BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN VĂN HIẾU NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện: Ngày 01/08/2017 – 30/01/2018 Địa điểm nghiên cứu: Quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
Học sinh đang theo học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2017
Các học sinh đang theo học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2017
Các học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Các học sinh vắng mặt trong thời gian nghiên cứu (vắng mặt 3 lần) Các học sinh bị bệnh tâm thần.
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích
Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của vị thành niên Để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả, chúng tôi đã áp dụng công thức tính cỡ mẫu phù hợp với quy mô nghiên cứu Việc xác định cỡ mẫu chính xác giúp đánh giá đúng mức độ hiểu biết, thái độ và hành vi của nhóm đối tượng trẻ tuổi trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản Qua đó, nghiên cứu hướng đến cung cấp các đề xuất hữu ích nhằm nâng cao nhận thức và thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên.
𝑑 2 Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu p: tỉ lệ VTN cả 3 KAP chọn đều có n lớn nhất d: sai số trung bình
Z(1-α/2): giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị α được chọn Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn: Độ chính xáctuyệt đối: d = 0,036
Mức ý nghĩa là 5% => Z0,975 = 1,96 p = 0,726 (theo kết quả sơ bộ cuộc khảo sát đầu ra về kiến thức về SKSS/SKTD của VTN tại thành phố cần thơ năm 2011 [35]
Nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, n= 590 Thực tế chúng tôi chọn được 600 học sinh
Phương pháp chọn nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Chọn 2 trường THPT trên địa bàn Quận Bình Thủy vào nghiên cứu là THPT Bình Thủy, THPT Bùi Hữu Nghĩa
Trong giai đoạn 2, các trường tiến hành chọn lớp cho tất cả 3 khối lớp, đảm bảo sự đa dạng và phù hợp của từng khối Việc lựa chọn lớp thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản, bằng cách lập danh sách tên lớp theo khối và bốc thăm để chọn 9 lớp trong 3 khối khác nhau Đối với THPT Bình Thủy, các lớp được chọn gồm có 10b2, 10b4, 10b6, 11b3, 11b5, 11b9, 12b2, 12b3, 12b11, trong khi tại THPT Bùi Hữu Nghĩa, các lớp là 10a5, 10a8, 10a11, 11a1, 11a5, 11a9, 12a4, 12a6, 12a10.
Trong giai đoạn 3, học sinh trong các lớp được chọn vào mẫu theo tỷ lệ, dựa trên ước tính có khoảng 6 khối lớp từ 2 trường Mỗi khối gồm 3 lớp, trung bình mỗi lớp có khoảng 35 học sinh, dẫn đến tổng số học sinh được chọn là khoảng 180 học sinh (6 khối x 3 lớp x 35 học sinh/lớp) Quy trình chọn mẫu đảm bảo tính đại diện và chính xác cho khảo sát.
2.2.4 Biến số nghiên cứu và định nghĩa sử dụng
- Tuổi: Là tuổi tròn của người được phỏng vấn, tính như sau: năm hiện tại trừ cho năm sinh, ví dụ: 2017 – 1999 = 18 tuổi
- Giới: Có 2 giá trị: nam và nữ
- Dân tộc: Có 4 giá trị: Kinh, Khomer, Hoa, Dân tộc khác
- Tôn giáo: Có 4 giá trị: Không tôn giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, khác
- Trình độ học vấn: Có 3 giá trị:
- Môi trường sống khi đang học tập tại trường: Có 3 giá trị: Ở với ba mẹ, ở trọ, khác (ghi rõ)
- Kết quả học tập của bạn năm rồi xếp loại gì: có 5 giá trị: Xuất sắc, giỏi, Khá,
- Tuổi bắt đầu dậy thì của bạn là bao nhiêu( hành kinh đối với nữ/mộng tinh đối với nam): ≤ 13, 14, ≥ 15
- Trình độ học vấn của ba có 7 giá trị: Không biết đọc, Không biết viết, Biết đọc biết viết, Cấp 1, Cấp 2, Cấp 3, Trên THPT
- Trình độ học vấn của ba có 7 giá trị: Không biết đọc, Không biết viết, Biết đọc biết viết, Cấp 1, Cấp 2, Cấp 3, Trên THPT
- Tình trạng hôn nhân của bô/mẹ bạn như thế nào: Có 4 giá trị : Sống cùng nhau, ly hôn, ly thân, đã mất
- Kinh tế gia đình theo nhận định của cá nhân bạn là gì: Có 2 giá trị : nghèo ( có sổ hộ nghèo hoặc sổ cận nghèo), không nghèo
2.2.4.2 Kiến thức về sức khỏe sinh sản
- Kiến thức về các dấu hiệu dậy thì: có hai giá trị là có kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng
+ Tăng về chiều cao cân nặng
+ Phát triển về ngực vú
+ Mọc lông ở vùng kín
+ Bắt đầu có kinh nguyệt
+ Mộng tinh Đánh giá kiến thức đúng khi biết từ 1 dấu hiệu trở lên Đánh giá kiến thức sai không biết bất kỳ 1 dấu hiệu nào
Hiểu về khả năng mang thai sau quan hệ không an toàn là rất quan trọng, vì có hai loại kiến thức chính: đúng và chưa đúng Người có kiến thức đúng sẽ trả lời "có" khi được hỏi về khả năng mang thai sau quan hệ không an toàn, trong khi người có kiến thức sai sẽ trả lời "không" Việc nhận biết chính xác giúp xác định mức độ hiểu biết và nâng cao ý thức phòng tránh thai, giảm thiểu rủi ro mang thai ngoài ý muốn.
- Kiến thức tình dục an toàn: có 2 giá trị là kiến thức đúng và chưa đúng
+ Không có nguy cơ nhiểm bệnh qua đường tình dục
+ Không mang thai ngoài ý muốn
+ Sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn như: bao cao su
+ Không biết Đánh giá kiến thức đúng khi trả từ 1 ý trở lên Đánh giá kiến thức sai khi trả lời không biết
- Kiến thức về thời điểm có thai: có hai giá trị là có kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng Đánh giá kiến thức đúng khi trả lời Giữa chu kỳ kinh Đánh giá kiến thức chưa đúng khi trả lời 1 tuần trước khi hành kinh; 1 tuần sau hành kinh; không biết
- Kiến thức về những biện pháp tránh thai: có hai giá trị là kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng
Xuất tinh ngoài âm đạo là một biện pháp tránh thai được nhiều người biết đến, và đánh giá kiến thức đúng là khi người trả lời có thể nêu rõ phương pháp này Ngược lại, kiến thức chưa đúng sẽ thể hiện qua việc người đó trả lời không biết hoặc không rõ về biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo Việc nắm vững kiến thức này giúp nâng cao ý thức chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng tránh thất bại trong việc tránh thai.
Nắm vững kiến thức về nơi cung cấp các BPTT là rất quan trọng, bao gồm hai giá trị chính: kiến thức đúng và chưa đúng Kiến thức đúng được xác định khi người học có thể trình bày đầy đủ nội dung liên quan trở lên, thể hiện sự hiểu biết chính xác Trong khi đó, kiến thức chưa đúng được đánh giá khi người học trả lời "không biết" hoặc không nắm rõ nội dung đã đề cập Việc đánh giá chính xác khả năng hiểu biết của người học giúp nâng cao hiệu quả đào tạo và cải thiện kỹ năng đọc hiểu.
- Kiến thức về tác hại của nạo phá thai:, có hai giá trị là có kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng
+ Không biết Đánh giá kiến thức đúng khi trả lời được 1 tác hại trở lên nói trên Đánh giá kiến thức chưa đúng khi không trả lời không biết hoặc trả lời vô hại
- Kiến thức về bệnh LTQĐTD: Kiến thức đối tượng là biến định tính, có hai giá trị là kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng
Đánh giá kiến thức đúng khi trả lời "không biết" đối với các bệnh được đề cập trong danh sách trên, giúp phản ánh chính xác khả năng hiểu biết của người trả lời về các bệnh đó Ngược lại, đánh giá chưa chính xác sẽ xảy ra nếu phản hồi "không biết" bị bỏ qua hoặc xem nhẹ, dẫn đến hiểu lầm về mức độ kiến thức thực sự Việc xác định đúng khả năng của người trả lời là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng kiểm tra và đào tạo y tế, đảm bảo phản ánh đúng mức độ hiểu biết về các bệnh quan trọng Do đó, cần có tiêu chuẩn rõ ràng trong việc đánh giá các câu trả lời "không biết" để nâng cao độ chính xác và hiệu quả của quá trình khảo sát kiến thức y học.
- Kiến thức về con đường lây truyền HIV/AIDS: Có 2 giá trị kiến thức đúng và chưa đúng
+ Quan hệ tình dục không an toàn
Đánh giá kiến thức đúng được thực hiện khi người trả lời có khả năng trả lời đúng các bệnh đã nêu lên, trong khi đó, đánh giá sai sẽ xảy ra nếu người đó trả lời "không biết" Việc xác định mức độ hiểu biết dựa trên khả năng phản hồi chính xác các bệnh đã đề cập giúp đảm bảo đánh giá chính xác năng lực của người tham gia.
- Theo bạn nạo phá thai ở đâu là tốt nhất: gồm 4 giá trị
+ Nơi kín đáo, bí mật
Đánh giá kiến thức y khoa cần dựa trên khả năng trả lời chính xác các vấn đề liên quan đến cơ sở y tế chuyên khoa Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa đánh giá đúng mức độ kiến thức khi trả lời về các nơi kín đáo, bí mật hay phòng khám tư nhân Việc hiểu rõ kiến thức đúng và sai giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân trong mọi hoàn cảnh.
- Những biện pháp phòng bệnh lây qua đường tình dục HIV/AIDS: Có 2 giá trị kiến thức đúng và chưa đúng
+ Dùng bao cao su khi quan hệ tình dục
+ Tránh quan hệ tình dục với người lạ
+ Tránh dùng chung bơm kim tiêm
+ Tránh truyền máu không an toàn
+ Không quan hệ tình dục
Đánh giá kiến thức của người học cần dựa trên khả năng trả lời chính xác các bệnh lý đã nêu; trả lời "biết" khi người học nắm rõ thông tin về các bệnh này thể hiện hiểu biết đúng đắn, trong khi trả lời "không biết" cho thấy kiến thức còn hạn chế Việc đánh giá đúng mức độ hiểu biết giúp xác định chính xác kiến thức thực sự của người học và cải thiện quá trình giảng dạy, đảm bảo kết quả học tập hiệu quả hơn.
- Kiến thứ về thông tin y tế: có 2 giá trị kiến thức đúng và chưa đúng
Để đánh giá kiến thức về sức khỏe sinh sản (SKSS), người nhận được thông tin từ nhiều nguồn như truyền hình, sách báo, tạp chí, đài phát thanh, nhân viên y tế, nhà trường, bố mẹ và bạn bè Người ta xem xét mức độ hiểu biết của họ dựa trên khả năng trả lời đúng các câu hỏi về SKSS; họ được coi là có kiến thức đúng khi trả lời đúng ít nhất 75% số câu hỏi trong phần kiến thức Ngược lại, nếu trả lời đúng dưới 75%, chứng tỏ họ còn thiếu hụt kiến thức về SKSS Việc đánh giá đúng hay chưa đúng dựa trên mức độ phản hồi chính xác của các cá nhân, giúp xác định mức độ hiểu biết chung về sức khỏe sinh sản.
2.2.4.3 Thái độ về Sức khỏe sinh sản
Việc giáo dục SKSS cho học sinh là cần thiết để nâng cao ý thức đúng về sức khỏe sinh sản, qua đó hình thành thái độ tích cực và phù hợp Thái độ đúng được đánh giá khi học sinh trả lời "Rất đồng ý" hoặc "Đồng ý", thể hiện nhận thức đúng đắn về vấn đề này Trong khi đó, thái độ chưa đúng sẽ được xác định khi học sinh trả lời "Không đồng ý", "Rất không đồng ý" hoặc "Không rõ", cho thấy thiếu hiểu biết hoặc quan điểm chưa chính xác về giáo dục SKSS.
Quan điểm về việc quan hệ tình dục trước hôn nhân gồm hai loại thái độ đúng và chưa đúng Thái độ đúng được đánh giá qua các phản hồi như "Rất không đồng ý" hoặc "Không đồng ý," cho thấy sự phản đối hoặc hạn chế trong việc chấp nhận quan hệ trước hôn nhân Trong khi đó, thái độ chưa đúng được phản ánh qua các câu trả lời như "Đồng ý," "Rất đồng ý," hoặc "Không rõ," thể hiện sự chấp nhận hoặc còn mơ hồ về vấn đề này Việc xác định rõ các phản hồi giúp đánh giá chính xác thái độ của cá nhân đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân, góp phần nâng cao hiểu biết về định kiến xã hội và phát triển các chiến lược truyền thông phù hợp.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Trong quá trình thu thập dữ liệu, các điều tra viên sẽ kiểm tra kỹ lưỡng từng bộ câu hỏi để đảm bảo thông tin đã điền đầy đủ và loại bỏ những phiếu thiếu dữ liệu Dữ liệu đã sạch sẽ sau đó được nhập vào phần mềm SPSS để phân tích và xử lý, góp phần nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của nghiên cứu.
Các biến độc lập: bao gồm tần số và tỷ lệ như tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn
Biến số về nguồn thông tin: tivi, cán bộ y tế, sách báo,…
Các biến phụ thuộc: tần số và tỷ lệ các biến “hiểu biết, thái độ và thực hành về SKSS đúng”
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để phân tích dữ liệu
Xác định tỷ lệ của từng biến phụ thuộc, khoảng tin cậy 95% cho từng tỷ lệ tương ứng
Tỷ số chênh (OR): tìm hiểu yếu tố liên quan giữ biến độc lập với biến phụ thuộc.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu điều tra cộng đồng không xâm lấn, giúp giảm thiểu ảnh hưởng đến vấn đề đạo đức y học Trước khi thu thập dữ liệu, chúng tôi đã nhận được sự đồng ý từ hiệu trưởng các trường THPT, đảm bảo tính hợp pháp và đạo đức của nghiên cứu Trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi đã giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và quyền từ chối tham gia của đối tượng để đảm bảo quyền lợi của người tham gia.
KẾT QUẢ
Phần thông tin chung của học sinh THPT tại quận Bình Thủy
Bảng 3.1 Thông tin chung về giới tính, lớp của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số
Trong 600 học sinh tham gia nghiên cứu, số học sinh nữ chiến 57,5%, học sinh nam chiếm 42,5% Số học sinh tương đối điều nhau giữa các khối lớp
10 chiếm 35,3% cao nhất và lớp 12 là 34,3%, lớp 11 chiếm 30,3%
Bảng 3.2 Thông tin về xếp loại học lực tuổi bắt đầu vậy thì và sống ở đâu khi học THPT của đối tượng Đặc điểm Tần số
Tuổi bắt đầu dậy thì
Sống với gia đình 532 88,7 Ở trọ 21 3,5
Trong số học sinh được khảo sát, phần lớn xếp loại học lực trung bình chiếm 46,3%, tiếp theo là loại khá với 38,7%, giỏi 12,8%, yếu/kém 1,2% và xuất sắc chỉ 1% Độ tuổi học sinh tham gia khảo sát chủ yếu là dưới 14 tuổi, trong đó trẻ từ dưới 13 tuổi chiếm 36,5%, từ 13 đến 14 tuổi là 41,7%, còn các học sinh từ 15 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn là 21,8% Hầu hết các học sinh đều sinh sống cùng gia đình, chiếm tới 88,7%, phản ánh mức độ ổn định về môi trường sống của các em.
Bảng 3.3 Thông tin về dân tộc và tôn giáo của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số
Trong tổng số học sinh, 97,7% là dân tộc Kinh, còn lại dân tộc Hoa chiếm 1,3%, và dân tộc Khmer là 0,8% Về tôn giáo, đa số học sinh không theo tôn giáo chiếm tỷ lệ 52,7%, trong đó đạo Phật vẫn giữ vị trí cao với tỷ lệ 42,7%.
3.2 Kiến thức vị thành niên về sức khỏe sinh sản
Bảng 3.4 Kiến thức về sinh lý tuổi vậy thì
Giới Phân loại kiến thức
Tổng 345 100 Ở học sinh nam tỷ lệ hiểu biết đúng về sinh lý vậy thì chiếm 98,4% Ở học sinh nữ, tỷ lệ hiểu biết về sinh lý vậy thì chiếm 98,2%
Bảng 3.5 Kiến thức về khả năng mang thai, thời điểm dễ thụ thai nếu có QHTD và QHTD an toàn
Kiến thức Đúng Chưa đúng Tổng cộng n(%) n % n %
Thời điểm dễ có thai
Khoảng 95,7% học sinh có kiến thức chính xác về khả năng mang thai nếu có quan hệ tình dục Tuy nhiên, phần lớn học sinh chưa có kiến thức đúng về thời điểm dễ mang thai, chỉ có 17,2% học sinh nắm vững kiến thức này Trong khi đó, tỷ lệ học sinh hiểu đúng về quan hệ tình dục an toàn khá cao, đạt 94,3%, cho thấy nhận thức về an toàn khi quan hệ tình dục được cải thiện rõ rệt.
Bảng 3.6 Kiến thức về nơi cung cấp BPTT, Các BPTT, tác hại nạo phá thai và nơi nạo phá thai tốt nhất
Kiến thức Đúng Chưa đúng Tổng cộng n(%) n % n %
Nơi cung cấp BPTT 568 94,7 32 5,3 600(100) Các biện pháp tránh thai 586 97,7 14 2,3 600(100) Tác hại nạo phá thai 582 97 18 3 600(100) Nơi nạo phá thai tốt nhất 548 91,3 52 8,7 600(100)
Khoảng 94,7% học sinh có kiến thức chính xác về nơi cung cấp biện pháp tránh thai Đặc biệt, 97,7% học sinh nhận thức rõ các biện pháp tránh thai hiệu quả, trong khi 97% học sinh hiểu đúng về tác hại của nạo phá thai Ngoài ra, 91,3% học sinh có kiến thức đúng về nơi nạo phá thai an toàn, thể hiện sự hiểu biết vững chắc về lĩnh vực này.
Bảng 3.7 Kiến thức về bệnh LTQĐTD, con đường lây truyền HIV/AIDS và các biện pháp phòng bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS
Kiến thức Đúng Chưa đúng Tổng cộng n(%) n % n %
Có 98,5% học sinh có kiến thức đúng về bệnh LTQĐTD, 99,7% học sinh có kiến thức đúng về các con đường lây truyền HIV/AIDS và 98,2% học sinh có kiến thức đúng về cách phòng bệnh LTQĐTD - HIV/AIDS
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ hiểu biết của học sinh về các BPTT
BPTT học sinh biết nhiều nhất là bao cao su 89,8% và thuốc tránh thai 77,7% thấp nhất là thuốc cấy tránh thai
Thuốc tránh thai Đặt vòng
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ hiểu biết học sinh về nơi cung cấp biện pháp tránh thai
Nơi cung cấp BPTT biết nhiều nhất là cơ sở y tế 83,3%, tiếp theo là nhà thuốc 43,3%
Biểu đồ 3.3 cho thấy đa số học sinh đều nhận thức rõ về tác hại của việc nạo phá thai, trong đó tỷ lệ hiểu biết về vô sinh cao nhất với 80,3% Tiếp theo là nguy cơ thủng tử cung, chiếm 67,2%, cho thấy kiến thức của học sinh về những hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai ngày càng được nâng cao.
Cơ sở y tế Nhà thuốc Cán bộ dân số
Vô sinh Thủng tử cung
Mất máu Đau bụng Vô hại
Biểu đồ 3.4 thể hiện tỷ lệ học sinh hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có đến 96% nhận biết về HIV/AIDS là bệnh lây qua đường tình dục Tuy nhiên, kiến thức của học sinh về các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn hạn chế, đặc biệt là bệnh sùi mào gà, với tỷ lệ biết ít chỉ chiếm 7,3% Điều này cho thấy cần tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về các bệnh lây truyền qua đường tình dục để nâng cao nhận thức của học sinh.
Bảng 3.8 Kiến thức chung về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Kiến thức chung Nam Nữ Chung n % n % n % Đúng 236 92,5 325 94,2 561 93,5
Kết quả khảo sát cho thấy có đến 93,5% học sinh hiểu đúng về chăm sóc SKSS, trong khi 6,5% còn thiếu kiến thức chính xác Trong đó, tỷ lệ học sinh nữ có kiến thức đúng chiếm 94,2%, cao hơn so với học sinh nam với tỷ lệ 92,5% Điều này cho thấy nhận thức về chăm sóc SKSS đang được nâng cao rõ rệt, đặc biệt ở các em nữ.
3.3 Thái độ đúng của VTN về sức khỏe sinh sản
Bảng 3.9 thể hiện thái độ đúng về giáo dục kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản (SKSS) và thực trạng quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân, đặc biệt về các vấn đề như đi học mang thai, biến chứng nạo phá thai và các biện pháp tránh thai hiệu quả Việc nâng cao nhận thức và thái độ tích cực về giáo dục SKSS là cần thiết để giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và các biến chứng liên quan đến phá thai Đồng thời, việc cung cấp kiến thức đầy đủ về các biện pháp tránh thai giúp các bạn trẻ có quyết định đúng đắn, bảo vệ sức khỏe, hạn chế các rủi ro về y tế và tâm lý Chính sách giáo dục toàn diện và phù hợp sẽ góp phần tạo ra môi trường giáo dục an toàn, giúp các học sinh trang bị kỹ năng phòng tránh mang thai ngoài ý muốn một cách hiệu quả.
Thái độ Đúng Chưa đúng Tổng cộng n(%) n % n %
QHTD trước hôn nhân 377 62,8 233 37,2 600(100) Đang đi học mà có thai 585 97,5 15 2,5 600(100) Biến chứng nạo phá thai 531 88,5 69 11,5 600(100)
Phần lớn học sinh (97%) có thái độ đúng về giáo dục SKSS, thể hiện nhận thức tích cực về sức khỏe sinh sản Đồng thời, 62,8% học sinh có thái độ đúng về quan hệ tình dục trước hôn nhân, cho thấy ý thức đúng đắn về vấn đề này Học sinh đều thể hiện thái độ đúng về việc đang đi học không nên có thai, đạt tỷ lệ 97,5% Ngoài ra, 88,5% học sinh nhận thức đúng về các biến chứng nguy hiểm của nạo phá thai, phản ánh nhận thức chính xác về các rủi ro liên quan Trong đó, đa số học sinh (92,7%) cung cấp thông tin đúng về BPTT, khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản đúng đắn trong cộng đồng học sinh.
Bảng 3.10 Thái độ chung về SKSS của VTN
Thái độ chung Nam Nữ Chung n % n % n % Đạt 237 93 333 96,5 570 95
Trong tổng số học sinh, có đến 95% học sinh có thái độ đúng về chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng tránh HIV/AIDS (CSSSKSS), trong khi chỉ 5% học sinh còn chưa có thái độ đúng Đặc biệt, tỷ lệ học sinh nữ có thái độ đúng về SKSS đạt 96,5%, cao hơn đáng kể so với học sinh nam, với tỷ lệ 93%.
3.4 Thực hành đúng về SKSS của VTN
3.4.1 Thực hành của nữ về chăm sóc SKSS
Bảng 3.11 Thực hành về rửa vùng kính bằng dung dịch vệ sinh, số lần, quy trình vệ sinh vùng kín và nên làm gì trong hành kinh
Thực hành Đúng Chưa đúng Tổng cộng n(%) n % n %
Số lần vệ sinh vùng kín 234 67,8 111 32,2 345(100) Quy trình vệ sinh vùng kín 126 36,5 219 63,5 345(100) Trong khi hành kinh nên làm gì
Trong số học sinh nữ, 100% thực hành đúng cách sử dụng dung dịch để rửa vùng kín, nhưng chỉ có 67,8% vệ sinh vùng kín hàng ngày Chỉ 36,5% học sinh nữ rửa vùng kín theo đúng quy trình vệ sinh, cho thấy còn nhiều khoảng cách trong ý thức chăm sóc vệ sinh cá nhân Đặc biệt, gần như tất cả học sinh nữ (99%) đều biết cần phải làm gì trong thời kỳ nguyệt san, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh vùng kín đúng cách.
3.4.2 Thực hành đúng của nam về CSSKSS
Bảng 3.12 Thực hành đúng về quy trình vệ sinh bộ phận sinh dục
Quy trình vệ sinh BPSD Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đúng 186 73
Có 73% học sinh nam thực hành đúng về quy trình vệ sinh BPSD
Bảng 3.13 Thực hành đúng về số lần thay quần lót/ngày
Số lần thay quần lót/ngày Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đúng 176 69
Có 69% số học sinh nam thực hành đúng số lần thay quần lót trong ngày
3.4.3 Thực hành đúng của nam và nữ về CSSKSS
Bảng 3.14 Thực hành về xử trí dấu hiệu bất thường ở BPSD
Xử trí bất thường ở BPSD Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đúng 584 97,3
Tổng cộng 600 100 Đa số học sinh đều biết cách xủ lý bất thường BPSD chiếm đến 97,3%
Bảng 3.15 Thực hành về thủ dâm
Thực hành thủ dâm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đúng 458 76,3
Có đến 76,3% học sinh thực hành đúng về thủ dâm
Bảng 3.16 Thực hành chung cả nam và nữ về CSSKSS
Có 72,8% học sinh thực hành đúng về CSSKSS Trong đó số học sinh thực hành đúng giữa nam và nữ là tương đương nhau 73% và 72,7%
Bảng 3.17 Nguồn cung cấp kiến thức
Nguồn cung cấp Tần số (n`0) Tỷ lệ (%)
Sách, báo, tạp chí 477 79,5 Áp phích, tờ rơi 148 24,7
Sách, báo, tạp chí và truyền hình là các kênh truyền thông phổ biến nhất cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản, với tỷ lệ học sinh tiếp cận đạt lần lượt 79,5% và 85,5% Trong khi đó, các ấn phẩm như tờ rơi lại là nguồn thông tin ít được học sinh quan tâm hơn, với tỷ lệ tiếp cận chỉ khoảng 24,7% Những nguồn này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh.
3.5 Một số yếu tố liên quan đến, kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng trong CSSKSS của học sinh THPT quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ 3.5.1 Mối liên quan với kiến thức chung
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm với kiến thức Đặc điểm Kiến thức OR
(KTC 95%) p Chưa đúng Đúng
Một số yếu tố liên quan đến, kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng
Nghiên cứu cắt ngang năm 2017 tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông Kết quả cho thấy mức độ nhận thức của học sinh về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn Nghiên cứu đã khảo sát 600 đối tượng học sinh nhằm cung cấp dữ liệu chính xác về mức độ hiểu biết và hành vi thực tiễn của giới trẻ trong lĩnh vực này Các kết quả này giúp đề xuất các giải pháp nâng cao kiến thức và thái độ tích cực của học sinh về chăm sóc sức khỏe sinh sản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục giới tính trong trường học.
Tỷ lệ học sinh điều chỉnh giữa các khối lớp 10, 11 và 12 dao động quanh mức 30-35%, trong đó lớp 10 có tỷ lệ cao nhất đạt 35,3%, tiếp đến là lớp 12 với 34,3%, và lớp 11 là 30,3% Các số liệu này không chênh lệch đáng kể so với nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Chiêu Ngân, với tỷ lệ khối 10-11-12 lần lượt là 31,8%, 33,7% và 34,5% [26], cho thấy xu hướng điều chỉnh học sinh giữa các khối lớp khá ổn định trong các năm gần đây.
4.1.2 Về giới và tuổi vậy thì
Trong nghiên cứu có 600 học sinh tham gia, trong đó nữ chiếm 57,5% và nam chiếm 42,5%, tỷ lệ học sinh nữ cao hơn so với các nghiên cứu của Trương Khánh Toàn (50%) và Lê Ngọc Chiêu Ngân (52,7%), nhưng tỷ lệ học sinh nam lại thấp hơn so với các nghiên cứu này Đa phần học sinh khảo sát thuộc độ tuổi dưới 13 đến 14 tuổi, lần lượt chiếm 36,5% và 41,7%, trong khi độ tuổi từ 15 trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn, khoảng 21,8% Do sự phát triển xã hội ngày càng nhanh, tuổi vị thành niên của Việt Nam đến sớm hơn trước, vì vậy các chương trình giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản cần được đưa vào chương trình học từ sớm để giúp các em có nhận thức đúng đắn về chăm sóc sức khỏe bản thân.
Hầu hết học sinh hiện nay sống cùng gia đình, chiếm tỷ lệ 88,7%, trong khi đó, tỷ lệ sống trọ chỉ đạt 3,5% Tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Chiêu Ngân (89,9%) và Trương Khánh Toàn (98,8%), nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Đô (59,4%).
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của học sinh phổ thông
Nghiên cứu cắt ngang năm 2017 tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của hơn 600 học sinh trung học phổ thông Kết quả cho thấy mức độ nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn hạn chế, ảnh hưởng đến thái độ và thực hành của học sinh trong việc phòng tránh các bệnh liên quan Đây là vấn đề cần được quan tâm và thúc đẩy các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản trong trường học để nâng cao kiến thức và hình thành các thái độ tích cực, góp phần bảo vệ sức khỏe tuổi trẻ.
Trong các khối lớp 10, 11 và 12, tỷ lệ học sinh tương đối đều nhau, cụ thể là 35,3% ở lớp 10 cao nhất, tiếp đến là lớp 12 với 34,3%, và lớp 11 là 30,3% Điều này cho thấy sự phân bổ học sinh giữa các khối không chênh lệch quá nhiều, phù hợp với nghiên cứu của tác giả Lê Ngọc Chiêu Ngân, với tỷ lệ phân chia giữa các khối lần lượt là 31,8%, 33,7% và 34,5%.
4.1.2 Về giới và tuổi vậy thì
Trong nghiên cứu có sự tham gia của 600 học sinh, trong đó có 57,5% là nữ và 42,5% là nam Tỷ lệ học sinh nữ tham gia cao hơn so với các nghiên cứu của tác giả Trương Khánh Toàn (50%) và Lê Ngọc Chiêu Ngân (52,7%), trong khi tỷ lệ học sinh nam thấp hơn so với các nghiên cứu này, lần lượt là 50% và 47,3% Đa số học sinh tham gia khảo sát trong độ tuổi từ 13 đến 14, chiếm 36,5% đến 41,7%, trong khi tỷ lệ học sinh từ 15 tuổi trở lên chỉ chiếm khoảng 21,8% Với sự phát triển của xã hội, độ tuổi vị thành niên của trẻ em Việt Nam ngày càng đến sớm hơn, do đó, các chương trình giáo dục về sức khỏe sinh sản (SKSS) cần được đưa vào chương trình học đúng thời điểm để giúp các em hiểu rõ hơn về chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân.
Hầu hết học sinh (88,7%) đều sống cùng gia đình, trong khi tỷ lệ sống trọ chỉ chiếm 3,5% So với các nghiên cứu khác, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Ngọc Chiêu Ngân (89,9%) và Trương Khánh Toàn (98,8%), nhưng cao hơn so với Nguyễn Thị Đô (59,4%).
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ học sinh ở trọ thấp hơn so với các tác giả khác, với Lê Ngọc Chiêu Ngân báo cáo chỉ 4%, trong khi Nguyễn Thị Đô ghi nhận đến 32,8%, cao hơn 1,2% so với Trương Khánh Toàn Kết quả này phù hợp vì nghiên cứu của chúng tôi khảo sát khu vực nội thành thành phố, nơi có tỷ lệ học sinh ở trọ thấp hơn, còn của Nguyễn Thị Đô tập trung tại huyện Định Quán, nơi có tỷ lệ học sinh ở trọ cao hơn đáng kể.
Hầu hết học sinh tại quận Bình Thủy thuộc dân tộc Kinh, chiếm tỷ lệ 97,7%, còn lại là dân tộc Hoa với 1,3% và Khmer với 0,8% Tỷ lệ này phù hợp với số liệu của tác giả Trương Khánh Toàn, ghi nhận dân tộc Kinh chiếm khoảng 90,5%, Hoa 8%, và Khmer 1,5% Quận Bình Thủy chủ yếu là nơi cư trú của ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số.
4.1.5 Về tôn giáo Đa số học sinh không theo tôn giáo 52,7% trong đó đạo phật chiếm tỷ lệ cao 42,7% Tỷ lệ học sinh không theo tôn giáo cao hơn so với nghiên cứu Trương Thị Vân Anh 41,5% và thấp hơn so với nghiên cứu Trương khánh Toàn 55,6% Tỷ lệ đối tượng theo đạo đạo phật thấp hơn so với nghiên cứu tác giả Trương Thị Vân Anh 48,2% [1]và cao hơn tác giả Trương khánh Toàn 34,3%
4.2 Kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông 4.2.1 Kiến thức về sinh lý tuổi vậy thì
Nghiên cứu cho thấy mức độ hiểu biết về các dấu hiệu sinh lý tuổi dậy thì của các em học sinh rất cao, với tỷ lệ kiến thức gần như nhau giữa nam và nữ, lần lượt là 98,2% và 98,4% Kết quả này vượt xa so với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Đô năm 2011 chỉ đạt 66,2% (p