự nghỉ

đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn Là một tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, do đó, người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung của giống

- Khối lượng trứng

Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của

gà con Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chon lọc con giống

Brandsch H và Bilchel (1978) [35] cho rằng: Hiện nay chưa có cách nào tăng khối lượng của quả trứng mà không đồng thời tăng khối lượng

cơ thể Đó cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55 – 60 gam để phù hợp với sinh lý của gà và kỹ thuật ấp nở Ngoài ra tăng khối lượng trứng còn làm tăng chi phí thức ăn

Theo Brandsch H và Bilchel (1978) [35], cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [10], trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn, nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượ ng gà con khi

nở thường bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau

* Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

- Đặc điểm hình thái

+ Hình dạng quả trứng: Là một đặc trưng của từng cá thể, vì vậy,

nó được quy định di truyền rõ rệt Theo Brandsch H và Bilchel (1978) [35], thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số

ổn định 1: 0,75 Hình dạng của quả trứng tương đối ổn định, sự biến

Trang 19

động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn Nói chung, hình dạng quả trứng luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt + Vỏ trứng: Vỏ trứng là phần bảo vệ của trứng, nó cũng đồng thời tạo ra màu sắc bên ngoài của trứng Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vào giống và từng loại gia cầm khác nhau Phía ngoài được phủ một lớp keo dính do âm đạo tiết ra Lớp keo dính này có tác dụng làm giảm độ ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẻ trứng, khi đẻ ra nó có tác dụng hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của tạp khuẩn từ bên ngoài vào

+ Lòng trắng trứng: Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp nước và muối khoáng, tham gia vào việc cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [10], cho biết: Khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86) khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48)

Theo Ngô Giản Luyện (1994) [15], thì cho rằng: Chỉ số lòng trắng

ở mùa đông cao hơn ở mùa xuân và mùa hè Trứng gà mái tơ và mái già

có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản Trứng bảo quản lâu, chỉ số lòng trắng cũng bị thấp đi Chất lượng lòng trắn g còn kém đi khi cho gà ăn thiếu protein và vitamin nhóm B

+ Lòng đỏ: Là tế bào trứng có dạng hình cầu đường kính 35 - 40mm và được bao bọc bởi màng lòng đỏ, màng này có tính đàn hồi nhưng tính đàn hồi này giảm theo thời gian bảo quản, ở giữa các hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy chất dinh dưỡng từ nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển Lòng đỏ có độ đậm đặc cao nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng là những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ, phía trên lòng đỏ là mầm phôi Lòng đỏ cung cấp dinh

Trang 20

dưỡng chủ yếu cho phôi Thông qua nguồn năng lượng dự trữ cho phôi

mà người ta có thể đánh giá được chất lượng lòng đỏ

Lòng đỏ bao gồm: nước, protein, các axit amin không thay thế, các loại vitamin … Ngô Giản Luyện (1994) [15], cho biết: Khi chỉ số này xuống 0,33 tức lòng đỏ bị biến dạng, và chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng nó sẽ giảm từ 0,25 - 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu

Màu lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố màu và caroten có trong thức ăn Màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ trứng, nó thay đổi khi khẩu phần

ăn của gà mái thay đổi trước vài tuần Tuy không biểu thị giá trị dinh dưỡng của trứng nhưng nó có giá trị thương phẩm lớn

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm

Sức sản xuất trứng là chỉ tiêu tổng hợp và biến động, nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài

- Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp Cụ thể giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 – 270 trứng/năm, gà Lương Phượng 150 - 177 trứng/năm Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc

kỹ khoảng 15 - 30% về sản lượng

Trang 21

- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó Như một quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất Còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho sản lượng trứng cao hơn 9 - 15% so với năm thứ nhất

- Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó

là đặc điểm di truyền cá thể Sản lượng trứng của 3 – 4 tháng đầu tiên tương quan thuận với sản lượng trứng cả năm

- Mùa vụ: Ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, mùa hè sức

đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên

- Nhiệt độ môi trường xung quanh: Liên quan mật thiết đến sản lượng trứng Ở nước ta ,nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14o

- 9 giờ đạt 17,7% so với tổng gà đẻ trong ngày Ở nước ta, do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng 8 – 12 giờ chiếm 60 đến 70% so với gà đẻ trứng trong ngày

- Cường độ đẻ trứng: Liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu cường độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

- Chu kỳ đẻ trứng: Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến khi ngừng đẻ và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lặp lại tiếp tục chu

kỳ thứ hai Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau, thường ở gà là một năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu

kỳ đẻ trứng Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng

Trang 22

- Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng thì gia cầm nghỉ đẻ và thay lông,

ở điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là những điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay không Những con thay lông sớm thường là những con đẻ kém và kéo dài thời gian thay lông đến 4 tháng Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng, đặc biệt

là đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 đến 5 tuần và đẻ lại ngay sau khi chưa hình thành bộ lông mới, có con đẻ ngay trong thời gian thay lông Ngoài ra, gia cầm đẻ trứng còn chịu sự chi phối trực tiếp của khí hậu, dinh dưỡng, thức

ăn, chăm sóc quản lý, tính ấp bóng…

* Nhu cầu dinh dƣỡng của gà đẻ

Nhu cầu dinh dưỡng gà đẻ được xác định trên nhu cầu duy trì, nhu cầu sản xuất trứng, nhu cầu sinh trưởng (đối với giai đoạn đầu gà đẻ)

- Nhu cầu năng lượng: Ở gà đẻ, năng lượng của thức ăn được dùng vào việc duy trì cơ thể, tạo trứng, sinh trưởng của gà ở thời kỳ đầu và tích luỹ mỡ Nhìn chung, sản lượng trứng càng cao thì nhu cầu năng lượng càng lớn Nhưng

ở khẩu phần năng lượng quá cao thường xảy ra các rối loạn trao đổi năng lượng, gan nhiễm mỡ, giảm năng suất trứng từ 30 - 40% Vì vậy, phải xây dựng khẩu phần ăn cho gà đẻ phù hợp theo từng giai đoạn Theo hướng dẫn của Hội liên hiệp gia cầm Việt Nam (1995) [32], mức năng lượng thích hợp cho gà đẻ hướng thịt sau 25 tuần tuổi là 2800 – 2900Kcal/kg thức ăn hỗn hợp, còn đối với gà hướng trứng là 2750 – 2850 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp

- Nhu cầu protein: Ở gà đẻ, nhu cầu protein và một số axit amin là khá cao Gà sử dụng protein để duy trì cơ thể, thay cũ đổi mới các tế bào

và tạo protit cho trứng Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất đối với cơ thể động vật Tất cả những biểu hiện của sự sống đều gắn liền với protein và cũng không có loại vật chất nào thay thế được Do cơ thể động vật không thể tạo ra protein từ gluxit và lipit, nên protein phải lấy từ thức

ăn một cách đều đặn với số lượng đầy đủ và theo tỷ lệ hợp lý Người ta đã tính rằng để duy trì sự sống, cứ 1kg thể trọng cần 3g protein/ngày và tạo ra

100 gam trứng cần 28g protein, bởi vì trong 100g trứng có 11,2g protein,

Trang 23

mà hiệu suất sử dụng protein trong thức ăn để tạo trứng khoảng 40% Nhu cầu protein cũng thay đổi theo tuổi và sức đẻ trứng của gia cầm Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [10], thì vai trò của axit amin trong cơ thể là rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của cơ thể Axit amin giữ một vai trò quan trọng trong nuôi dưỡng gia súc, gia cầm

- Nhu cầu về khoáng: Ở gà mái đẻ, phần lớn canxi của thức ăn được sử dụng vào để tạo thành vỏ trứng, vì vậy, nếu thiếu canxi trong thức ăn có thể dẫn tới ngừng đẻ hoàn toàn Cứ một quả trứng cần 2g canxi, nên yêu cầu hàm lượng khoáng trong khẩu phần gà đẻ trên dưới 3,5% trong khẩu phần Gà mái nếu thiếu canxi sẽ đẻ ra trứng vỏ mỏng hay hoàn toàn không vỏ Nhu cầu photpho cho gà đẻ từ 0,5 - 0,6% trong thức ăn hỗn hợp (Theo hướng dẫn Hội liên hiệp gia cầm Việt Nam, 1995) [32] Ngoài ra, gà đẻ còn có nhu cầu về các nguyên tố khoáng đa vi lượng như: Mn, Zn, Cu, Co, I,…Tuy yêu cầu với số lượng ít nhưng các nguyên tố này tham gia cấu tạo vỏ trứng, làm bền vỏ trứng, làm tăng tỷ lệ có phôi và tỷ lệ nở

- Nhu cầu về nước: Tất cả các quá trình tiêu hoá đều phụ thuộc vào

sự có mặt của nước Sự phân giải các chất dinh dưỡng là một quá trình thuỷ phân và các sản phẩm của sự phân giải chỉ được hấp thu vào thành ruột dưới dạng dung dịch Do đó, nước trong cơ thể vừa là dung môi vừa là phương tiện vận chuyển các chất dinh dưỡng Cơ thể gà mái có tới 60% là nước, trứng có 66% là nước Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995) [14], cho biết, gà tiêu thụ lượng nước gấp 2 – 3 lần so với thức ăn trong ngày Cường độ bốc hơi nước phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, độ thông thoáng của tiểu khí hậu chuồng nuôi và sức sản xuất của gia súc, gia cầm

- Nhu cầu vitamin: Là những chất được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ nhưng lại vô cùng quan trọng Vitamin tham gia hầu hết các phản ứng sinh hoá học trong cơ thể Gà đẻ rất nhạy cảm với sự thiếu hụt vitamin, thậm chí thiếu hụt một ít cũng làm giảm sức sản xuất của gà Vitamin ảnh hưởng tới quá trình trao đổi protein, hydratcacbon, khoáng… nó có tác dụng nâng cao

Trang 24

hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng Trong chăn nuôi, vitamin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

+ Vitamin A: Ở gia cầm VTM A ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của tế bào sinh dục Thiếu VTM A, gia cầm có sự thay đổi tầng biểu bì, biểu hiện ở hiện tượng viêm màng nhày của mắt và lỗ mũi, ngoài

ra, làm giảm tốc độ sinh trưởng của gà và sức đẻ trứng của gà, ở gà trống tinh trùng bị biến dạng và mất khả năng thụ tinh Thiếu VTM A dẫn đến phôi chết, phôi chết cao nhất vào ngày ấp thứ 18 đến ngày thứ 21 Gà đẻ trứng cao sản cần 10.000 – 15.000 UI VTM A/kg thức ăn hỗn hợp Hàm lượng caroten trong thức ăn nuôi gà đẻ có ảnh hưởng rõ rệt tới hàm lượng caroten trong trứng Hàm lượng β caroten chứa trong lòng đỏ trứng gà cao sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển phôi thai và tỷ lệ ấp nở của trứng

gà và khi dư thừa thì gà dự trữ trong gan

+ Vitamin D: Có ý nghĩa trong trao đổi canxi, photpho trong cơ thể Nếu thiếu VTM D3 sẽ phá huỷ các quá trình tích luỹ vôi trong xương, ở các

cơ thể non biểu hiện tính còi cọc Gà mái đẻ thiếu VTM D3 làm giảm số lượng trứng đẻ, giảm tỷ lệ nở của trứng Các thí nghiệm cho thấy khi nuôi dưỡng gà bằng khẩu phần có chứa VTM D3 là: 1160UI/kg thức ăn hỗn hợp thì tỷ lệ ấp nở là 91%, còn khi hàm lượng VTM D3 là 190UI/kg thức ăn hỗn hợp thì tỷ lệ ấp nở còn 44% Nhu cầu VTM D3 của gà đẻ là 220UI/kg thức ăn hỗn hợp (Hội liên hiệp gia cầm Việt Nam, 1995) [32]

+ Vitamin E: Có ảnh hưởng lớn đối với gia cầm, nó giữ cho VTM A không bị phá huỷ Nếu thiếu VTM E thì dịch hoàn và buồng trứng bị phá hoại Trong thời gian ấp nếu thiếu VTM E dẫn đến hiện tượng teo trung

bì, phôi bì và phôi chết ở ngày thứ 4, ở gà con thấy hiện tượng não bị mềm và hiện tượng chứng co giật và tê liệt Nhu cầu VTM E của gà đẻ là 16,5UI/kg thức ăn hỗn hợp

Ngoài ra, gà đẻ cần nhiều loại VTM khác như: VTM K, VTM C, VTM nhóm B, để thoả mãn nhu cầu của cả quá trình trao đổi chất và sản xuất sản phẩm Do đó, cần phải cung cấp đầy đủ vitamin cho gà

Trang 25

1.1.3 Vài nét về giống gà Lương Phượng

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [10], cho biết gà Lương Phượng hoa thường được gọi tắt là gà Lương Phượng, do xuất xứ từ ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu, do Xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh - tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc lai tạo thành công, sau hơn chục năm nghiên cứu và sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nước ngoài Gà Lương Phượng có dáng bề ngoài gần giống gà Ri của ta, lông

màu vàng tuyền, đốm hoa hoặc đen đốm hoa Sở dĩ gọi là gà Lương Phượng,

vì trong đàn gà có nhiều màu sắc khác nhau như một vườn hoa Mào, tích, tai, mặt màu đỏ Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc chắn, chân thấp Da màu vàng, thịt mịn và mùi vị thơm ngon

Về năng suất: Gà trống trưởng thành có khối lượng cơ thể khoảng 2,7 –

3,2kg, gà mái đạt 1,8 – 2,1kg vào lúc đẻ Gà bắt đầu đẻ vào lúc 23 – 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng đạt 150 - 177 trứng, sản xuất được 130 con

gà con một ngày tuổi Gà nuôi thịt 65 ngày tuổi đạt 1,5 – 1,6kg; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,4 - 2,6kg Tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95%

Nói chung, gà Lương Phượng là giống gà dễ nuôi, có khả năng thích nghi cao, có khả năng chống chịu với điều kiện khí hậu nóng, không đòi hỏi chế độ dinh dưỡng cao, có thể nuôi nhốt, nuôi bán chăn thả và thả vườn có giá trị kinh tế cao cho người chăn nuôi

1.1.4 Vài nét về giống gà Ross 308

Nguồn gốc: Gà Ross 308 được tạo từ Anh, do Công ty DABACO Bắc

Ninh nhập trực tiếp về Việt Nam, tiếp sau là Trung tâm giống gia súc - gia

cầm Vĩnh Phúc nuôi thử nghiệm

Đặc điểm về ngoại hình: Gà Ross 308 có ngoại hình của giống gà

chuyên thịt, thân hình cân đối, ngực sâu rộng, chân chắc, ức phát triển, có thiết diện vuông Qua quan sát gà từ giai đoạn gà 1 ngày tuổi thấy gà Ross

308 mới nở có màu lông trắng, chân và mỏ có màu vàng nhạt, trong quá trình

Trang 26

nuôi có thể phân biệt con trống, mái bằng tốc độ mọc lông Gà trưởng thành

có màu lông trắng tuyền, mào cờ, tích tai phát triển có màu đỏ tươi, da và chân màu vàng nhạt

Khả năng sản xuất: Theo Công ty Dabaco Bắc Ninh [49]: Gà Ross 308

bố mẹ là tỷ lệ nuôi sống là 96 - 98% Gà trống trưởng thành đạt 3665g, gà mái đạt 2850g Tuổi đẻ đầu 174 ngày tuổi, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao từ tuần 31 –

37 Năng suất trứng 170 -180qủa/con/năm Tỷ lệ ấp nở 86 – 87%

Gà Ross 308 thương phẩm: tỷ lệ nuôi sống đạt 95 – 96%, nuôi 42 – 45 ngày đạt 2,2 – 2,3kg Khả năng tiêu hoá nhanh, tiêu tốn thức ăn 1,8kg/kg tăng KL Kết quả của Trung tâm giống gia súc - gia cầm Vĩnh Phúc cho biết [47]:

Gà Ross 308 thương phẩm tỷ lệ nuôi sống đạt 98%, nuôi 42 ngày tuổi đạt 2,4 – 2,5 kg/con Tiêu tốn thức ăn 125 – 135g/con/ngày (tương đương 2,34 – 2,45kg/kg tăng KL)

1.1.5 Một số đặc điểm sinh vật học của cây lạc

1.1.5.1 Nguồn gốc

Cây lạc có nguồn gốc từ Trung và Nam Mỹ, trong các loại cây trồng làm thực phẩm cho con người, nó có vị trí quan trọng Mặc dù đã có từ rất lâu đời, nhưng tầm quan trọng kinh tế của lạc chỉ mới được xác định trong khoảng 125 năm trở lại đây Khi công nghiệp ép dầu được phát triển ở Pháp (xưởng ép dầu ở Macxây) bắt đầu nhập cảng lạc từ Tây Phi để ép dầu, mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn Công nghiệp ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới

Trong những năm gần đây, người ta chú ý nhiều đến protein trong hạt lạc, nhân loại đặt nhiều hy vọng vào các các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đói protein trước mắt và trong tương lai

Trong các loại cây bộ đậu trên thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ hai sau cây đậu tương, năm 2009, diện tích đạt 23,51 triệu ha, sản lượng 35,52 triệu tấn (Theo FAOSTAT) [4]

Trang 27

1.1.5.2 Đặc điểm sinh vật học

Lạc (Arachis hypogaea) là một trong số những cây lấy dầu quan trọng

trên thế giới Cây thân thảo Lá mọc đối, kép, hình lông chim với bốn lá chét Kích thước lá chét dài 1-7cm và rộng 1-3cm Hoa màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa dài 2-4cm Sau khi thụ phấn, quả (củ) phát triển, dài 3-7cm, chứa 1-4 hạt, quả thường dấu xuống đất để phát triển (Tự điển Wikipdeia)

Theo Nguyễn Thị Chinh (2006) [1], Lạc là cây trồng truyền thống của nông dân Việt Nam, là cây ngắn ngày, thời gian sinh trưởng từ 95 – 120 ngày, tuỳ theo giống Khả năng thích ứng rộng và trồng được nhiều vụ trong năm, trên các chân đất pha cát, thịt nhẹ và trong các cơ cấu cây trồng khác nhau

- Đất thích hợp nhất có pH từ 5,5 – 6,5 để tạo điều kiện cho vi khuẩn nốt sần phát triển tốt Đất phải tơi xốp, cao ráo, thoát nước nhanh để tia lạc dễ đâm vào đất

- Thời vụ: Tuỳ theo vùng, lạc có thể trồng được nhiều vụ trong năm + Vụ Đông Xuân: Trồng từ tháng 11-12 dương lịch, nơi có nguồn nước tưới (chủ yếu ở miền Trung và Nam Bộ)

+ Vụ Xuân - Hè: Trồng vào tháng 2 dương lịch, là mùa sản xuất chủ lực của những vùng đất bãi và đồi núi

+ Vụ Thu - Đông: Chỉ trồng ở những vùng đất cao, thoát nước tốt Vụ

này thường cho năng suất thấp, chủ yếu sản xuất để giống cho vụ Đông Xuân

Khi thu hoạch củ, phần thân và lá lạc còn xanh, thu cắt để sử dụng cho chăn nuôi

Thân lá lạc có thể ủ chua cho trâu bò hoặc phơi, sấy khô nghiền làm bột lá Nên sử dụng thân lá lạc làm thức ăn thay thế cho gia súc và tỷ lệ sử dụng tốt nhất là 25-30% trong tổng số vật chất khô khối lượng thức ăn thô xanh gia súc ăn trong một ngày

1.1.6 Cơ sở để đánh giá chất lượng thức ăn thực vật

Chất lượng của các loại cây, cỏ làm thức ăn cho vật nuôi được đánh giá bằng thành phần hoá học có trong cây, cỏ đó Đây là một chỉ tiêu hết sức quan

Trang 28

trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một loại cây thức ăn Trên cơ

sở đó, giúp cho các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc, gia cầm một cách hợp lý, để chúng sinh trưởng phát triển tốt Thành phần hoá học có trong cây, cỏ chủ yếu tập trung ở 3 chỉ tiêu: Vật chất khô (VCK), protein và xơ Cây, cỏ bộ đậu ở nước ta thường giàu protein, vitamin và khoáng, Ca,

Mg, Mn, Zn, Cu, Fe, nhưng ít phốt pho, kali hơn cỏ hoà thảo Tuy vậy, hàm lượng protein thô trong thân lá cây đậu đỗ trung bình 167g/kg vật chất khô, xấp xỉ giá trị trung bình của đậu đỗ nhiệt đới và thấp hơn giá trị của đậu đỗ ôn đới (175g/kg vật chất khô), hàm lượng chất khô 200-260 g/kg thức ăn, giá trị năng lượng cao hơn cỏ hoà thảo [9]

Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy: Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô và năng suất protein cao, tỷ lệ xơ trong thức

ăn thấp, trong đó, chỉ tiêu protein được chú trọng nhiều hơn cả Ngoài ra, thức

ăn thực vật là nguồn cung cấp hàm lượng caroten là chủ yếu cho gia súc, gia cầm Các giống cây họ đậu bao giờ cũng cho giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức ăn hoà thảo

1.1.7 Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi

cỏ chế biến từ cỏ Alfalfa (Medicago sativa) Đây là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin

Theo L.Guodao và cs (1997) [39], các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ nguồn lá xanh như cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis)

Trang 29

Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây bộ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa, tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo [25] Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 – 30% Protein trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% bột đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm (Ravindran, V, Cherry, J.A - 1983) [41]

Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô 21% (Từ Quang Hiển và cs, 2002), [8]

Lá keo giậu: Cây keo giậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất khác nhau Lượng Protein thô trong lá keo giậu khá cao 270-280 g/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá keo giậu có thể dùng làm thức ăn bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm (Từ Quang Hiển và cs, 2008) [9] Cây so đũa: Là loại cây họ đậu, trồng ở nhiều nơi, hạt và lá so đũa có tỷ

lệ protein cao và nhiều vitamin

Cây lá mắm: Cây mắm mọc ở vùng nước mặn, nước lợ ven biển, nhất là

ở các tỉnh Nam Trung bộ và miền Nam

Cây cỏ VA06: VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, hệ số tiêu hoá cao, là thức

ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ

Theo Nguyễn Đức Trân và cs [28] cho biết: Ở vùng núi, có thể lấy lá và

cả cành non các loại cây không độc, không có chất chát (trâu bò thường ăn)

để phơi khô, dự trữ dành cho mùa đông hiếm rau cỏ

1.1.7.2 Giá trị của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi

Trong phát triển chăn nuôi, việc chọn nguồn thức ăn để đảm bảo năng suất, chất lượng thịt, trứng và giảm giá thành sản xuất bằng cách tìm ra những giống cây bổ sung nguồn thức ăn mới, phù hợp với điều kiện địa phương là vấn đề rất cần thiết

Trang 30

Ngày nay, ngay ở các nước phát triển, bột cỏ vẫn là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm Vì bột cỏ cung cấp nhiều vitamin

tự nhiên, đặc biệt là tiền vitamin A (caroten) và sắc tố vàng Xanthophyll Vitamin E, C và caroten là những chất chống oxi hoá, ngăn cản tích trữ cholesterol trong máu Ngoài ra, lá xanh còn chứa nhiều chất quinol và phenol, là những chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho người và động vật Chính vì vậy, sử dụng bột cỏ làm thức ăn chăn nuôi được các nước trên thế giới rất quan tâm

Theo Nguyễn Đức Trân và cs [28], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng nuôi lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi Bột thân

lá đậu, lạc, điền thanh, keo giậu, bèo hoa dâu, là những loại tốt, vì có chứa nhiều đạm nên khi hỗn hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm được thức ăn tinh

Thức ăn gia cầm, ngoài lượng bắp vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng Các loại bột lá, bột cỏ thường được dùng trong thức ăn gà với mức 3 - 4% để vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và lòng đỏ trứng có màu vàng đẹp mắt

Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dưỡng cao không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây bộ đậu) mà còn chứa nhiều Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic) Phối hợp khẩu phần ăn của vật nuôi với bột lá, bột cỏ làm tăng chất lượng sản phẩm, tăng chất lượng thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm [8]

Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí thức ăn, màu lòng đỏ trứng đậm hơn so với đối chứng Thường bổ sung 5% vào khẩu phần thức ăn hỗn hợp hàng ngày [14]

Đối với gà thịt, trong bột cỏ, bột lá có chứa nhiều β-caroten, protein, vitamin nên việc sử dụng nó bổ sung vào khẩu phần ăn của gà thịt có tác dụng

Trang 31

rất tốt Không những làm tăng khả năng sinh trưởng, tăng năng suất mà đặc biệt là tăng chất lượng thịt, độ cảm quan đới với thịt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

1.1.8 Các hạn chế của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi

Nhìn chung gia súc thích ăn các loại thức ăn xanh hơn hoặc ủ chua hơn

là ăn các loại thức ăn này chế biến thành bột

Trong bột cỏ và bột lá thực vật, hàm lượng chất xơ là cao, do đó, việc sử dụng nó trong thức ăn chăn nuôi gia cầm chỉ chiếm một chỉ lệ rất nhỏ trong khẩu phẩn, trong chăn nuôi gà, tỷ lệ dùng trong chất xơ rất ít, chỉ từ 5-6% trong khẩu phần [8]

Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất như: lá sắn có độc tố HCN, cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi

sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần Theo Vũ Duy Giảng và cs (1997) [5] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4-6% tính theo đơn vị khẩu phần Trong lá keo giậu có chứa độc tố mimosin, do đó không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong khẩu phần của gia cầm (tính theo giá trị dinh dưỡng) Mặt khác, bột lá, bột cỏ nếu bảo quản kém hoặc quá lâu dễ bị mốc và làm hao hụt các chất dinh dưỡng, đặc biệt là β-caroten, vitamin bị mất đi [11]

1.1.9 Sử dụng thân lá lạc trong chăn nuôi

Khi thu hoạch củ, phần thân và lá lạc còn xanh, nên thu cắt để sử dụng cho chăn nuôi Thân lá lạc có thể ủ chua cho trâu bò hoặc phơi, sấy khô nghiền làm bột lá Nên sử dụng thân lá lạc làm thức ăn bổ sung cho gia súc và tỷ lệ sử dụng tốt nhất là 25-30% trong tổng số vật chất khô, khối lượng thức ăn thô xanh gia súc ăn trong một ngày (Theo Bùi Văn Chính và cs, 2002) [3]

Trong chăn nuôi đại gia súc để phát triển nhanh số lượng gia súc cho thịt và cho sữa thì cần một khối lượng lớn thức ăn Nếu tính trung bình lượng

cỏ tươi gia súc tiêu thụ khoảng 20-30 kg/con/ngày thì sản lượng cỏ phải sản

Trang 32

xuất ra hàng năm để cung cấp cho tổng đàn gia súc là rất lớn Trước kia, cỏ dùng trong chăn nuôi thường được người dân tận dụng từ nhiều nguồn khác nhau như cỏ tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, ngành chế biến thực phẩm Nhưng hiện nay nguồn thực phẩm này đang bị khan hiếm dần, trong khi đó số lượng gia súc lại tăng nhanh (đàn bò thịt tăng 4,72%, bò sữa tăng 43,43%)

Thân lá lạc có hàm lượng dinh dưỡng tương đối cao: 26,45% VCK, 14,17% protein thô, 28,99% xơ thô, 2289 Kcal ME/kgVCK (Bùi Văn Chính

và cộng sự (2002) [3] Ngoài ra, thân lá lạc còn chứa nhiều chất dinh dưỡng khác, trong đó có caroten rất cần thiết đối với mọi loài vật nuôi Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ có một số công trình khoa học nghiên cứu chế biến, sử dụng thân lá lạc dưới dạng ủ chua trong chăn nuôi trâu, bò và lợn, mà chưa có công trình nào nghiên cứu chế biến bột lá lạc và sự thay đổi về thành phần hoá học qua chế biến Việc nghiên cứu chế biến, bảo quản, sử dụng bột cây keo giậu, lá sắn, cỏ stylo làm thức ăn bổ sung đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu Cây bộ đậu làm tăng chất lượng thức ăn và độ mầu mỡ cho đất Thực tế cho thấy, tất cả các loại cỏ hòa thảo không có đủ lượng đạm thỏa mãn nhu cầu phát triển cuả gia súc Ở động vật dạ cỏ, nếu bữa ăn kém chất lượng, mức đạm dưới 7% thì các sinh vật ở dạ cỏ không thể phân hủy thức ăn một cách hiệu quả và động vật sẽ bị sút cân Vì vậy, bổ sung đạm vào thức ăn gia súc là điều không thể thiếu Giải pháp phù hợp và rẻ nhất là nguồn đạm cung cấp từ cây bộ đậu Loại thức ăn này có thể cho ăn tươi, phơi khô hoặc làm bột lá bộ đậu Theo Bùi Văn Chính và cs (2002) [3], thêm 10-15% cây bộ đậu vào khẩu phần ăn, gia súc có thể tăng trọng gấp đôi so với mức bình thường

1.1.10 β – caroten và xantophin trong thức ăn thực vật

Trong cơ thể thực vật nhóm sắc tố vàng gồm 2 nhóm nhỏ là caroten và xantophin Caroten (C40H56), không tan trong nước, chỉ tan trong dung môi hữu cơ Trong thực vật thường có 3 loại: β, δ và α Cắt đôi β -caroten sẽ được phân tử vitamin A, Xantophin C40H56On (n=1-6) là dẫn xuất của caroten Có nhiều loại xantophin, ví dụ kriptoxantin (C40H56O4) Quang phổ hấp thụ 451 -

Trang 33

481nm Phân ra 2 nhóm xantophin: nhóm carotenoit sơ cấp làm nhiệm vụ hoạt động quang hợp hoặc bảo vệ; nhóm carotenoit thứ cấp có trong các cơ quan như hoa, quả, các cơ quan hoá già hoặc bị bệnh thiếu dinh dưỡng khoáng Vai trò của carotenoit là lọc ánh sáng, bảo vệ clorophin Xantophin tham gia vào quá trình phân li nước (H2O) và thải oxi (O2) thông qua sự biến đổi từ violaxantophin thành lutein Nhóm carotenoit tham gia vào quang hợp bằng cách tiếp nhận năng lượng ánh sáng mặt trời và truyền năng lượng này cho clorophin và nó có mặt trong hệ thống quang hóa II

Carotenoid là những sắc tố thực vật, có trong cây cối, trong tảo, trong nấm Các chất này tạo nên màu sắc của sản phẩm như caroten dạng alpha và beta tạo màu đỏ trong cà rốt, gấc, lòng đỏ trứng gà; lycopen: sắc tố của cà chua, dưa đỏ; lutein đem lại màu vàng cho cam, đào Tùy theo sắc màu mà

có hàm lượng và thành phần carotenoid khác nhau

Các carotenoid khi vào cơ thể người và vật nuôi mới chuyển thành vitamin A nên được coi là tiền sinh tố A, nó có cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học tương tự vitamin A nhưng ở người và vật nuôi nó được dự trữ ở khắp các mô còn vitamin A được dự trữ ở gan So với vitamin A thì carotenoid ít độc hại hơn, vì nó được chuyển dạng theo nhu cầu của cơ thể và

ít bị phá hủy hơn Một số nhà khoa học đã khuyến cáo nên dùng caroten hơn

là vitamin A

Tiền sinh tố A còn gọi là β - caroten, chủ yếu có trong thức ăn nguồn gốc thực vật, có ít trong thức ăn nguồn gốc động vật, được hấp thụ vào cơ thể nhờ các chất dầu mỡ, khi vào cơ thể được tồn trữ ở gan Khi cơ thể thiếu sinh tố A, men carotenase ở gan và ruột sẽ chuyển β - caroten ra sinh tố A đủ nhu cầu cần thiết Vì vậy nếu ăn vào một lượng lớn β - caroten, cơ thể không bị ngộ độc như lượng lớn sinh tố A Sinh tố A và β - caroten là chất tan trong dầu mỡ, không tan trong nước Vì vậy, trong khẩu phần ăn phải có đủ lượng dầu mỡ để hoà tan, nếu không sẽ bị thải ra ngoài theo phân Do sinh tố A được dự trữ ở gan để sử dụng khi cần, do vậy, nếu đưa vào lượng lớn, quá sức dự trữ của gan

Trang 34

sẽ sinh ngộ độc Lượng tiền sinh tố A có trong 100g một số loại rau, củ tươi như rau lang 6.500 UI; rau muống 3.540 UI; gấc 8.330 UI; bí đỏ (quả già) 1.712 UI Lượng sinh tố A có trong 100g thực phẩm động vật như: gan bò 45.000 UI, gan gà 32.000 UI, gan lợn 8.700 UI đến 15.000 UI, trứng gà (vịt)

616 UI Màu của lòng đỏ trứng gà phụ thuộc vào sắc tố trong máu, từ thức

ăn mang lại Khi gà ăn nhiều, thức ăn chứa carotenoit thì lòng đỏ màu đậm Như vậy, tuỳ theo màu của lòng đỏ có thể xác định hàm lượng vitamin của trứng Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào tiền sinh tố A (caroten), hay nói cách khác phụ thuộc vào các loại thức ăn của gà

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo Bogdan A V (1977) [36], các nước ôn đới đã sử dụng nguồn bột

cỏ chế biến từ cỏ Alfalfa (Medicago sativa) Đây là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lượng protein thô 17 - 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá xanh khác như bột lá Bình Linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis)

Cỏ Alfalfa: Cỏ Alfalfa hay Cỏ Linh Lăng còn có tên là Mục Túc Braxin

(tên khoa học là Lucern) là cây bộ đậu thân thảo, có giá trị dinh dưỡng rất

cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, được thế giới rất quan tâm, hiện nay, có trên 50 nước nghiên cứu [3]

Với hàm lượng β-caroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10-20% trong khẩu phần ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng đỏ to, màu lòng đỏ đậm, tỷ lệ nở con cao hơn hẳn Nhờ các chất Ancaloid -Enzim dồi dào trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ tiết lượng sữa nhiều và chất lượng sữa tốt hơn Người ta dùng nó làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi

Trang 35

quan trọng như: bò đực sản xuất tinh, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh Do những tác dụng lớn lao đó, các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã suy tôn cỏ Alfalfa là "nữ hoàng" trong thức ăn chăn nuôi [3]

Cây Trichanthera gigantea: Cây Trichanthera có nguồn gốc ở Nam Mỹ,

trồng bằng hom đạt tỷ lệ sống 90 - 95% Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể cao, chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn át Ngoài cung cấp dinh dưỡng, lá cây còn có tác dụng phòng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi [3]

Ở Cu Ba, Fraga và Cs (1992) [40] đã thay thế 5% khẩu phần cơ sở dựa trên ngô và khô dầu đỗ tương bằng bột lá keo giậu phơi khô dưới ánh nắng mặt

trời để nuôi 540 gà thịt Cornish x Plymouth trong thời gian từ 0-4 tuần tuổi Kết

quả cho thấy: nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa bột lá keo giậu

có mức tăng khối lượng lúc 6 tuần tuổi và hiệu suất sử dụng thức ăn cao hơn gà đối chứng được nuôi dưỡng với khẩu phần cơ sở không có bột lá keo giậu

Hanif và Cs (1985) [42] đã sử dụng 5% bột lá keo giậu Ipil-ipil để thay thế một phần bột cá trong khẩu phần ăn của gà thịt giống Rhod (Ai-Len), từ sau 3 tuần tuổi Các khẩu phần nuôi dưỡng đảm bảo đồng đều về protein và năng lượng trao đổi Kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 5% bột lá Ipil-ipil đã không ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng, tiêu thụ thức ăn và tuổi thành thục về tính của gà so với khẩu phần đối chứng [5]

Chen và Lai (1981) [37] sử dụng bột lá keo giậu trên gà thịt và cho biết, hiệu suất sử dụng thức ăn và tăng khối lượng của gà thịt giảm dần với mức tăng lên của bột lá keo giậu trong khẩu phần và tỷ lệ tối đa thích hợp của bột

lá keo giậu là ở mức 3% khối lượng khô của khẩu phần

D'Mello và Cs (1987) [38] đã nhận thấy, bột lá keo giậu đã có tác dụng cải thiện màu sắc thân thịt của gà và sử dụng 5% bột lá keo giậu thay thế một phần khẩu phần ăn cơ sở đã không gây ra ảnh hưởng xấu nào về sinh trưởng của gà

Trang 36

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002) [19], cho biết: Sử dụng bột cỏ khô hỗn hợp trong thức ăn cho gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt, vừa phòng trừ giun sán lại vừa đỡ công chăn nuôi

Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Trung và Cs (2007) [29]: Bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn của trâu tơ 13-18 tháng tuổi đã làm tăng lượng thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Bột lá sắn có thể dùng làm thức ăn bổ sung cho trâu tơ để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Các thí nghiệm trên gia cầm cho thấy, sử dụng lá cây Trichathera ở dạng bột lá hoặc tươi trong khẩu phần ăn sẽ tạo nguồn cung cấp protein và caroten hiệu quả 150 gà đẻ thương phẩm, 800 chim cút đẻ kéo dài trong 10 tuần có

bổ sung 2-4% bột lá Trichathera và 0,2-0,3% carophyll trong khẩu phần Kết quả trung bình về năng suất và chất lượng của trứng gà và chim cút giữa thí nghiệm và đối chứng tương đối giống nhau Nhưng giá thành có bổ sung bột

lá thấp hơn Đối với 120 vịt xiêm nuôi từ 30-90 ngày tuổi có dùng lá Trichathera trong khẩu phần, kết quả cho thấy, dùng lá Trichathera làm da vịt

có màu vàng tốt hơn so với vịt ở nghiệm thức đối chứng

Tạ An Bình (1973) đã sử dụng bột lá keo giậu nuôi gà con và cho biết, ở

tỷ lệ 4% trong khẩu phần, keo giậu đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà Dương Thanh Liêm và Bộ môn Thức ăn và dinh dưỡng Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm nuôi gà Broiler với các khẩu phần chứa tỷ lệ bột lá keo giậu khác nhau, kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 4% bột lá keo giậu có tác dụng tốt tới sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức

ăn của gà Khi tỷ lệ bột lá keo giậu nâng lên tới mức 6% khẩu phần, tăng khối lượng của gà bắt đầu có xu hướng giảm Ở tỷ lệ 10% bột lá keo giậu trong khẩu phần, nuôi gà đến 9 tuần tuổi bắt đầu có hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppm muối KI hay casein vào khẩu phần

ăn, sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giáp của gà, do hạn chế

Trang 37

độc tính của mimosine có trong keo giậu (Trích theo Từ Quang Hiển và Cs, 2008) [9]

Theo Từ Quang Hiển và Cs (2008) [9] nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu để nuôi gà broiler dòng HV35 cho biết: Sử dụng bột lá keo giậu thay thế 3-5% khẩu phần cơ sở tương ứng với 2 giai đoạn nuôi (0 - 28 và 29 - 56 ngày tuổi) đối với gà broiler HV35 đã có tác dụng cải thiện sinh trưởng của gà thêm 8,72%, giảm tiêu tốn thức ăn cho sinh trưởng là 5,86%) và giảm chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng đến 7,10%

Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu ở các tỷ lệ khác nhau trong khẩu phần ăn của gà broiler dòng Ross 208, cho thấy, tiêu thụ thức ăn của

gà có xu hướng giảm liên tục, với sự tăng lên của bột lá keo giậu trong khẩu phần Khi bột lá keo giậu trong khẩu phần tăng từ 0 - 12%, tiêu thụ thức ăn của

gà đã giảm từ 4010 g/con xuống còn 3453 g/con Tuy nhiên, nhóm gà được nuôi với khẩu phần 3% bột lá keo giậu không giảm tiêu thụ thức ăn so với nhóm đối chứng (P>0.05), nhưng các nhóm gà được nuôi với khẩu phần chứa từ 6% bột lá keo giậu trở lên đã làm giảm khá rõ rệt so với đối chứng (P<0.01) Hiệu suất sử dụng thức ăn cho sinh trưởng của gà cũng giảm liên tục với sự tăng lên của bột

lá keo giậu trong khẩu phần [9]

Theo kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Khoa Thuỷ sản (Trường Đại học Nông lâm Huế) và Đại học Nông nghiệp Nhiệt đới (Côlômbia), đã thực nghiệm tại xã Vân Thuỷ, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế trên đối tượng cá Rô Phi dòng Gift, cho biết: Dùng bột lá sắn phối trộn với cám, bột cá, Premix khoáng Sau thời gian 6 tháng lần lượt thay thế

25, 50, 75 và 100% bột cá bằng bột lá sắn cho thấy, việc thay thế hoàn toàn bột

cá bằng bột lá sắn làm thức ăn cho cá Rô Phi cho kết quả tăng trưởng tốt, tỷ lệ sống của cá nuôi đạt từ 76-90% Dùng lá sắn thay thế bột cá trong khẩu phần

ăn cho cá Rô Phi đem lại nhiều kết quả khả quan, vừa tận dụng được nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương vừa giảm được giá thành sản phẩm [48]

Trang 38

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Ngọn, lá cây lạc được trồng tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên gồm 3 giống là: MD7, Sen lai Nghệ An và L14

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Phân tích thành phần hoá học tại Viện Khoa học sự sống, Trường Đại học Nông Lâm

+ Tiến hành thí nghiệm tại Trại gà thương phẩm gia đình ông Nguyễn Tiến Mạnh (xóm Bá Sơn, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên)

và Trại gà giống gia đình ông Nguyễn Thế Hiệp, (xóm Ngò, xã Tân Hoà, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên)

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Xác định năng suất, sản lượng ngọn, lá lạc sau khi thu hoạch củ ở Thái Nguyên và các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc

- Nghiên cứu chế biến bột ngọn, lá lạc bằng các phương pháp khác nhau

- Phân tích thành phần hoá học của ngọn, lá một số giống lạc

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các tỷ lệ bột ngọn, lá lạc khác nhau trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất thịt, tỷ lệ đẻ, chất lượng trứng và chất lượng con giống

Trang 39

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Xác định năng suất, sản lượng ngọn, lá lạc; thành phần hoá học, vitamin và giá trị dinh dưỡng của bột ngọn, lá lạc sau khi chế biến bằng các phương pháp phơi, sấy khác nhau

- Mục tiêu: Xác định được năng suất, sản lượng, thành phần hóa học, vitamin,

giá trị dinh dưỡng và phương pháp chế biến tốt nhất, ít hao hụt dinh dưỡng của bột ngọn, lá lạc

+ Phơi dưới mái che bằng tôn, fibro xi măng với mật độ tương tự như phơi nắng trực tiếp

+ Sấy thủ công bằng lò quay với khối lượng 10kg/mẻ

+ Sấy bằng lò bán tự động: Mỗi mẻ sấy được 3 tấn ngọn, lá tươi

- Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:

* Năng suất:

Năng suất chất xanh (kg/m2

hoặc tấn/ha): là khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích

Trang 40

KLCX thu được NSCX (kg/m2 hoặc tấn/ha) =

Diện tích một ô thí nghiệm (m2) Năng suất VCK (kg/m2

hoặc tấn/ha): Là khối lượng vật chất khô thu được trên một đơn vị diện tích

Năng suất VCK (tấn/ha) = Năng suất chất xanh x tỷ lệ VCK

* Sản lượng:

Sản lượng chất xanh của ngọn, lá lạc: Là tổng khối lượng chất xanh thu cắt được trong 1 năm (tấn)

Sản lượng VCK (tấn/ha/năm): = Sản lượng chất xanh x tỷ lệ VCK%

- Phương pháp phân tích thành phần hóa học:

+ Hàm lượng nước: Sấy mẫu ở nhiệt độ 100 – 1050C, thời gian sấy dài hay ngắn phụ thuộc vào loại mẫu phân tích Sấy cho đến khi cân lần thứ ba vẫn không thay đổi khối lượng Hàm lượng nước là tỷ lệ % giữa khối lượng nước mất đi và khối lượng mẫu đem phân tích (TCVN – 4326 – 86) [23]

+ Protein thô: Xác định hàm lương Nitơ tổng số bằng phương pháp Kjeldahl theo TCVN – 4328 – 2001 Sau đó tính hàm lương protein thô bằng cách nhân Nitơ tổng số với hệ số 5,83 [24]

+ Lipid thô: Xác định bằng phương pháp chiết rút chất béo qua dung môi Ete bằng hệ thống Soxhlet theo tiêu chuẩn TCVN – 4331 – 86 [25]

+ Xơ thô: Xác định theo phương pháp Weende (TCVN – 4329 – 86) bằng cách thủy phân mẫu trong dung dịch axit và kiềm loãng [27]

+ Khoáng tổng số (tro thô): Xác định bằng phương pháp xử lý nhiệt ở nhiệt độ 550 – 6000C trong lò nung từ 3 – 6 giờ theo TCVN – 4327– 86 [26]

+ Dẫn xuất không đạm được xác định: DXKĐ (%) = VCK (%) – Protein thô (%) – Xơ thô (%) – Lipid thô (%) – Khoáng tổng số (%)

Ngày đăng: 04/10/2014, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Chinh (2006), Kỹ thuật thâm canh lạc năng suất cao, NXB Nông nghiệp – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật thâm canh lạc năng suất cao
Tác giả: Nguyễn Thị Chinh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp – Hà Nội
Năm: 2006
2. Bùi Văn Chính, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến và cs (1995), Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Chính, Vũ Duy Giảng, Hoàng Văn Tiến và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
3. Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tào, Phạm Văn Thìn, Đỗ Viết Minh, Nguyễn Văn Hải (2002), “Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc”, Viện Chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc”, "Viện Chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Bùi Văn Chính, Lê Viết Ly, Nguyễn Hữu Tào, Phạm Văn Thìn, Đỗ Viết Minh, Nguyễn Văn Hải
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn (1997), Dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn gia súc
Tác giả: Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
6. Từ Quang Hiển (1982) “Nghiên cứu sử dụng lá sắn chăn nuôi lợn”, KHKT Viện chăn nuôi, Hà Nội T4/1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng lá sắn chăn nuôi lợn”
7. Từ Quang Hiển (1983), “Kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng”, trích “Những kết quả nghiên cứu về cây sắn”, KHKT Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Quang Hiển (1983), “Kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng”, trích “Những kết quả nghiên cứu về cây sắn”
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1983
8. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002), Thức ăn và Dinh dưỡng gia súc (Giáo trình Cao học), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và Dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Inh (2008), “Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leucaena) trong chăn nuôi”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, tr84-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leucaena) trong chăn nuôi”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Inh
Năm: 2008
10. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
11. Điền Văn Hƣng (1974), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam, NXB Nông thôn, In lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Điền Văn Hƣng
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1974
13. Nguyễn Văn Lợi (2009), Nghiên cứu xác định bộ giống và ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật đến năng suất chất xanh một số giống cây thức ăn gia súc tại Thái Nguyên, Đề tài dự thi sáng tạo trẻ tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định bộ giống và ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật đến năng suất chất xanh một số giống cây thức ăn gia súc tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Năm: 2009
14. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995), Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Ngô Giản Luyện (1994), Nghiên cứu một số tính trạng năng xuất của các dòng thuần chủng V 1 , V 2 ,V 3 ,V 5 giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Giản Luyện (1994), "Nghiên cứu một số tính trạng năng xuất của các dòng thuần chủng V"1", V"2",V"3",V"5 "giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Năm: 1994
16. Nguyễn Nghi và CTV (1985), “Xác định thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong một số loại thức ăn ở Việt Nam”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật Nông nghiệp 1981 – 1985, phần chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong một số loại thức ăn ở Việt Nam”, "Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật Nông nghiệp 1981 – 1985, phần chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Nghi và CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
18. Nguyễn Ngọc Nông (1999), Giáo trình nông hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nông hoá
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nông
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
19. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung (2002), Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đồng cỏ và cây thức ăn thức ăn gia súc
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Trần Trang Nhung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
20. Nguyễn Văn Thiện (2001), Phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
21. Nguyễn Văn Thưởng, Sumilin, IS và cs (1992), Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam , NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng, Sumilin, IS và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
22. Bùi Quang Tiến (1993), “Phương pháp mổ gia súc, gia cầm”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 2/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp mổ gia súc, gia cầm”
Tác giả: Bùi Quang Tiến
Năm: 1993
55. Nông nghiệp Việt Nam, ngày 14/11/2003 - Số 228 56. http://www.khoahocchonhanong.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 (cho 1 lần thí nghiệm) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 (cho 1 lần thí nghiệm) (Trang 42)
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 (Trang 44)
Bảng 2.4. Giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn của gà thí nghiệm 2 - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 2.4. Giá trị dinh dưỡng khẩu phần ăn của gà thí nghiệm 2 (Trang 45)
Bảng 3.2. Kết quả phơi, sấy ngọn và lá lạc bằng các phương pháp khác nhau - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.2. Kết quả phơi, sấy ngọn và lá lạc bằng các phương pháp khác nhau (Trang 49)
Bảng 3.3. Thành phần hóa học của ngọn, lá lạc khi thu hoạch củ (%) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.3. Thành phần hóa học của ngọn, lá lạc khi thu hoạch củ (%) (Trang 51)
Bảng 3.4. Thành phần một số loại vitamin trong ngọn, lá lạc - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.4. Thành phần một số loại vitamin trong ngọn, lá lạc (Trang 53)
Bảng 3.5. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm (%) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.5. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi của gà thí nghiệm (%) (Trang 54)
Bảng 3.7. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.7. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) (Trang 56)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 57)
Bảng 3.9. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.9. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (kg) (Trang 59)
Bảng 3.12. Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm (n=48) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.12. Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm (n=48) (Trang 61)
Bảng 3.14. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (đ) - nghiên cứu chế biến và sử dụng bột ngọn, lá lạc cho gà công nghiệp nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.14. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm (đ) (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w