BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN THỊ HOÀNG MAI NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TR
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 07/2017 đến tháng 07/2018
Học sinh các lớp đang theo học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Học sinh các lớp 10, lớp 11, lớp 12 đang theo học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Các học sinh vắng mặt trong thời gian điều tra
Các học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu
Các học sinh không đảm bảo sức khỏe tham gia nghiên cứu, không đủ năng lực hành vi (học sinh không bị mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc điều khiển được hành vi của mình).
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Mục tiêu của khảo sát là đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của vị thành niên Chúng tôi sử dụng công thức ước tính tỷ lệ trong quần thể để đảm bảo độ chính xác của kết quả Việc khảo sát giúp hiểu rõ hơn về nhận thức và hành vi liên quan đến sức khỏe sinh sản của nhóm tuổi này, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao ý thức và cải thiện các hành động tích cực Các kết quả từ nghiên cứu sẽ hỗ trợ xây dựng các chiến lược giáo dục và truyền thông phù hợp để thúc đẩy sức khỏe sinh sản cho vị thành niên một cách hiệu quả.
- n là cỡ mẫu nghiên cứu cần có
- d là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thật của quần thể, d=0,05
- α là mức ý nghĩa thống kê, để nghiên cứu có độ tin cậy 95% thì α = 0,05 Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị α được chọnZ = 1,96
- p là tỷ lệ VTN có kiến thức (thái độ/thực hành) đúng về sức khỏe sinh sản Theo nghiên cứu KAP về sức khỏe sinh sản vị thành niên tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ năm 2013 của tác giả Lê Ngọc Chiêu Ngân, tỷ lệ học sinh có kiến thức chung đúng về SKSS là 78%, thái độ đúng là 76,7%, thực hành đúng là 62,5% [17]
Do vậy, để đảm bảo cỡ mẫu là lớn nhất, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn p = 0,625
Để đảm bảo đủ số lượng và chất lượng mẫu nghiên cứu, chúng tôi bắt đầu với tính toán cỡ mẫu ban đầu là n = 360 dựa trên công thức thống kê Để tránh thiếu hụt mẫu do mất mẫu hoặc sai sót, chúng tôi cộng thêm 10% vào cỡ mẫu, nâng tổng số mẫu tối thiểu lên 396 Do phương pháp chọn mẫu qua nhiều giai đoạn nhằm nâng cao độ chính xác của nghiên cứu, chúng tôi áp dụng hệ số thiết kế là 1.5, kết quả cuối cùng là cỡ mẫu cần thiết của nghiên cứu là n'0.
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu Áp dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: Chọn 3 trong 9 trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Ninh Kiều vào nghiên cứu theo cách chọn ngẫu nhiên đơn bằng cách lập danh sách tên trường và bốc thăm Ba trường THPT được chọn bao gồm: THPT An Khánh, THPT Nguyễn Việt Hồng, THPT Châu Văn Liêm
Trong Giai đoạn 2, các trường cần lựa chọn đầy đủ ba khối lớp và mỗi khối sẽ chọn 2 lớp theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Phương pháp này bao gồm việc lập danh sách tên các lớp theo từng khối và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra hai lớp Quá trình lựa chọn này đảm bảo tính khách quan, công bằng và minh bạch trong việc phân bổ các lớp học Việc chọn lớp ngẫu nhiên phù hợp với quy trình tuyển chọn cán bộ, đảm bảo tính công bằng và ngẫu nhiên trong từng khối lớp.
Giai đoạn 3: Chọn học sinh của các lớp được chọn vào mẫu
2.2.3 Các biến số nghiên cứu:
2.2.3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Tuổi là biến định lượng không liên tục, được tính bằng cách lấy năm tại thời điểm nghiên cứu trừ đi năm sinh theo dương lịch Dữ liệu tuổi được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền, giúp xác định rõ nhóm tuổi của người tham gia Giá trị của biến được chia thành hai nhóm chính: nhóm dưới 17 tuổi, tương đương với học sinh khối lớp 10, và nhóm từ 17 tuổi trở lên, tương đương với học sinh khối lớp 11 và 12 Điều này giúp phân loại rõ ràng các nhóm tuổi để phân tích dữ liệu nghiên cứu hiệu quả hơn.
- Giới tính: là biến định tính Thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Giá trị biến bao gồm 3 giá trị là Nam, Nữ, Khác
- Dân tộc: là biến định tính Là dân tộc được ghi trên chứng minh nhân dân của đối tượng nghiên cứu Thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Giá trị biến được chia thành Kinh, Khơ me, Hoa, Khác
Tôn giáo là biến định tính được ghi rõ trên chứng minh nhân dân của đối tượng nghiên cứu, phản ánh đức tin và tín ngưỡng cá nhân Dữ liệu về tôn giáo được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền, giúp xác định các nhóm chính như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Không theo tôn giáo và các tôn giáo khác Việc phân chia này tạo nền tảng để phân tích rõ ràng về cơ cấu tôn giáo trong mẫu khảo sát, hỗ trợ các nghiên cứu về tín ngưỡng và hành vi tôn giáo của đối tượng.
Kết quả học tập là biến thứ tự được xác định dựa trên thành tích học tập trong học kỳ gần nhất của đối tượng nghiên cứu Thông tin này được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền, giúp đánh giá rõ ràng mức độ học tập của học sinh Giá trị của biến bao gồm các mức: Xuất sắc, Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, phản ánh chính xác năng lực học tập của từng cá nhân.
2.2.3.2 Tình trạng gia đình của đối tượng
Tình trạng hôn nhân của bố mẹ là một biến định tính quan trọng, được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền Các giá trị của biến này gồm có: hòa thuận, hay cãi nhau, ly thân, ly hôn và góa bụa, phản ánh trạng thái mối quan hệ gia đình của người tham gia nghiên cứu.
Tình trạng kinh tế của gia đình được phân loại theo địa phương dựa trên quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo phù hợp giai đoạn 2016-2020 Các mức độ này bao gồm hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ không nghèo, giúp đánh giá chính xác mức sống và điều kiện sống của từng gia đình.
Mối quan hệ giữa bố mẹ trong gia đình là một biến định tính, được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền Các giá trị biến thể bao gồm các mức độ như hòa thuận, hòa thuận tương đối (thỉnh thoảng có giận hờn, cãi nhau), và không hòa thuận (thường xuyên cãi vã, căng thẳng) Việc đánh giá mức độ hòa hợp giữa cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường gia đình ổn định và hạnh phúc.
Trình độ học vấn của bố là biến thứ tự, được xác định dựa trên bậc học cao nhất đã hoàn thành của người cha trong đối tượng nghiên cứu Dữ liệu về trình độ học vấn được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền, giúp đảm bảo độ chính xác và dễ dàng phân loại Giá trị của biến này gồm các mức độ từ mù chữ, cấp 1, cấp 2, cấp 3 đến trên tốt nghiệp THPT, phản ánh rõ trình độ học vấn của bố và ảnh hưởng đến các yếu tố liên quan trong nghiên cứu.
- Trình độ học vấn của mẹ: là biến thứ tự Được tính dựa trên bậc học cao nhất đã hoàn thành của mẹ đối tượng nghiên cứu, thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Giá trị biến bao gồm Mù chữ; Cấp 1; Cấp 2; Cấp 3; trên tốt nghiệp THPT
- Nghề nghiệp của bố: là biến định tính Nghề nghiệp là công việc chiếm nhiều thời gian trong ngày nhất của bố đối tượng, thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền Giá trị biến chia thành: công chức nhà nước, tư nhân hoặc lao động tự do, nội trợ
Kết quả
3.1.1 Đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (n = 644) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tuổi (trung bình: 17,01 độ lệch chuẩn: 0,84)
Trong nghiên cứu có 644 học sinh, trong đó tỷ lệ học sinh nữ chiếm lý do 50,3%, cao hơn so với học sinh nam là 49,7% Độ tuổi trung bình của các học sinh là 17,01 tuổi, tập trung trong khoảng từ 16 đến 19 tuổi Phân bổ học sinh theo các khối lớp gần như cân đối, với 33,2% học sinh lớp 10, 33,7% học sinh lớp 11 và 33,1% học sinh lớp 12, cho thấy sự đa dạng và đồng đều trong phân khúc học sinh tham gia nghiên cứu.
Hầu hết học sinh trong vùng là dân tộc Kinh, chiếm 92,7%, và đa số không theo tôn giáo nào, với tỷ lệ 65,4% Về thành tích học tập trong năm học trước, phần lớn học sinh đạt kết quả Giỏi và Khá, lần lượt là 32,6% và 37,4% Ngoài ra, đa số học sinh không thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo, chiếm tỷ lệ 96,1%, cho thấy môi trường học tập ổn định và phát triển tốt.
Bảng 3.2 Đặc điểm về tuổi dậy thì của đối tượng nghiên cứu Đối tượng n
Học sinh cho biết đã hành kinh/ mộng tinh lần đầu Tuổi bắt đầu dậy thì trung bình n %
Tỷ lệ học sinh nữ đã có kinh nguyệt đạt 100%, trong khi 81,2% học sinh nam đã trải qua lần xuất tinh đầu tiên Tuổi bắt đầu dậy thì trung bình ở nữ là 12,29 tuổi, sớm hơn so với nam là 12,62 tuổi Trung bình, tuổi dậy thì bắt đầu ở cả hai giới là 12,46 tuổi.
Bảng 3.3 Đặc điểm khác của đối tượng nghiên cứu (n = 644) Đặc điểm riêng của đối tượng ảnh hưởng đến KAP chăm sóc sức khỏe sinh sản Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Môi trường sống của đối tượng có hiện diện tệ nạn mại dâm
Kiến thức sức khỏe sinh sản được cung cấp từ nhà trường
Trong số học sinh đã từng được giảng dạy về sức khỏe sinh sản tại trường học, tỷ lệ đạt 80,7%, trong đó có 23,1% được đào tạo rất kỹ và 57,6% chỉ nhận được kiến thức sơ sài Tuy nhiên, môi trường sống xung quanh các em còn có sự hiện diện của tệ nạn mại dâm với tỷ lệ 12,9%, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi về sức khỏe sinh sản của học sinh.
3.1.2 Đặc điểm của gia đình đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.4 Đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tình trạng hôn nhân của bố mẹ (nd4)
Mối quan hệ của bố mẹ trong gia đình
Tư nhân hoặc lao động tự do 370 57,4
Tư nhân hoặc lao động tự do 247 38,4
Trình độ học vấn của phụ huynh học sinh khá cao, với 73,2% bố mẹ có trình độ từ Trung học phổ thông trở lên và 67,4% mẹ có trình độ tương tự Tuy nhiên, vẫn còn 0,6% bố mẹ học sinh không biết đọc biết viết, cho thấy một số trẻ em vẫn còn đối mặt với những thách thức về giáo dục gia đình Đa số phụ huynh (87,3%) sống cùng nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của con cái Ngoài ra, hơn nửa số học sinh (52%) tự đánh giá mối quan hệ giữa cha mẹ trong gia đình là hòa thuận, góp phần vào môi trường gia đình ổn định và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh.
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh
3.2.1 Kiến thức về sức khỏe sinh sản
3.2.1.1 Kiến thức về tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt/ hiện tượng xuất tinh, vệ sinh vùng kín
Bảng 3.5 Kiến thức về tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt/ hiện tượng xuất tinh, vệ sinh vùng kín (nd4)
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Dấu hiệu tuổi dậy thì Tốt
Cách chăm sóc tuổi dậy thì Tốt
Chu kì kinh nguyệt/ hiện tượng xuất tinh bình thường
Rối loạn kinh nguyệt/ rối loạn xuất tinh
Vệ sinh vùng kín Tốt
Theo khảo sát, tỷ lệ học sinh có kiến thức tốt về dấu hiệu tuổi dậy thì đạt 70,5%, trong đó hầu hết học sinh hiểu biết đầy đủ về cách chăm sóc tuổi dậy thì (79,8%) Khoảng 62,9% học sinh có kiến thức đúng về chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới và hiện tượng xuất tinh ở nam giới, trong khi đó, chỉ có 45,8% học sinh hiểu rõ về rối loạn kỳ kinh nguyệt và xuất tinh bất thường Về kiến thức vệ sinh vùng kín, có 61,5% học sinh trả lời đúng các câu hỏi trong nghiên cứu.
3.2.1.2 Kiến thức về khả năng mang thai, dấu hiệu có thai và hậu quả của việc nạo phá thai
Bảng 3.6 Kiến thức về khả năng mang thai, dấu hiệu có thai, hậu quả của việc nạo phá thai (nd4)
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Hậu quả của quan hệ tình dục sớm Tốt
Quan hệ tình dục an toàn Tốt
Khả năng mang thai Tốt
Mang thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên
Dấu hiệu khi mang thai Tốt
Hậu quả của việc nạo phá thai Tốt
Trong số học sinh, có 39,6% hiểu biết tốt về hậu quả của quan hệ tình dục sớm, trong khi đó tỷ lệ này cao hơn đối với kiến thức về quan hệ tình dục an toàn, chiếm 67,5% Về khả năng mang thai và các dấu hiệu nhận biết mang thai, 89% học sinh có kiến thức tốt về khả năng mang thai và 60,4% biết rõ các dấu hiệu mang thai Ngoài ra, tỷ lệ kiến thức tốt về hậu quả của nạo phá thai đạt 63,4%, cho thấy mức độ nhận thức khá cao về các tác động liên quan đến vấn đề này.
3.2.1.3 Kiến thức về biện pháp tránh thai
Bảng 3.7 Kiến thức về biện pháp tránh thai (nd4)
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Các biện pháp tránh thai Tốt
Lợi ích của bao cao su Tốt
Cách sử dụng Bao cao su Tốt
Khi được hỏi về kiến thức các biện pháp tránh thai, 57,5% học sinh có thể kể ra từ 2 biện pháp trở lên, cho thấy sự hiểu biết khá rộng Đa số các em đều nhận thức rõ về lợi ích của bao cao su, với tỷ lệ lên đến 89% Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn còn thiếu kiến thức đúng về cách sử dụng bao cao su, với tỷ lệ hiểu biết tốt chỉ đạt 74,1%, điều này nhấn mạnh cần tăng cường giáo dục về kỹ năng sử dụng biện pháp tránh thai an toàn.
Biểu đồ 3.1 Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Trong các biện pháp tránh thai, bao cao su được học sinh biết đến nhiều nhất với tỷ lệ 42,1%, tiếp theo là thuốc viên tránh thai với 31,2% Thuốc tiêm và thuốc cấy tránh thai là những phương pháp ít được học sinh biết đến nhất, cùng chiếm 0,3% Ngoài ra, có đến 10,3% học sinh không tự kể được biện pháp tránh thai nào, cho thấy còn cần nâng cao kiến thức về các phương pháp phòng tránh thai trong giới trẻ.
Thuốc uống tránh thai Đặt vòng
Xuất tinh ngoài âm đạo
3.2.1.4 Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Bảng 3.8 Kiến thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục (nd4)
Kiến thức Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
56,5 43,5 Các dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục
40,7 59,3 Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Theo khảo sát, có 56,5% học sinh có kiến thức tốt về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), cho thấy nhận thức về vấn đề này còn khá hạn chế Trong khi đó, chỉ 40,7% học sinh hiểu biết rõ các dấu hiệu của bệnh LTQĐTD, phản ánh mức độ nhận thức cần được cải thiện để phòng tránh hiệu quả Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh có kiến thức tốt về cách phòng tránh bệnh LTQĐTD đạt đến 70,3%, thể hiện sự quan tâm và nhận thức tích cực trong việc bảo vệ sức khỏe của bản thân.
3.2.1.5 Kênh thông tin để học sinh tìm kiếm kiến thức sức khỏe sinh sản
Bảng 3.9 Kênh thông tin để học sinh tìm kiếm kiến thức sức khỏe sinh sản
Kênh thông tin sức khỏe sinh sản Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Cha mẹ, người thân trong gia đình 248 19,8
Sách báo, vô tuyến, internet, phim ảnh 486 38,8
Học sinh chủ yếu tìm kiếm thông tin về sức khỏe sinh sản qua sách báo, truyền hình, internet và phim ảnh, chiếm tỷ lệ 38,8%, trong khi việc hỏi thầy cô giáo chỉ đạt 9,1% Điều này cho thấy học sinh thường tìm kiếm kiến thức về sức khỏe sinh sản từ các nguồn truyền thông đại chúng thay vì trực tiếp hỏi thầy cô Việc này phản ánh xu hướng sử dụng các phương tiện truyền thông để cập nhật thông tin nhanh chóng và thuận tiện hơn trong lĩnh vực quan trọng này.
3.2.1.6 Phân loại kiến thức chung về sức khỏe sinh sản
Biểu đồ 3.2 Phân loại kiến thức chung về sức khỏe sinh sản
Nhìn chung, tỷ lệ học sinh đạt kiến thức chung tốt về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn thấp chỉ 34,5%
3.2.2 Thái độ về sức khỏe sinh sản
3.2.2.1 Thái độ về việc quan hệ tình dục và hành vi nạo phá thai
Bảng 3.10 Thái độ của học sinh về việc xem phim có nội dung khiêu dâm và quan hệ tình dục (nd4)
Thái độ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xem phim có nội dung khiêu dâm Tốt
Quan hệ tình dục khi đang còn là học sinh
Bạn bè cũng lứa đã có quan hệ tình dục Tốt
Sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục trước hôn nhân
Tỷ lệ học sinh có thái độ tốt đối với 2 vấn đề bao gồm quan hệ tình dục khi còn là học sinh và sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục trước hôn nhân khá cao; lần lượt là 74,7% và 65,1% Tuy nhiên, theo bảng 3.11 chỉ có 33,7% học sinh có thái độ tốt với việc bạn bè cùng lứa đã có quan hệ tình dục Đối với hành vi xem phim có nội dung khiêu dâm, 63% học sinh có thái độ tốt về vấn đề này
3.2.2.2 Thái độ về việc sử dụng bao cao su, xử lí khi mang thai và nạo phá thai
Bảng 3.11 Thái độ của học sinh về việc sử dụng bao cao su, xử lí khi mang thai, nạo phá thai (nd4)
Thái độ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bao cao su là biện pháp tránh thai tiện lợi nhất
55,7 44,3 Học sinh nữ có nên tự xử lí nếu mang thai ngoài ý muốn
Về vấn đề nạo phá thai Tốt
Dựa trên kết quả trong bảng 3.12, có đến 55,7% học sinh có thái độ tích cực về việc sử dụng bao cao su như một biện pháp tránh thai hiệu quả Ngoài ra, tỷ lệ học sinh nữ cho rằng tự xử lý khi mang thai ngoài ý muốn khá cao, chiếm đến 84,5%, điều này cho thấy nhận thức rõ ràng của các em về quyền tự quyết trong vấn đề thai ngoài ý muốn Đặc biệt, tỷ lệ học sinh có thái độ tích cực về vấn đề nạo phá thai đạt mức 61%, phản ánh sự quan tâm và hiểu biết về các lựa chọn liên quan đến sức khỏe sinh sản của học sinh.
3.2.2.3 Thái độ về việc cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản
Bảng 3.12 Thái độ về việc cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản
Thái độ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Về việc VTN cần được cung cấp kiến thức về BPTT
Về việc VTN cần được giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong nhà trường
Tỷ lệ học sinh có thái độ tích cực đối với việc cung cấp kiến thức về các biện pháp tránh thai và giáo dục giới tính/sức khỏe sinh sản đều khá cao, lần lượt đạt 84,3% và 84,2% Điều này cho thấy sự nhận thức rõ ràng của học sinh về tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức phòng tránh thai và chăm sóc sức khỏe sinh sản Việc nâng cao nhận thức này góp phần thúc đẩy hành vi tích cực trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản của giới trẻ.
3.2.2.3 Phân loại thái độ chung về sức khỏe sinh sản
Biểu đồ 3.3 Phân loại thái độ chung về sức khỏe sinh sản
Nhìn chung, tỷ lệ học sinh có thái độ chung tốt về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản tương đối cao (64,3%)
3.2.3 Hành vi về sức khỏe sinh sản
3.2.3.1 Hành vi chia sẻ một số vấn đề về sức khỏe sinh sản của học sinh
Bảng 3.13 Hành vi chia sẻ về sức khỏe sinh sản
Hành vi Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Chia sẻ với người thân khi có dấu hiệu mộng tinh/hành kinh đầu tiên
Tâm sự với bố mẹ về vấn đề quan hệ tình dục khác giới
Nói chuyện với bạn bè về chu kì kinh nguyệt/ xuất tinh hay vệ sinh vùng kín
Tiếp cận các thông tin về sức khỏe sinh sản
Mặc dù tỷ lệ học sinh chia sẻ về sức khỏe sinh sản với bạn bè khá cao lên tới 77,8%, nhưng tỷ lệ học sinh tâm sự với bố mẹ về các vấn đề nhạy cảm này lại còn thấp Cụ thể, chỉ 47,8% học sinh nói chuyện với bố mẹ về xuất tinh hoặc kinh nguyệt đầu tiên, cho thấy sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin về sức khỏe sinh sản giữa học sinh và phụ huynh.
Tỷ lệ học sinh hỏi bố mẹ về vấn đề quan hệ tình dục khác giới rất thấp, chỉ có 18,2%
Bàn luận
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng
Tiến hành điều tra 644 học sinh thuộc các nhóm tuổi 16, 17, 18 ở cả ba khối lớp
Ba trường THPT trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ gồm Trường THPT An Khánh, THPT Châu Văn Liêm và THPT Nguyễn Việt Hồng đã tham gia nghiên cứu với tổng số 644 học sinh VTN Trong số này, học sinh được phân chia theo hai nhóm độ tuổi: dưới 17 tuổi chiếm 33,2%, từ 17 tuổi trở lên chiếm 66,8% Độ tuổi cao nhất của học sinh tham gia nghiên cứu là 19 tuổi, chiếm 1,4%, trong khi độ tuổi thấp nhất là
16 tuổi chiếm 33,2% Nhìn chung học sinh THPT ở quận Ninh Kiều đang theo học đúng khối lớp có tỷ lệ rất cao (98,6%)
Tỷ lệ học sinh nữ (50,3%) gần như bằng tỷ lệ học sinh nam (49,7%), cho thấy sự cân đối về giới trong nhóm nghiên cứu Đối tượng học sinh thuộc ba khối lớp 10, 11, 12 được chọn một cách đều đặn, lần lượt chiếm tỷ lệ 33,2%, 33,7%, 33,1%, theo chỉ tiêu của các trường Trong nhóm nghiên cứu, hơn 92,7% học sinh là dân tộc Kinh, với phần lớn không theo tôn giáo (65,4%), tiếp đến là Phật giáo (25,9%) và Chúa giáo (6,2%) Cấu trúc dân tộc và tôn giáo này cho thấy, nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh chủ yếu phụ thuộc vào môi trường xã hội, gia đình và nhà trường, thay vì yếu tố dân tộc và tôn giáo Các số liệu này tương tự như nghiên cứu của Trương Khánh Toàn về chăm sóc sức khỏe học sinh THPT, xác nhận rằng yếu tố dân tộc và tôn giáo ít tác động đến các yếu tố tâm lý và hành vi của các em.
[22] năm 2016 (p>0,05); với tỷ lệ học sinh thuộc dân tộc Kinh chiếm đa số (90,5%) và tỷ lệ học sinh kheo theo tôn giáo khá cao (55,6%)
Trong tổng số học sinh, tỷ lệ học sinh giỏi và khá chiếm đa số lần lượt là 32,6% và 37,4%, cho thấy sự phân bố đều giữa các mức năng lực học tập Nghiên cứu của Trương Khánh Toàn cũng xác định rằng, trong học sinh THPT quận Ninh Kiều, tỷ lệ học sinh giỏi đạt 21,6%, còn học sinh khá chiếm tới 60,4%, thể hiện rõ xu hướng phân loại học sinh theo khả năng học tập.
Mức độ học sinh cho rằng mình chưa được dạy về Sức khỏe sinh sản là 19,3%, trong đó tỷ lệ học sinh khối lớp 10 là cao nhất với 38,7%, còn học sinh khối lớp 11 và 12 đều đạt 30,6% Nguyên nhân chính có thể do các trường THCS trước đây chưa chú trọng hoặc thiếu các tiết học về sức khỏe sinh sản.
4.1.2 Đặc điểm gia đình đối tượng nghiên cứu
Phần lớn học sinh sống cùng gia đình trong thời gian học THPT, nên dễ dàng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và ảnh hưởng từ bố mẹ Theo nghiên cứu của chúng tôi, có 12,7% học sinh sống trong các gia đình có bố mẹ đơn thân hoặc đã ly hôn Khi được hỏi về mối quan hệ giữa cha mẹ, chỉ 2,3% học sinh cho biết cha mẹ không hòa thuận hoặc thường xuyên cãi nhau, trong khi 32,9% cho biết cha mẹ hòa thuận tương đối và đa số (52,0%) có cha mẹ ít cãi nhau.
Môi trường xung quanh nơi sinh sống của đối tượng có tỷ lệ tệ nạn mại dâm rất thấp (12,9%), điều này có thể ảnh hưởng tích cực đến hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản của họ Sang hơn, môi trường hạn chế các yếu tố tiêu cực từ bên ngoài giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy các hành vi tốt trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản Do đó, việc giảm thiểu tiếp xúc với tệ nạn mại dâm đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe sinh sản cộng đồng.
4.1.3 Đặc điểm về tuổi dậy thì của đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình bắt đầu dậy thì ở nữ là 12.29 tuổi sớm hơn ở Nam là 12,62 tuổi, tuổi dậy thì trung bình chung ở cả hai giới là 12,46 Điều này tương đồng với nghiên cứu của Trương Khánh Toàn ở các trường THPT quận Ninh Kiều năm 2016 [22], thì tuổi bắt đầu dậy thì của cả 2 giới đa số ≤ 13 tuổi (43,5%) Nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Tuyền tại trường THPT Hai Bà Trưng tại Huế [23] thì tuổi biểu hiện lần đầu hành kinh hay xuất tinh trung bình cho cả hai giới là 13,1 tuổi Tuổi dậy thì của học sinh nam và nữ ở các nghiên cứu này có xu hướng sớm hơn nghiên cứu của chúng tôi (p>0,05), có thể giải thích điều này là do định nghĩa bắt đầu tuổi dậy thì trong nghiên cứu của chúng tôi không bắt buộc phải là dấu hiệu hành kinh hay xuất tinh lần đầu mà còn có thể biểu hiện bằng tăng trưởng chiều cao, cân nặng, mọc lông vùng kín
4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh
4.2.1 Kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 70,5% học sinh có kiến thức tốt về các dấu hiệu tuổi dậy thì, trong khi theo nghiên cứu của Trương Khánh Toàn là 82,8%, có thể do phương pháp đánh giá của chúng tôi dựa trên câu hỏi điền khuyết yêu cầu học sinh ghi nhớ và áp dụng kiến thức đã học hoặc từ kinh nghiệm thực tế Đặc biệt, dấu hiệu mộng tinh ở nam giới và hành kinh lần đầu ở nữ giới được học sinh biết đến nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 59%.
Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh nữ có kiến thức tốt về chu kỳ kinh nguyệt bình thường là 58,8%, trong khi tỷ lệ học sinh nam có kiến thức tốt về hiện tượng xuất tinh bình thường là 41,2% Đối với rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, có 68,8% học sinh nữ có kiến thức tốt, tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước tại quận Ninh Kiều của Trương Khánh Toàn (80,5%) và Trương Thị Vân Anh (73,6%) với p