Tác phẩm SGK Ngữ Văn 10 Tập hai/ 103 → Bày tỏ lòng tiếc thương, cảm thông của Nguyễn Du cho những người có số phận bất hạnh trong xã hội xưa, phản ánh xã hội phong kiến mục nát… Vị trí:
Trang 1BIÊN SOẠN: NGUYỄN TẤN QUỐC (29)
LỚP 10A14 GVBM: LÊ MINH TÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022
TÁC PHẨM:
TRƯỜNG THPT TRẦN KHAI NGUYÊN
NGỮ VĂN 10
Trang 3THPT TRẦN KHAI NGUYÊN NIÊN KHÓA 2021-2022
NHẬT KÝ ĐỌC TRUYỆN THƠ
TRAO DUYÊN (SGK Ngữ Văn Tập Hai 10/103)
TRUYỆN KIỀU- NGUYỄN DU
BIÊN SOẠN: NGUYỄN TẤN QUỐC
Trang 4Nội dung Trang
Phần 1: TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
Phần 2: BỘ CÂU HỎI NHẬT KÝ
Tác phẩm “Trao Duyên” 5
1 Hình ảnh 6
2 Từ hay 7
3 Nghệ thuật và thủ pháp đặc sắc 9
4 Bố cục/ mạch cảm xúc 11
5 Nhân vật 12 6 Quan điểm 13
7 Giải thích 14
8 Điểm thơ, phê bình 15
9 Phần đặc sắc 16
Phần 3: NHẬN XÉT, GÓP Ý
MỤC LỤC
2
Trang 5P1: TÁC GIẢ - TÁC PHẨM
1 Tác giả (SGK Ngữ Văn 10 Tập hai/ 92)
a) Cuộc đời
Nguyễn Du (1765-1820)
• Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, hiệu là
Thanh Hiên, sinh ra và lớn lên tại kinh
thànhThăng Long, Hà Nội
• Cha là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), quê
ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, là nơi
có truyền thống hiếu học, mệnh danh là
“địa linh nhân kiệt”
→ Ông may mắn được tiếp nhận ngôn ngữ, truyền thống văn hóa từ nhiều nơi, tạo
cơ hội để học hỏi, hiểu được đời sống nhân dân.
• Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình phong kiến quyền quý
• Cha là Tể Tướng, anh là Nguyễn Khản, làm quan với chức Tham tụng
• Truyền thống yêu chuộng văn học, sảnh thơ Nôm, thích hát xướng
→ Hiểu biết về đời sống giai cấp quý tộc trong xã hội phong kiến
→ Tạo điều kiện cho ông tiếp nhận nguồn văn chương và ngôn ngữ văn chương bác học.
• Thời thơ ấu của Nguyễn Du rất êm đềm, là lúc ông dùi mài kinh sử
• Nguyễn Du sống trong giai đoạn cuối Thế kỉ XVIII-XIX, là một giai đoạn đầy biếnloạn, khởi nghĩa nổ ra khắp nơi (Tây Sơn) nên cuộc sống của ông rơi vào khó khăn,gian khổ
→ Là lúc trật tự kỉ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi, cái ác lên ngôi khiến giátrị con người bị đánh mất và không còn được coi trọng
→ Những trải nghiệm ấy giúp Nguyễn Du có một vốn sống thực tế phong phú, góc
nhìn khác về cuộc đời, thôi thúc ông suy ngẫm về đời sống, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnh sáng tạo văn chương nhân đạo.
• Vào giai đoạn ông làm quan dưới triều nhà Nguyễn (1802-1820), con đường sựnghiệp của ông khá thuận lợi và còn được cử đi sứ sang Trung Quốc
→ Tạo cho ông cơ hội tiếp xúc, làm quen với nhiều sử sách, thơ văn nước ngoài
→ Tài năng của Nguyễn Du là sự hội tụ, kết tinh từ nhiều yếu tố gia đình, thời đại, xã hội… Và với bản chất thông minh, tài hoa, nhạy cảm đã tạo nên một đại thi hào của dân tộc. 3
Trang 6b) Sự nghiệp sáng tác (SGK Ngữ Văn 10 Tập hai/ 94)
Sáng tác bằng chữ Hán:
- Hiện nay đã sưu tầm được 249 bài được
Nguyễn Du viết ở các thời kì khác nhau:
• Thanh Hiên thi tập: gồm 78 bài viết
• Nam Trung tạp ngâm: gồm 40 bài viết
nó trở thành kiệt tác độc nhất vô nhị của nềnvăn học trung đại Việt Nam, đặc sắc hơn cảbản gốc
• Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh):
thể hiện một phương diện quan trọng cuả chủnghĩa nhân đạo, hướng về những thân phậnnhỏ bé, dưới đáy xã hội
2 Tác phẩm (SGK Ngữ Văn 10 Tập hai/ 103)
→ Bày tỏ lòng tiếc thương, cảm thông của Nguyễn Du cho những người có số phận
bất hạnh trong xã hội xưa, phản ánh xã hội phong kiến mục nát…
Vị trí: từ câu 723- câu 756, thuộc phần hai:
“Gia biến và lưu lạc” của Truyện Kiều
Gia đình Kiều bị vu oan, Kiều phải bán mình chuộc cha và em,Nàng nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng
Viết về bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh, nhân cách cao quý của Thúy Kiều
Thể hiện tài năng miêu tả nội tâm nhân vật
của Nguyễn Du 4
Trang 7P1: BỘ CÂU HỎI NHẬT KÝ
TRAO DUYÊN
(SGK Ngữ Văn 10, tập hai/ 104,105)
5
Trang 81 HÌNH ẢNH
(Trao Duyên)
Sở dĩ, hình ảnh trên để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc, khó quên và thậm chí còn khiến cho tôi muốn chia sẻ nó với mọi người vì bởi vì nó như làm bật lên mối tình bạc phận, song gió của Thúy Kiều Bức tờ mây vốn là thứ kỉ vật linh thiêng, là vật kỉ niệm cho mối tình sâu đậm của nàng với Kim Trọng Ấy thế mà
số phận nàng lại bất hạnh, gia đình bị vu oan và Kiều đành phải bán mình chuộc lại gia đình Điều đó làm nàng, dù không muốn nhưng đành phải nhờ Thúy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng Vì thế mới dẫn đến tình cảnh Kiều đã phải trao lại bức tờ mây lưu giữ những lời thề nguyện, kỉ niệm của nàng với Trọng cho em gái với thái độ đầy luyến tiếc,xót xa mà tôi đã vẽ ở trên Dù nàng không nỡ rời xa Trọng nhưng hoàn cảnh bắt buộc nàng phải đi,
và nàng chỉ còn cách nhờ em gái giữ hộ kỉ vật ấy Chính vì thứ tình yêu sâu đậm, gắn bó da diết ấy của Thúy Kiều đã làm tôi cảm động và tôi phải ngay lập tức vẽ lại hình ảnh ấy để lưu giữ
và chia sẻ lại với mọi người.
Khi đọc bài ca dao này, tôi liền liên tưởng đến hình ảnh sau:
(Thúy Kiều trao cho Thúy Vân kỉ vật trao duyên – Tấn Quốc 10A14)
6
Trang 92 TỪ HAY
(Trao Duyên, SGK Văn, tập 2/104,105)
Những tác phẩm thơ trước kia mà tôi từng đọc thì đa số đều sử dụng những ngôn từ bình dị và quen thuộc, nên tôi cũng không cảm thấy đặc sắc là mấy Nhưng đến khi đọc Trao Duyên của Nguyễn Du, tôi thấy tác phẩm có sử dụng nhiều từ ngữ rất hay và độc đáo, khiến cho tôi muốn ghi chú lại để sau này có thể sử dụng trong những văn bản của mình như các từ:
- Chiếc vành: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang 104)
Bên cạnh bức tờ mây, Nguyễn Du còn đưa vàothêm hình ảnh chiếc vành, là chiếc vòng, xuyến đeotay mà Kim Trọng đã trao cho Kiều Một kỉ vật linhthiêng như vậy nhưng số phận bạc mệnh buộc nàngphải trao nó lại cho em gái nhờ “giữ hộ”
- Keo loan: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang 104)
Là thứ keo chế bằng huyết chim loan, dùng để gắn kết cácvật Ở đây, keo loan ý chỉ việc Kiều nhờ Thúy Vân thaymình “vá” lại mối tình dang dở với Kim Trọng để thay mìnhbáo đáp chàng
“Gánh tương tư”, “Chén thề”: (SGK NgữVăn 10 tập hai, trang 104)
-> Thành ngữ, những điển tích về chénrượu thề nguyền, về nỗi tương tư da diết
về đối phương đã vẽ nên một mối tìnhnồng thắm nhưng mong manh, dang dở vàđầy bất hạnh của Kim - Kiều 7
Trang 10- Đàn với Hương: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang
104)
Là những vật mà Kim Trọng và Kiều đã từng có
chung kỉ niệm → Gợi nhớ đến đêm thề nguyền khi
nàng sang nhà Kim Trọng, chàng đã thêm hương
vào lò hương, nàng đã đánh đàn cho Kim Trọng
nghe → Những kí ức đẹp lúc ấy giờ lại làm nàng
càng không nỡ rời xa
Bên cạnh đó, tôi cũng thấy tác phẩm có một số từ lạ và khó hiểu, nên tôi đã tìm hiểu thêm về chúng từ một số nguồn để cùng chia sẻ với các bạn:
- Bạc như vôi: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang 105)
Là thành ngữ ám chỉ số phận hẩm hiu, nghiệt ngã không những không gặp maymắn mà còn bất hạnh của Thúy Kiều
(tudienso.com)
- “Đền nghì trúc mai”: (SGK/105)Đền ơn đáp nghĩa
- “Rưới xin giọt nước”: Tẩy oan cho chị
→ Thể hiện nỗi bứt rứt, dằn vặt trong lòng Kiều Lúc này, Kiều như càng nhớ, càng thương Kim Trọng hơn bao giờ hết
(download.vn)
- Cậy: (SGK/104): Là một thanh trắc với âm điệu nặng nề, gợi sự quằn quại, đau đớn, mang thêm sắc thái hàm ý về sự hi vọng tha thiết, sự gửi gắm đầy tin tưởngcủa Thúy Kiều danh cho Thúy Vân
(download.vn)
- Trăm gãy gương tan: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang 105)
Là một thành ngữ, ý chỉ số phận bất hạnh, mối tình dang dở bị “tannát như gương” không còn có thể hàn gắn của Kiều và Kim Trọng
(vndoc.com)
- Muôn vàn ái ân: (SGK Ngữ Văn 10 tập hai, trang 105)
Cho thấy Kiều đang hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp của mình và
Kim Trọng với nhiều kỉ niệm vui buồn, và nó càng làm nàng càng
thềm buồn khi phải rời xa chàng và làm nàng thấy hoài nghi, lo lắng
cho cuộc đời mình
(vietjack.com)
8
Trang 113 NGHỆ THUẬT
VÀ THỦ PHÁP ĐẶC SẮC
(Trao Duyên, SGK Văn, tập 2/104,105)
Sau khi đọc tác phẩm Trao Duyên, tôi nhận thấy Nguyễn Du đã sử dụng nhiều từ ngữ đặc biệt gợi hình, gợi cảm với nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau và ông đã thành công khắc họa rõ nét chúng trong lòng người đọc, trong đó có cả tôi Và cũng chính vì thế làm trong đầu tôi nảy ra một ước muốn rằng mình cũng có thể viết được như vậy Sau đây tôi sẽ liệt kê cho các bạn thấy những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc ấy.
• Cách dùng từ “cậy” (SGK/104) : gợi nên một âm hưởng nặng nề cho câu nói → Thể hiện thái độ hi vọng tha thiết của Kiều
• Cách dùng từ “chịu lời” (SGK/104): thể hiện thái độ nài nỉ, van xin, mong em thấu hiểu và giúp đỡ cho Kiều trong tình cảnh éo le :“tình chị duyên em”.
→ Vân là người đáng tin tưởng nhất mà lúc này Kiều có thể dựa vào và trao gửi một vấn đề hệ trọng như thế.
→ Nguyễn Du đã tạo nên một bầu không khí trang trọng lúc trao duyên.
• Hành động khác thường: “mời, ngồi, lạy, thưa” (SGK/104)
→ Đây là một hành động trái với lẽ thường tình, chị không phải lạy em.
→ Thể hiện cho tôi thấy rằng Kiều đang xem Thúy Vân như một ân nhân vì đã hi sinh cao cả, thay mình chăm sóc và báo đáp Kim Trọng.
• Thành ngữ “Giữa đường đứt gánh” (SGK/104)
• Hình ảnh ước lệ “gánh tương tư” (SGK/104)
→ Khắc họa nên nỗi đau đớn, ngỡ ngàng của Kiều một cách chân thật khi mối tình sâu đậm của mình lại đột ngột tan vỡ như thế.
• Điển cố “keo loan chấp mối” và hình ảnh “mối tơ thừa” (SGK/104):
→ Kiều hoàn toàn đặt trọn niềm tin vào Thúy Vân, nhờ em vá lại mảnh tình dang dở của mình và hoàn thành nó giúp mình.
• Cụm từ “Mặc em” (SGK/104): cho thấy thái độ trái nghịch của Kiều khi vừa không muốn ép buộc em, vừa muốn em đồng thuận và giúp
đỡ cho mình.
9
Trang 12• Điệp từ “khi ngày, khi đêm” (SGK/104); Điển cố “quạt ước, chén thề” (SGK/104): Cho thấy giữa hai người họ đã nhiều kỉ niệm và
có những giao ước thề nguyền thiêng liêng với nhau.
→ Sự hồi tưởng của Kiều về mối tình đẹp nồng nàn càng làm nàng thêm luyến tiếc cho mối tơ duyện đẹp mà dan dở ấy
→ Đối với tôi, tôi nhận thấy rằng Nguyễn Du đã khắc họa rất rõ tình cảm đậm sâu, mãnh liệt mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.
• Thành ngữ “sóng gió bất kì” (SGK/104): gia biến xảy ra với nàng quá đột ngột, bất ngờ.
• Liệt kê các lí lẽ để thuyết phục Thúy Vân giúp mình:
1 Vì Thúy Vân còn trẻ: Ẩn dụ “ngày xuân em hãy còn dài”
2 Kiều viện dẫn tình cảm ruột thịt thiêng liêng: Thành ngữ “xót tình máu mủ”
3 Kiều viện dẫn cái chết của chính mình: Thành ngữ “Thịt nát xương mòn”
→ Gợi nên cho tôi thấy sự quyết tâm của Kiều khi thuyết phục em mình, khiến Thúy Vân khó mà chối từ.
• Hành động và lời nói đối lập:
“Duyên này thì giữ” >< “Vật này của chung” (SGK/104)
• Cách ngắt nhịp 4/2/2 + Ngôn ngữ bình dân
→ Thể hiện thái độ ngập ngùng, không trao hẳn kỉ vật cho em gái mà chỉ như là nhờ em giữ hộ mình
→ Gợi nên trong tôi suy nghĩ rằng: Kiều không nỡ chấm dứt những
ân tình gắn bó xưa nay với Kim Trọng Nàng có thể trao duyên cho
em, nhưng tình yêu của nàng dành cho Kim Trọng là không thể.
• Thành ngữ “nên vợ nên chồng”: (SGK/104) diễn tả cuộc sống tương lai tươi đẹp của Thúy Vân và Kim Trọng.
• Nhắc lại kỉ niệm xưa: “Mất người còn chút…so tơ phím này”
• Liệt kê một loạt các hình ảnh ma mị: “mất người, hiu hiu gió, cách mặt khuất lời, người thác oan…) (SGK/105)
→ Cho thấy suy tưởng tiêu cực của Kiều về một thế giới cõi âm mù mịt, u tối của bản thân Tôi cảm thấy rằng Kiều lúc ấy như thể
“nửa sống, nửa chết”, lời tâm sự của nàng như từ thế giới bên kia vọng về.
→ Khắc họa rõ nét nỗi đau đớn, buồn bã đến tột cùng của Kiều.
• Nhắc lại kỉ niệm xưa: “Mất người còn chút…so tơ phím này”
• Câu hỏi tu từ “kể làm sao xiết” + số từ “muôn vàn, tram nghìn” (SGK/105) → Những kí ức về kỉ niệm tươi đẹp của hai người đang
ùa vè ngập tràn trong lòng nàn 10
Trang 134 BỐ CỤC – MẠCH CẢM XÚC
(Trao Duyên, SGK Văn, tập 2/104,105)
Đôi khi, kết cấu của một tác phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp tác phẩm trở nên mượt mà, uyển chuyển Và ở trong đoạn trích “Trao duyên” này, Nguyễn Du đã phân chia bố cục rất rõ rang và khéo léo, giúp bài thơ rất lưu loát và nối tiếp được những cảm xúc khác nhau của Thúy Kiều Và cũng nhờ có điều đó mà những cung bậc cảm xúc của Kiều đã được khắc họa rõ nét hơn bao giờ hết Sau đây, tôi sẽ vẽ một sơ đồ để hệ thống lại kết cấu tác phẩm:
TRAO
DUYÊN
P1: Diễn biến tâm trạng của Kiềutrước khi trao duyên (14 câu đầu)
P2: Diễn biến tâm trạng của Kiều
sau khi trao duyên (phần còn lại)
Lời nhờ cậy của Thúy Kiều đối với em
Kiều đưa lí lẽ trao duyên
để thuyết phục Thúy Vân
Nhắc lại mối tình Kiều với Kim Trọng
Thuật lại tai biến của gia đình
Kiều trao kỉ vật cho em
Tâm trạng biết ơn chân thành của Kiều đối với Thúy Vân
Kiều cảm thấy nuối tiếc,xót
xa, không nỡ rời xa mối tình
sâu đậm
Kiều nhắc lại và nhớ về kỉ niệm xưa với Kim Trọng
Kiều tâm sự với Thúy Vân
về tương lai của họ
Lời độc thoại nội tâm của Kiều về Kim Trọng
Tiếng gọi Kim Trọng tha thiết của Kiều (2 câu cuối)
Số phận đầy bi kịch và nghiệt ngã của Thúy Kiều
11
Trang 145 NHÂN VẬT
(Trao Duyên, SGK Văn, tập 2/104,105)
Nhân vật chính được nhắc đến trong đoạn trích “Trao duyên” chắc hẳn ai cũng nhận ra đó chính là Thúy Kiều Tôi thấy Thúy Kiều ở đây là một hình ảnh người phụ nữ rất đặc biệt và khác lạ so với hình ảnh những người phụ nữ khác trong thơ ca mà tôi từng đọc Vậy nên, tôi đã quyết định vẽ một sơ đồ để thể hiện cho các bạn thấy sự khác lạ, độc đáo ấy.
THÚY KIỀU
• Nài nỉ, lạy, mong em thay mình tiếp tục mối duyên tình vớichàng Kim
Tâm trạng trước khi trao duyên
• Trao lại cho em kỉ vật trong nỗi luyến tiếc, không nỡ lòng rời
xa mối tình nồng
• Nhắn nhủ, dặn dò Thúy Vân kĩ lưỡng phải chăm sóc cho Kim Trọng
• Dặn em rằng nếu có nên vợ nên chòng thì hãy thương xót cho người chị bạc mệnhnày
• Tưởng tượng tương lai lúc em gái và Kim Trọng thành đôi, Kiều chỉ còn là một mảnhhồn oan vật vờ theo gió
Tâm trạng sau khi trao duyên
• Cảm thấy xót xa, đau khổ, tủi phận và nhớ đến kỉ niệm xưa, lời thề với Kim Trọng
• Tự ý thức được bi kịch của bản thân, nhìn thấy một tương lai đầy u ám của bản thân
ở trước mắt
• Tự oán trách bản thân vì không làm tròn bổn phận, phụ lòng Kim Trọng
• Oán trách cuộc đời vì sao quá bất công
12
Trang 156 QUAN ĐIỂM
(Trao Duyên, SGK Văn, tập 2/104,105)
Theo cảm nhận của tôi thì Nguyễn Du đã thể hiện tương đối rõ nét những cung bậc cảm xúc nối tiếp nhau của Thúy Kiều để có thể hiện được số phận bi kịch, bất hạnh của nàng Bởi có lẽ, Nguyễn Du đã tiếp xúc với nhiều nền văn học các nước, biết rõ được những cảm xúc, cuộc sống của những người phụ nữ thời xưa ra sao, nên ông mới có thể khắc họa nên một hình tượng nhân vật Thúy Kiều độc đáo như thế Chắc hẳn, Nguyễn Du cho rằng, thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh,
là tất nhiên và đã được định đoạt trước Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du luôn đặc biệt chú ý đến người tài và những người phụ
nữ tài hoa, bạc mệnh như Kiều Qua các tác phẩm nằm trong “Truyện Kiều” của ông, tôi dễ dàng nhận thấy rằng những nỗi đau buồn, éo le trong cuộc đời của người khác cũng chính là nỗi đau trong cuộc đời của chính Nguyễn Du Như ở trong chính tác phẩm “Trao duyên” này, tôi có thể thấy rằng Thúy Kiều đã vô cùng dằn vặt, đau khổ, đầy tâm tư và nỗi buồn nghẹn ngào mà chẳng thể nào có thể thoát được kiếp bi kịch Đối với một nhà thơ bình thường thì khó có thể miêu tả chi tiết được những cảm xúc ấy của Kiều Nguyễn Du đã như tự đặt mình vào hoàn cảnh như Kiều, nên ông mới có thể khắc họa chi tiết đến đặc biệt những cảm xúc, tâm trạng của Thúy Kiều Đối với tôi, Kiều không chỉ là một nhân vật
mà ông tạo ra trong bộ truyện, mà đó còn là đại diện cho những người phụ nữ thời xưa với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi, cũng giống như những người phụ nữ được đề cập đến trong tác phẩm “Bánh Trôi nước” của Hồ Xuân Hương:
“ Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non…”
(Bánh trôi nước-Hồ Xuân Hương)
Ông là người quan sát, người đồng cảm, người cùng chia sẻ, người trong cuộc Cái tâm thương cảm, đồng cảm, chia sẻ của Nguyễn Du đã khiến cho triết lý cuộc đời của ông tràn đầy chủ nghĩa nhân văn và biến
nó trở thành nguồn cảm hứng để ông có thể tạo nên một tác phẩm “Trao duyên” nói riêng hay “Truyện Kiều” nói chung đầy đặc sắc và tuyệt vời như thế.
13