Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cáchhọc, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ n
Trang 11 Mở đầu.
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường phổ thông hiện nay, mục tiêu giáo dục tổng quát đã đượcxác định tượng đối phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, bao gồm cảthái độ, năng lực, kĩ năng, kiến thức, cách học, cách làm, cách sống…nhằm tạo
ra những con người tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đềthực tiễn, có năng lực tự học sáng tạo Do đó học sinh không học thụ động bằngcách nghe nhìn và ghi nhớ những lời thầy dạy mà học tích cực bằng hành độngcủa chính mình, tức là người học tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, tự mìnhtìm ra kiến thức, chân lí Muốn phát huy tính tích cực thì phương pháp, kĩ thuậtdạy học cũng phải hướng vào khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ vàlàm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong học tập và lao động ởnhà trường
Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cáchhọc, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩmchất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tratrí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề,coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trìnhhọc tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạyhọc và giáo dục
Trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều côngviệc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt đượcnhững thành công bước đầu Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng
ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng pháttriển năng lực của người học Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũngnhư việc đi dự giờ đồng nghiệp tại trường tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việcđổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh…chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, việc rèn luyện kỹ năngchưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá còn nhiều hạn chế, chú trọngđánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá cả quá trình học tập Tất cả những điều
đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trongthực tiễn
Môn GDCD giữ vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục học sinh
ý thức và hình thành phát triển nhân cách con người toàn diện Đặc biệt, chương
trình Giáo dục công dân lớp 12 đã đề cập đến một chủ đề lớn: "Công dân với pháp luật", đó là bản chất và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Mặt
Trang 2khác, qua môn Giáo dục công dân lớp 12 giúp cho học sinh hiểu được quyền vànghĩa vụ cơ bản của một công dân, có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩnmực, có ý thức tuân thủ luật pháp và có khả năng thực hiện đúng những quyđịnh của pháp luật.
Tuy nhiên thực trạng hiện nay ở trường THPT đa số học sinh lớp 12 chịunhiều áp lực bởi chương trình học nặng , các em cũng lo lắng nhiều cho việcthực hiện ước mơ, hoài bão bằng con đường thi cử vào các trường đại học tốpđầu trong cả nước Các em đa số chú tâm, giành nhiều thời gian cho những mônhọc mà tới đây các em sẽ thi Đại học Học sinh ban xã hội nói riêng học bộ mônGDCD với tính chất thi chỉ chủ yếu để lấy điểm phục vụ cho việc xét tốt nghiệpchứ dùng điểm đó xét vào các trường Đại học thì rất ít Từ quan niệm, động cơ
đó nên các em chỉ học một cách đối phó, qua loa, xem nhẹ bộ môn đang diễn ra
phổ biến và trở thành thực trạng chung ở trường THPT Đồng thời đáp ứng mục
tiêu áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục theo địnhhướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.Vậy, vấn đề đặt ra là giáoviên giảng dạy môn GDCD làm thế nào để học sinh hứng thú với môn học này,phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của các em, nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học bộ môn Vấn đề cơ bản nhất là phải tích cực đổi mới PPDH
và sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy Năm học 2021 –
2022, tôi đã sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực trong đó có kỹ thuật “mảnh ghép”
và “nhật ký đọc” vào giảng dạy học sinh lớp 12 thu được kết quả khả quan
Đây chính là lý do bản thân tôi thực hiện đề tài “Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép và nhật ký đọc trong giảng dạy môn GDCD lớp 12 nhằm góp phần phát triển năng lực cho học sinh trường THPT ”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc đưa ra sáng kiến nhằm góp phần phát triển năng lực chohọc sinh trường THPT Tĩnh Gia 2 Đồng thời chia sẻ kinh nghiệm với các đồngnghiệp đồng môn nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD ở trường trung
học phổ thông hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm, tôi tập trung nghiên cứu việcvận dụng kĩ thuật mảnh ghép và nhật ký đọc vào giảng tiết học cụ thể trongchương trình môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Tĩnh Gia 2
1.4 Phạm vi triển khai
Học sinh các lớp 12 mà tôi được phân công trực tiếp giảng dạy trong nămhọc 2021-2022: Lớp thực nghiệm Lớp 12C6, 12C8 - lớp đối chứng: 12C7,
12C11 Trường THPT Tĩnh Gia 2
Trang 31.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu:
+ Phương pháp tổ chức nghiên cứu tác động thử nghiệm
+ Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động
+ Phương pháp thống kê toán học
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Kĩ thuật “Nhật ký đọc”
- Kĩ thuật “Nhật ký đọc” dù được nhắc đến trong các nghiên cứu và nhiều
người biết đến lợi ích của nó nhưng không phải ai cũng sử dụng đúng cách vàhiệu quả kĩ thuật dạy học này Sau mỗi tiết dạy GV thường áp dụng kỹ thuật này
để yêu cầu học sinh về nhà về đọc bài mới nhưng thử hỏi giáo viên có thể đánhgiá được bao nhiêu học sinh đọc bài mới, hiệu quả của đọc bài mới ở nhà nhưthế nào?
- Cách tiến hành như sau: Để chuẩn bị cho việc thảo luận nhóm, tìm hiểunội dung bài/ phần tiếp theo giáo viên yêu cầu mỗi học sinh về nhà đọc trước.Trong quá trình đọc HS cần tìm ra ý chính của bài/phần đọc Tóm tắt ý chính vàghi vào vở nhật ký hoặc vở GDCD Ngoài ra yêu cầu học sinh viết lại những suynghĩ, cảm nhận trong nội dung đó
- GV kiểm tra, nhận xét, đánh giá việc ghi chép nhật ký đọc của học sinh 2.1.2 Kĩ thuật “các mảnh ghép”
- Kỹ thuật “các mảnh ghép” là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp
giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụphức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhântrong quá trình hợp tác
- Cách tiến hành
Bước 1: Giáo viên chia nhóm chuyên sâu
Bước 2: Giáo viên giao nhiệm vụ cho nhóm chuyên sâu
Bước 3: Học sinh nhóm chuyên sâu thảo luận nhóm
Bước 4: Giáo viên chia nhóm mảnh ghép
Bước 5: Nhóm mảnh ghép thảo luận
Bước 6: Giáo viên giao nhiệm vụ mới
Bước 7: Học sinh nhóm mảnh ghép lên bảng trình bày
Bước 8: Học sinh nhóm khác bổ sung
Bước 9: Giáo viên kết luận
Trang 4* Một số lưu ý khi tổ chức dạy học áp dụng kĩ thuật mảnh ghép:
- Ở vòng 1 “ Nhóm chuyên sâu ”
+ Lớp học được chia đều thành các nhóm ( khoảng 6 đến 10 học sinh) Mỗinhóm được giao một nhiệm vụ, tìm hiểu sâu một phần nội dung học tập khácnhau, nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau
+ Khi học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các nhóm “chuyên sâu”, giáo viêncần quan sát và hỗ trợ kịp thời để đảm bảo các nhóm hoàn thành nhiệm vụ đúngthời gian quy định và các thành viên đều có khả năng trình bày lại kết quả thảoluận của nhóm
+ Kết thúc giai đoạn 1, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm, đều nắm vững
và có khả năng trình bày lại được, các nội dung trong nhiệm vụ được giao chocác bạn ở nhóm khác, trong giai đoạn tiếp theo
- Ở vòng 2 “ Nhóm mảnh ghép ”
+ Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, mỗi học sinh từ các nhóm
“chuyên sâu” khác nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là “nhóm mảnh ghép”.Lúc này mỗi học sinh “chuyên sâu” trở thành những “mảnh ghép” trong “nhómmảnh ghép ” Các học sinh phải lắp ghép các mảnh kiến thức thành một “bứctranh” tổng thể
+ Khi các nhóm “mảnh ghép” hoạt động giáo viên cần quan sát hỗ trợ đểđảm bảo các thành viên nắm được đầy đủ nội dung từ các nhóm “chuyên sâu” + Sau đó nhiệm vụ mới được giao cho các nhóm “mảnh ghép” Nhiệm vụnày mang tính khái quát, tổng hợp toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ cácnhóm “chuyên sâu” Bằng cách này, học sinh có thể nhận thấy những phần vừathực hiện là những nội dung học tập quan trọng
* Kết hợp sử dụng kĩ thuật dạy học mảnh ghép và nhật ký đọc với đổi mới kiểm tra đánh giá
- Khi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép và nhật ký đọc, giáo viên sẽ thấy rất rõ
kết quả hoạt động của từng học sinh, từng thành viên trong nhóm, để đánh giámột cách chính xác, động viên kịp thời, để các nhóm tự nhận xét, đánh giá lẫnnhau, giáo viên tổng hợp kết quả
Những vấn đề được trình bày ở trên là lý thuyết Để thấy được kết quả cụthể, nhóm chúng tôi đã tiến hành thực hiện nhiều tiết dạy có sử dụng kĩ thuậtmảnh ghép và nhật kí đọc vào giảng dạy môn GDCD lớp 12 năm học 2021 -
2022
Cụ thể lớp thực nghiệm Lớp 12C6, 12C8 (số lượng 80 HS) Lớp đối
chứng: 12C7, 12C11(số lượng 80 HS) trường THPT Tĩnh Gia 2
Trang 52.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Có một thực tế mà chúng tôi nhận thấy là việc vận dụng các kỹ thuật dạyhọc trong môn GDCD không phải là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiềuvào yếu tố khách quan như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh
Vì vậy, với giáo viên ở nhiều trường, nhiều địa phương thì các kỹ thuật dạy họctích cực vẫn là vấn đề khá mới mẻ, việc vận dụng vào thực tiễn chưa thật thườngxuyên, nhiều nơi còn mang tính hình thức Ở một số môn việc áp dụng kĩ thuậtdạy học mới còn khá khiêm tốn, một phần do trang bị của giáo viên về kỹ thuậtdạy học còn hạn chế, một số giáo viên vẫn còn có quan điểm cho rằng những kỹthuật dạy học tích cực rất khó áp dụng vào giảng dạy trong thời gian 45 phúttrên lớp nên cũng rất ít sử dụng các kỹ thuật này, phần vì điều kiện cơ sở vậtchất, Mặt khác, vẫn còn một số học sinh lười học, chưa có sự say mê học tập,một bộ phận học sinh thường xuyên không chuẩn bị bài ở nhà, trên lớp các emthiếu tập trung suy nghĩ, cho nên không nắm vững được nội dung bài học Một
số học sinh chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản ở mức độ nhậnbiết, còn một số câu hỏi ở mức độ thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao…thì còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời mang tính chất chung chung, muốngiải quyết được đòi hỏi phải có sự hợp tác, làm việc theo nhóm Nhưng hoạtđộng nhóm nhiều khi còn mang tính hình thức, không hiệu quả, chỉ có một sốhọc sinh làm việc tích cực còn lại là thụ động, trông chờ vào kết quả làm việccủa các bạn, việc đánh giá của giáo viên đối với kết quả hoạt động nhóm nhiềukhi chưa chính xác, có học sinh không tích cực thảo luận nhưng vẫn được đánhgiá như các bạn dựa trên kết quả làm việc của cả nhóm
Một số phương pháp dạy học thông thường như vấn đáp tìm tòi, thuyếttrình… chủ yếu học sinh khá giỏi tham gia học tập, số học sinh yếu ít có cơ hộitham gia hoạt động, mức độ chú ý nghe giảng còn hạn chế Học sinh tham giatrả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn học sinh chưa tự giác làmbài tập Đồng thời, ở nhiều học sinh hoạt động giao tiếp, kỹ năng sống rất hạnchế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không dámtranh luận nhất là với thầy cô giáo, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đãảnh hưởng rất không tốt đến việc học tập của học sinh Có nhiều nguyên nhâncho những hạn chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do phương pháp giáodục
Chính vì thế nên việc học tập thường ít hứng thú, nội dung đơn điệu, giáoviên ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân
2.3.Giải pháp tổ chức thực hiện
2.3.1 Mục tiêu giải pháp đạt được
Trang 6- Nâng cao chất lượng bộ môn GDCD nói riêng và chất lượng văn hoá củanhà trường nói chung, góp phần nâng cao ý thức học tập của HS trong nhàtrường.
- Giúp HS có hứng thú học tập, khắc phục được lối học thụ động trong họctập môn GDCD, từ đó củng cố được những kiến thức cũ và tiếp thu kiến thứcmới một cách tự giác
- Tạo tâm lí thoải mái khi học, phát triển các năng lực và kỹ năng sống choHS
- Đạt được mục tiêu trường học thân thiên, HS tích cực
2.3.2 Thực tiễn áp dụng kĩ thuật mảnh ghép và nhật kí đọc, vào giảng dạy môn GDCD lớp 12
Ví dụ 1: Bài 2 – Thực hiện pháp luật.
TIẾT 1: Mục 1 Khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật
b Các hình thức thực hiện pháp luật:
Cách tiến hành như sau:
- Trước khi dạy bài 2 tôi sử dụng kỹ thuật nhật ký đọc
Để chuẩn bị cho việc thảo luận nhóm, tìm hiểu nội dung bài 2 – Thực hiệnpháp luật giáo viên yêu cầu mỗi học sinh về nhà đọc trước mục 1, gồm: ý a.Khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật; ý b Các hình thức thực hiện phápluật:
Yêu cầu: HS đọc cần tìm ra ý chính của phần đó, tóm tắt ý chính và ghi vào
vở GDCD Ngoài ra học sinh viết lại những suy nghĩ, cảm nhận trong nội dungđó
- GV kiểm tra, nhận xét việc ghi chép nhật ký đọc của học sinh
- Trong quá trình dạy bài 2 tôi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép như sau:
(GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm – kỹ thuật mảnh ghép để tìmhiểu các hình thức thực hiện Pháp luật)
- Bước 1: GV chia nhóm chuyên gia Có thể chia lớp thành 4 nhóm (8-10HS/nhóm đọc theo số từ 1-10)
- Bước 2: GV giao nhiệm vụ cho nhóm chuyên gia:
Nhóm 1: Trình bày nội dung và cho ví dụ về hình thức sử dụng pháp luật? Nhóm 2: Trình bày nội dung và cho ví dụ về hình thức thi hành pháp luật? Nhóm 3: Trình bày nội dung và cho ví dụ về hình thức tuân thủ pháp luật? Nhóm 4: Trình bày nội dung và cho ví dụ về hình thức áp dụng pháp luật?
- Bước 3: HS nhóm chuyên gia thảo luận nhóm trong thời gian 2 phút
- Bước 4: GV chia nhóm mảnh ghép GV yêu cầu các thành viên của cácnhóm di chuyển vị trí tạo thành 4 nhóm mới,
Trang 7Nhóm 1: Gồm người số 1, 2 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 2: Gồm người số 3, 4 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 3: Gồm người số 5, 6 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 4: Gồm người số 7, 8 của các nhóm ở vòng chuyên gia
- Bước 5: Nhóm mảnh ghép thảo luận: 4 phút
- Bước 6: GV giao nhiệm vụ mới: Lập bảng phân biệt sự giống nhau vàkhác nhau giữa các hình thức thực hiện pháp luật: 3 phút
Các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để
ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện cácquyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức
- Bảng phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa các hình thức thực hiện
pháp luật
Khác
Sử dụng pháp luật
Thi hành pháp luật
Tuân thủ pháp luật
Áp dụng pháp luật
Chủ thể Cá nhân, tổ
chức
Cá nhân, tổchức
Cá nhân, tổchức
Cơ quan, côngchức nhà nước cóthẩm quyền
Mức độ Chủ động Chủ động Không CQ, NN chủ động
Trang 8chủ động
của chủ
thể
thực hiệnquyền
(những việcđược làm)
thực hiệnnghĩa vụ(nhữngviệc phảilàm)
được làmnhững việc
mà phápluật cấm
đưa ra quyết địnhhoặc thực hiệnhành vi PL theochức năng thẩmquyền được giao
Giống Đều là những hoạt động có mục đích nhằm đưa pháp luật vào cuộc
sống
TIẾT 3: Mục 2 Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
c) Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
Cách tiến hành như sau:
- Trước khi dạy bài tôi sử dụng kỹ thuật nhật ký đọc
Để chuẩn bị cho việc thảo luận nhóm, tìm hiểu nội dung bài 2 – Thực hiệnpháp luật ( tiết 3) giáo viên yêu cầu mỗi học sinh về nhà đọc trước mục 2 Viphạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí ý c Các loại vi phạm pháp luật và tráchnhiệm pháp lí
Yêu cầu: HS đọc cần tìm ra ý chính của phần đó, tóm tắt ý chính và ghi vào
vở GDCD Ngoài ra học sinh viết lại những suy nghĩ, cảm nhận trong nội dungđó
- GV kiểm tra, nhận xét việc ghi chép nhật ký đọc của học sinh
- Trong quá trình dạy bài 2 tôi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép như sau:
GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm – kỹ thuật mảnh ghép để tìmhiểu các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
Bước 1: GV chia nhóm chuyên gia Có thể chia lớp thành 4 nhóm (8 10HS/nhóm đọc theo số từ 1-10)
Bước 2: GV giao nhiệm vụ cho nhóm chuyên gia:
Nhóm 1: Phân tích nội dung và lấy ví dụ vi phạm hình sự và trách nhiệm
Trang 9- Bước 4: GV chia nhóm mảnh ghép GV yêu cầu các thành viên của các
nhóm di chuyển vị trí tạo thành 4 nhóm mới,
Nhóm 1: Gồm người số 1, 2 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 2: Gồm người số 3, 4 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 3: Gồm người số 5, 6 của các nhóm ở vòng chuyên gia
Nhóm 4: Gồm người số 7, 8 của các nhóm ở vòng chuyên gia
(Một số bạn còn lại có thể chèn vào các nhóm)
- Bước 5: Nhóm mảnh ghép thảo luận: 4 phút
- Bước 6: GV giao nhiệm vụ mới cho các nhóm: Hoàn thành bảng so sánhcách loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí: 4 phút
Loại vi
phạm
Chủ thể vi phạm
Hành vi Trách
nhiệm
Chế tài trách nhiệm
Chủ thể áp dụng pháp luật Hình sự
- Bước 9: GV nhận xét – đánh giá, chính xác hóa nội dung bài học
Vi phạm hình sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
quy định tại Bộ luật Hình sự
Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, phải chấp hành hình phạt
theo quy định của Tòa án
+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rấtnghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
+ Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm
cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước
Người vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp
luật
+ Người từ 14 đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cốý;
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hànhchính do mình gây ra
Trang 10Vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ
tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng…) và quan hệ nhân thân (liên quanđến các quyền nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác
Người có hành vi vi phạm dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự Người từ
đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia các giao dịch dân sự phải được ngườiđại diện theo pháp luật
Vi phạm kỉ luật là vi phạm pháp luật liên quan đến kỉ luật lao động và công
vụ nhà nước trước các cơ quan, trường học, doanh nghiệp
Người vi phạm kỉ luật phải chịu trách nhiệm kỉ luật với các hình thức cảnh
cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác, buộc thôi việc
- Bảng so sánh cách loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
Loại vi
phạm
Chủ thể vi phạm
nhiệm
Chế tài trách nhiệm
Chủ thể
áp dụng pháp luật Hình sự Cá
nhân
Gây nguyhiểm cho xãhội
Hình sự Nghiêm khắc nhất Tòa án
Hành
chính
Cánhân,
tổ chức
Xâm phạm cácquy tắc quản lícủa nhà nước
Hànhchính
Phạt tiền, cảnh cáo,khôi phục hiệntrạng ban đầu, thugiữ tang vật,phương tiện …dùng để vi phạm
Cơ quanquản línhà nước
Dân sự Cá
nhân,
tổ chức
Xâm phạm tớicác quan hệ tàisản và quan hệnhân thân
Dân sự Bồi thường thiệt
hại, thực hiệnnghĩa vụ dân sựtheo đúng thỏathuận giữa các bêntham gia
Tòa án
Kỉ luật Cá
nhân,tập thể
Xâm phạm cácquy tắc kỉ luậtlao động trongcác cơ quan,trường học,doanh nghiệp,các quy địnhđối với cán bộ,công chức nhànước
Kỉ luật Khiển trách, cảnh
cáo, chuyển côngtác khác, cáchchức, hạ bậclương, đuổi việc
Thủtrưởng cơquan, đơn
vị hoặcngườiđứng đầucác doanhnghiệp
Trang 11Ví dụ 2: Dạy bài 4 – Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội
TIẾT 1: Mục 1 Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
Phần nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
Cách tiến hành như sau:
- Trước khi dạy bài tôi sử dụng kỹ thuật nhật ký đọc
Để chuẩn bị cho việc thảo luận nhóm, tìm hiểu nội dung dạy bài 4 – Quyềnbình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội ( tiết 1) giáoviên yêu cầu mỗi học sinh về nhà đọc trước mục 1 Bình đẳng trong hôn nhân vàgia đình
Yêu cầu: HS đọc cần tìm ra ý chính của phần đó, tóm tắt ý chính và ghi vào
vở GDCD Ngoài ra học sinh viết lại những suy nghĩ, cảm nhận trong nội dungđó
- GV kiểm tra, nhận xét việc ghi chép nhật ký đọc của học sinh
- Trong quá trình dạy bài 4 tôi sử dụng kĩ thuật mảnh ghép như sau:
GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm – kỹ thuật mảnh ghép để tìm
hiểu nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình
- Bước 1: GV chia nhóm chuyên gia Có thể chia lớp thành 5 nhóm (8HS/nhóm đọc theo số từ 1- 8)
- Bước 2: GV giao nhiệm vụ cho nhóm chuyên gia:
Nhóm 1: Thực hiện nội dung bình đẳng trong quan hệ nhân thân
1 Trong quan hệ nhân thân sự bình đẳng giữa vợ chồng được thể hiện như thế nào?
2 Em hãy giải quyết tình huống 1 trong sách giáo khoa GDCD lớp 12, trang 33?
Nhóm 2: Thực hiện nội dung bình đẳng trong quan hệ tài sản.
1.Trong quan hệ tài sản sự bình đẳng giữa vợ và chồng được thể hiện như thế nào?
2 Em hãy giải quyết tình huống 2 trong sách giáo khoa GDCD lớp 12, trang 33.
Nhóm 3: Thực hiện nội dung bình đẳng giữa cha mẹ và con
Sự bình đẳng giữa cha mẹ và con theo hai chiều được thể hiện như thế nào?
Nhóm 4: Thực hiện nội dung bình đẳng giữa ông bà và cháu
Sự bình đẳng giữa ông bà (nội-ngoại) và cháu theo hai chiều được thể hiện như thế nào?
Nhóm 5: Thực hiện nội dung bình đẳng giữa anh chị em