TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON BÀI TẬP LỚN RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA CÁC BÀI CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU Tên học phần Phương ph[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM MON
-BÀI TẬP LỚN RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA CÁC BÀI
CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU
Tên học phần: Phương pháp NCKH chuyên ngành GDTH
Mã học phần: LLP203
Mã lớp: K19 DLCTHA4 Học kì II, năm học 2021-2022
Phú Thọ, ngày 9 tháng 8 năm 2023
Trang 2Điểm kết luận của bài thi Số phách
(Do HĐ chấm thi ghi)
Số phách
(Do HĐ chấm thi ghi)
Họ và tên SV:Nguyễn Thị Thu Huyền
Ngày, tháng, năm sinh: 26/10/1997 Tên lớp: K19 ĐHLT TIỂU HỌC
Mã lớp: K19DLCTHA4
Mã SV: 21DCTHA4 GVHD: Lê Ngọc Sơn
Ghi bằng số Ghi bằng chữ
Họ, tên và chữ ký của
cán bộ chấm thi 1
Họ, tên và chữ ký của
cán bộ chấm thi 2
Họ, tên và chữ ký của giảng viên
thu bài thi
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
Trang 6PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môn toán không chỉ giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức, rèn các kĩ năng tính toán mà còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, tưởng tượng, óc sáng tạo, thói quen làm việc khoa học, phát triển ngôn ngữ, tư duy lôgíc, góp phần hình thành các phẩm chất, nhân cách của người lao động Các kiến thức và kĩ năng trong môn Toán rất cần thiết trong đời sống hàng ngày, là công cụ giúp học sinh học tốt các môn học khác
và để tiếp tục học lên các lớp trên
Môn Toán lớp 5 hình thành cho học sinh các kiến thức cơ bản, sơ giản nhưng có nhiều ứng dụng trong đời sống về số học, các đơn vị đo lường, nhận dạng và tính chu
vi, diện tích, thể tích một số hình, … Đặc biệt là biết cách giải và trình bày lời giải những bài toán có lời văn Nắm chắc và thực hiện đúng quy trình bài toán
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp “Nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả” Để đạt yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với sự nhận thức của các em
Tuy nhiên việc dạy giải toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng gặp rất nhiều khó khăn Các em thường không xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, không tìm ra được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán Mặt khác, các em chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong việc giải toán Chính vì vậy mà khi làm toán giải các em hay bị nhầm lẫn do không tìm
ra được phép tính và lời giải đúng cho câu hỏi của bài toán Một điều không kém phần nan giải, khiến giáo viên phải trăn trở, suy nghĩ nhiều đó là học sinh thường nhầm lẫn cách giải bài toán ở các dạng toán điển hình như: Giải bài toán liên quan đến chu vi, diện tích, thể tích một số hình, tỉ số phần trăm, giải toán về chuyển động đều… Đặc biệt
là các bài toán cơ bản về chuyển động đều Đây là những dạng toán mới mẻ và khó đối với các em học sinh khó khăn về giải toán Vì những em khó khăn là những em có tư duy chậm, khả năng ghi nhớ chưa tốt, các em nắm được kiến thức nhưng lại rất mau quên Các em không xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán đã cho và cái phải tìm nên đẫn đến không giải được bài toán Vậy làm thế nào để học sinh thuộc, ghi nhớ các kiến thức cơ bản, không bị nhầm lẫn giữa các dạng toán, phân biệt được dạng toán này với dạng toán kia và biết cách xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán, tìm ra cách giải, phép tính và lời giải đúng cho bài toán, đó là điều mà tôi
thường trăn trở, suy nghĩ Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh lớp 5 thông qua các bài chuyển động đều”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trang 7- Trang bị cho mỗi học sinh vốn kiến thức toán học vững vàng, giúp học sinh khó khăn trong môn toán nhận dạng, phân biệt giải đúng các bài toán về chuyển động đều cơ bản
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Giúp học sinh biết tìm hiểu, phân tích, phân biệt tìm được cách giải và thực hiện giải, trình bày đúng các bài toán về chuyển động đều một cách thành thạo, hiệu quả Giáo dục học sinh ý thức, thái độ học tập đúng đắn
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kinh nghiệm của bản thân giúp học sinh lớp 5
chủ nhiệm giải đúng các bài toán cơ bản về chuyển động đều
3.2 Về không gian
- Đề tài được nghiên cứu tại lớp 5 Trường Tiểu học Bằng Luân, Xã Bằng Luân,
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
3.3 Về thời gian
- Sáng kiến được nghiên cứu và áp dụng từ năm học 2020 – 2021 đến nay và những năm sau
4 Giả thuyết nghiên cứu đề tài
1.1 Cơ sở khoa học
Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kỹ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng Việc học giải toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như cần
cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học Học giải toán mang nhiều tính trừu tượng, khái quát và liên tưởng trong đó có tính thực tiễn Học sinh không thể cảm thụ bằng giác quan của các sự vật hiện tượng (như nặng, nhẹ, cứng, mềm, màu sắc,…) mà phải đưa chúng vào các hình dạng không gian và quan
hệ số lượng Để có thể nắm chắc kiến thức, kĩ năng giải toán học sinh phải chủ động, tích cực và tự giác học tập Muốn vậy giáo viên phải định hướng giúp học sinh phát hiện vấn đề và tích cực giải quyết vấn đề
( Trích giáo trình phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học – Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy, Vũ quốc Trung – Nhà xuất bản Đại học
Sư phạm).
Nhưng trong thực tế, mỗi bài toán lại có phép tính, lời giải và cách thực hiện khác nhau Muốn giải đúng các bài toán cơ bản về chuyển động đều, học sinh cần phải xác định được bài toán đó thuộc dạng toán nào đã học? Dạng toán đó được giải như thế nào? Học sinh phải hiểu và xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu của đề bài Có
Trang 8như vậy học sinh mới giải đúng bài toán Để giúp học sinh giải toán, giáo viên cần phải nghiên cứu bài, có hệ thống câu hỏi gợi ý dễ hiểu và có sự lô gic chặt chẽ nhằm giúp học sinh hiểu kĩ nội dung bài toán Đây là một đặc trưng quan trọng của dạy giải toán
mà khi giáo viên dạy cần chú ý
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
- Cơ sở chính trị: Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội khóa XIV và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ một trong những phương
hướng chung là nâng cao chất lượng giáo dục và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo
dục
- Cơ sở pháp lí: Công văn số 5842/BGD ĐT-VP ngày 01/9/2011 của Bộ giáo dục về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học và chuẩn kiến thức kỹ năng mà học sinh cần đạt được sau giờ học toán, những kiến thức có trong bài học, tham khảo sách hướng dẫn
và một số tài liệu bồi dưỡng trong chương trình toán ở tiểu học Thông tư 22/2016 của BGD&ĐT về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo TT30/2014/BGD Công văn số 35/2009 giảm thiểu học sinh lưu ban, bỏ học.l
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, lựa chọn một số biện pháp phù hợp với học sinh để nâng cao chất lượng.Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức về số đo thời gian, biết cách tính quãng đường, vận tốc, thời gian trong chuyển động; vận dụng để giải bài toán chuyển động dạng đặc biệt
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra, thực nghiệm
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng kết kinh nghiệm
7 Giới hạn, phạm vi nghiêm cứu
- Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Bằng Luân , xã Bằng Luân, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Nội dung chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng và tuyến kiến thức về toán chuyển động đều trong môn Toán lớp 5
Trang 9PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lí luận
Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản Hình thành các kỹ năng thực hành tính,
đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt chúng, cách phát hiện
và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học
và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
Nội dung về toán chuyển động đều giữ vị trí quan trọng trong môn Toán lớp 5 Nó giúp học sinh có năng lực nhận biết các sự vật, hiện tượng một cách nhanh chóng, lô-gíc và khoa học Đồng thời toán chuyển động đều còn gắn bó mật thiết với các kiến thức khác như số học, đại số, tạo thành môn Toán có cấu trúc hoàn chỉnh và phù hợp với học sinh tiểu học
Với toán chuyển động đều, ta thấy đây là loại toán khó, rất phức tạp, đa dạng và có rất nhiều kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống Việc hình thành, rèn luyện, củng cố các
kỹ năng giải toán chuyển động đều chiếm thời lượng rất ít nên các em không thể tránh khỏi những khó khăn, sai lầm khi giải loại toán này Vì thế người giáo viên đóng vai trò quan trọng - là cầu nối học sinh với những kiến thức mới của bài học, giúp học sinh học tốt, nắm vững kiến thức và biết cách giải các bài toán chuyển động đều Qua đó cũng nhằm bồi dưỡng nâng cao khả năng tư duy và óc sáng tạo của học sinh
2 Thực trạng vấn đề
2.1 Thuận lợi - khó khăn
* Thuận lợi
Được sự quan tâm của Lãnh đạo nhà trường, của tổ chuyên môn cũng như sự giúp đỡ của giáo viên trong trường; thường xuyên tham gia các hoạt động như chuyên đề, thao giảng, hội giảng, qua đó trao đổi và rút ra được nhiều kinh nghiệm
Bản thân đã nhiều năm dạy lớp 5 nên cũng đã có một số kinh nghiệm trong giảng dạy Hơn nữa, học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ cũng là mặt thuận lợi không nhỏ
* Khó khăn
Trường Tiểu học Y Ngông đóng trên địa bàn khăn của huyện Krông Ana, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn
Hầu hết gia đình các em thuộc diện khó khăn, trình độ dân trí còn thấp nên chưa nhận thức đúng về việc học tập của con em mình
2.2 Thàng công - hạn chế
* Thành công
Chất lượng dạy học trong những năm gần đây cũng đã có sự tiến bộ nhờ sự đổi mới trong phương pháp, hình thức dạy học Giáo viên đã không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, đáp ứng với sự đổi mới trong giáo dục
Khả năng tư duy, tinh thần tự học, tính chủ động, tích cực trong học tập được phát huy
* Hạn chế
Trang 10Chất lượng học sinh nói chung còn hạn chế, một số em đi học chưa chuyên cần nên việc tiếp thu bài gặp nhiều khó khăn
Một số giáo viên vẫn chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, chưa sáng tạo trong trong giảng dạy
2.3 Mặt mạnh - mặt yếu
* Mặt mạnh
Giáo viên đã nắm vững tuyến kiến thức về toán chuyển động đều, lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp; biết cách dạy khơi dậy sự sáng tạo,
sự tự học của học sinh
Được sự giúp đỡ của giáo viên trong khối cũng như toàn trường, thường xuyên trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy
* Mặt yếu
Học sinh của trường chủ yếu là người dân tộc thiểu, khả năng tiếp thu cũng có phần hạn chế, một số nội dung của bài học tương đối khó so với nhận thức của các em Bên cạnh
đó, một số giáo viên cũng còn những hạn chế nhất định về năng lực dạy học
2.4 Các nguyên nhân - các yếu tố tác động
Nhà trường tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho quá trình dạy học Tổ chuyên môn cũng thường xuyên tạo điều kiện để tham gia các buổi tập huấn, chuyên đề nâng cao trình độ chuyên môn
Bản thân là giáo viên giảng dạy lớp 5 nhiều năm nên có kinh nghiệm trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh
Học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình các em còn gặp rất nhiều khó khăn, nhận thức còn nhiều hạn chế Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc phối hợp với gia đình trong việc giáo dục các em
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Trường Tiểu học Y Ngông đóng trên địa bàn khăn của huyện Krông Ana Tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm đa số, nhận thức của các em còn hạn chế Hầu hết gia đình các
em thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn, các em thường nghỉ học để phụ giúp gia đình lao động Đi học không chuyên cần dẫn đến các em bị hổng kiến thức các môn học nói chung và môn Toán nói riêng Hơn nữa, gia đình chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của các em, khả năng tư duy của các em còn hạn chế Đây cũng chính là nguyên nhân khiến các em gặp khó khăn trong việc tiếp thu bài
Bên cạnh những khó khăn đó thì còn có những mặt thuận lợi nhất định như được sự quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn sát sao của nhà trường, chuyên môn, được sự góp ý rút kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp qua các hoạt động chuyên môn như thao giảng, hội giảng, chuyên đề; học sinh trong lớp đều ngoan ngoãn, chăm chỉ học bài
Xuất phát từ vấn đề và thực trạng đó đòi hỏi người giáo viên phải làm gì để nâng cao chất lượng giáo dục các môn học nói chung cũng như môn Toán nói riêng là việc làm cần thiết và thường xuyên
3 Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Vận dụng và lựa chọn các giải pháp, biện pháp dạy học phù hợp với tuyến kiến thức toán chuyển động đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Thông qua
đó, giúp học sinh nắm vững kĩ năng giải toán chuyển động đều, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
Tạo được không khí vui tươi, khích lệ học sinh tích cực, chủ động trong học tập
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Trang 113.2.1 Hướng dẫn nắm vững về đơn vị đo
Thông thường, bài toán chuyển động đều có công thức và quy tắc để giải Tuy nhiên học sinh không chú ý tới các đơn vị đo của các đại lượng nên dẫn đến tình trạng sai lầm trong khi làm bài Do đó tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng giải toán chuyển động đều nhằm phát hiện những khó khăn, những sai lầm mà học sinh mắc phải khi làm bài, thông qua việc làm này, tôi thấy học sinh thường học sinh hay nhầm lẫn các đơn vị đo
Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn và giúp đỡ học sinh khắc sâu kiến thức cơ bản trước khi làm một bài tập cụ thể nào đó Từ các công thức tính vận tốc, quãng đường, học sinh cần xác định được các đơn vị đi kèm : Thời gian là giờ, quãng đường là ki-lô-mét thì vận tốc là km/giờ; Thời gian là phút, quãng đường là mét thì vận tốc là m/phút Tuy nhiên không phải lúc nào học sinh cũng dễ dàng chuyển đổi được đơn vị đo cho phù hợp, lí do là các em đã quen cách đổi số đo thời gian về số tự nhiên hay về số thập phân, do đó các em thường gặp khó khăn trong những bài toán đơn giản
Ví dụ : Một người đi xe máy trong 1 giờ 40 phút với vận tốc 35 km/giờ Tính quang đường người đi xe máy đã đi
Đối với dạng toán này, học sinh sẽ đổi phút thành giờ ( 40 phút = giờ) bằng cách lấy 40: 60(kết quả là phép chia có dư) Vì quen cách đổi về số tự nhiên hoặc số thập phân
mà quên không đổi về phân số nên các em đã mắc phải một số sai lầm không đáng có Trong trường hợp này, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo gợi ý sau :
Chuyển phép chia 40 : 60 thành = Đổi 1giờ 40 phút ra giờ Nếu phép chia có dư thì kết quả để ở dạng phân số Với cách hướng dẫn, gợi ý, học sinh sẽ giải được bài toán như sau :
Đổi : 1 giờ 40 phút = 1 giờ = giờ
Quãng đường người đi xe máy đã đi là :
35 x = (km)
Đáp số : (km)
Với dạng toán này, yêu cầu của bài đặt ra là tìm một trong các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian Trong đó có những đại lượng muốn tìm phải dựa vào dữ liệu
đã cho
Ví dụ : Một con ngựa chạy đua trên quãng đường 15 km hết 20 phút Tính vận tốc của
con ngựa đó với đơn vị đo là m/phút
Đối với bài tập này, học sinh thường nhầm lẫn là có đủ dữ liệu, chỉ cần thay vào công thức sẽ được kết quả ( vận tốc là 15 : 20 = 0,75m/phút) Các em thường quên mất rằng đơn vị quãng đường đã cho chưa tương ứng với đơn vị vận tốc cần tìm Với dạng bài này, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán như sau :
s = 15 km = m ?
t = 20 phút
v = ? m/phút
Thông qua việc tóm tắt bài toán, học sinh sẽ biết để có đơn vị đo vận tốc là m/phút thì đơn vị quãng đường phải là mét Từ đó học sinh sẽ đổi đơn vị ki- lô-mét thành đơn vị mét để giải bài toán
Đổi : 15km = 15000 m
Vận tốc chạy của con ngựa là :
15000 : 20 = 750 (m/phút)
Đáp số : 750 m/phút