Nâu Chim Chung chung Lập kế hoạch cá nhân Trường THPT Trần Khai Nguyên Môn Ngữ văn Nhật k í đọc t ruyện V Ợ N H Ặ T Họ tên Dương Ngọc Thanh Trang Lớp 12A11 GVBM Cô Nguyễn Hà Bích Vân Năm học 2021 2022[.]
Trang 1Trường THPT Trần Khai Nguyên
Môn: Ngữ văn
N h ậ t k í đ ọ c t r u y ệ n
V Ợ N H Ặ T
Họ tên: Dương Ngọc Thanh Trang
Lớp: 12A11 GVBM: Cô Nguyễn Hà Bích Vân
Năm học: 2021 - 2022
Trang 2M Ụ C L Ụ C
Hình ảnh 2
Từ hay 3
Nghệ thuật và thủ pháp đặc biệt của tác giả 4
Kết cấu/ Bố cục/ Trình tự sự kiện 6
Hồ sơ nhân vật 7
Quan điểm 10
Giải thích 10
Điểm nhìn/ Phê bình 11
Phần đặc sắc nhất trong truyện 11
Bản thân và truyện 12
Nội dung Trang PHẦN 1: TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1 PHẦN 2: BỘ CÂU HỎI NHẬT KÍ ĐỌC TRUYỆN
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Trang 3PHẦN 1:TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
Tác giả: KIM LÂN Kim Lân ( 1920 - 2007) tên thật là Nguyễn
Văn Tài, quê ở tỉnh Bắc Ninh Ông xuất thân
từ một gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu
học, phải làm nhiều nghề để mưu sinh: thợ sơn
guốc, khắc tranh bình phong, viết văn Năm
1944, ông tham gia Hội văn hóa cứu quốc, liên
tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến,
phục vụ Cách mạng Năm 2001 được tặng Giải
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC:
Kim Lân là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông thường viết về nông thôn và hình tượng người nông dân Việt Nam với một vốn hiểu biết sâu sắc, cảm động cùng tấm lòng thiết tha hiếm có Trong sự nghiệp sáng tác của ông, có những tác phẩm tiêu biểu như: "Nên vợ nên chồng" (1955), "Con chó xấu xí" (1962)
Tác phẩm: VỢ NHẶT
VỊ TRÍ:
- Rút trong tập "Con chó xấu xí"
- Tiền thân là tiểu thuyết "Xóm
ngụ cư"
HOÀN CẢNH SÁNG TÁC:
Năm 1940, Nhật vào Đông Dương bắt dân ta phải nhổ lúa để trồng đay và thầu dầu Cùng với đó, Pháp đưa ra những chính sách tăng thuế, đàn áp bóc lột nhân dân ta Hiện thực ấy đã tác động lớn tới Kim Lân, tác phẩm được viết ra sau Cách mạng tháng Tám thành công nhưng vẫn còn dang dở và mất bản thảo Sau khi hòa bình được lập lại (1954), tác giả đã dựa vào một phần cốt truyện cũ ( tiểu thuyết "Xóm ngụ cư") để sáng tác nên truyện ngắn này
1
Trang 4Màu - Xanh xám của da người sắp chết
- Đen kịt của đàn quạ trên trời
Mùi
- Gáy của xác người
- Ẩm thối của rác rưởi
- Khét lẹt của đống rấm
Tiếng
- Thê thiết của đàn quạ trên những cây gạo
- Khóc hở tỉ tê của những gia đình có người chết
Cảnh - Chợ: xơ xác, heo hút
- Phố: úp súp, tối om, không ánh đèn,
PHẦN 2: BỘ CÂU HỎI NHẬT KÍ
ĐỌC TRUYỆN
1 Hình ảnh
Trong truyện ngắn "Vợ nhặt", tác giả
Kim Lân đã kể về nạn đói năm 1945 lúc bấy
giờ đã cướp đi khoảng 1/10 dân số nước ta
"Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư tự lúc nào",
đến nhanh, mạnh mẽ như nước lũ "Người sống - người chết đặt cạnh nhau trong một môi trường" Trong tình cảnh ấy, khoảng cách giữ sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc Một bức tranh về cuộc sống năm nạn đói đã được hiện lên đầy
sự u tối, hốc hác, túng quẫn Đặc biệt, để gây ấn tượng rùng rợn cho người đọc, tác giả đã so sánh con người và ma, tạo nên một không gian năm nạn đói đầy đau thương, ám ảnh
2
Trang 5Sở dĩ, hình ảnh trên luôn gây ấn tượng trong tâm trí tôi, làm cho tôi thật sự ám ảnh là bởi vì: bằng bút pháp giày tính hiện thực, tác giả Kim Lân đã tái hiện lại cảnh sống của nhân dân ta những năm 1945 Tất cả đều xơ xác, ảm đạm, tiêu điều, chết chóc Nạn đói năm đó thật kinh khủng, nó đã len lỏi từng nhà và từng người, không bỏ sót bất kì ai cả Qua
đó, đồng thời tác giả cũng đã lên án, tố cáo đanh thép chế
độ nữa phong kiến và thể hiện niềm xót thương với số phận những con người cùng khổ trong xã hội Càng sống trong cái khắc nghiệt của thực tế cuộc sống đem lại, tôi càng thêm khâm phục ý chí, sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người dân ta trong tình cảnh bấy giờ, không bao giờ từ bỏ và đầu hàng trước số phận
2 Từ hay
Khi đọc văn bản này, tôi thấy văn bản có những từ ngữ hay, mới, sống động
Đầu tiên, từ ngữ làm cho tôi ấn tượng đó là nhan đề của
tác phẩm: "Vợ nhặt" Thường thì chúng ta thấy "vợ" là danh
từ chỉ người phụ nữ quan trọng trong cuộc đời của người đàn ông Lấy vợ là một sự kiện trọng đại "Nhặt" là động từ chỉ một hành động nhặt nhạnh dễ dàng, thường được kết hợp với những danh từ chỉ đồ vật vô tri vô giác: nhỏ, nhẹ Thế mà
ở đây, Kim Lân đã gây cho người đọc nhiều suy nghĩ với một nhan đề hết sức tò mò, " vợ nhặt " tức là người vợ theo chồng, không cưới sinh gì cả Qua đó, phần nào tác giả cũng cho thấy được sự thê thảm trong số phận con người, bị hạ thấp, coi thường, rẻ rúng như đồ vật Và cũng ngay từ nhan
đề tác phẩm, nhà văn cũng phần nào gián tiếp tố cáo tội ác của phát xít Nhật và thực dân Pháp
Tiếp đó, tác giả đã đưa ra hàng loạt những từ láy như:
"cong cớn, lon ton" (sgk/26), "đon đả" (sgk/27) hay "chao chát chỏng lỏn" (sgk/30) để diễn tả rõ nét ngôn ngữ, cử chỉ
của nhân vật người vợ nhặt Lối nói năng đanh đá, chua 3
Trang 6ngoa, không có một tí nào nữ tính, en thẹn của người phụ
nữ phần nào cũng hiểu được thực tế cuộc sống lúc bấy giờ
-vì Thị quá đói, không có nơi nương tựa nên Thị phải quên đi tất cả
Bên cạnh đó, Kim Lân cũng đã sử dụng những từ đầy
tính gợi hình như: "húng hắn ho", "lọng khọng", "lẩm bẩm",
"phấp phỏng", "lập cập", " băn khoăn" (sgk/27-28) để khắc
họa nên hình tượng nhân vật Bà cụ Tứ - mẹ của Tràng Tuổi tác, những nỗi vất vả, lo toan hằn in trên vóc dáng của người mẹ chưa phút nào được nghỉ ngơi thanh thản Có lẽ, hoàn cảnh túng quẫn đã đánh mất đi ở người mẹ sự nhạy cảm Bà cụ cũng rất ngạc nhiên vì chưa bao từng bao giờ nghĩ rằng con trai mình có vợ
Mặt khác, Kim Lân còn gây cho người đọc nhiều ấn
tượng khi nhắc đến món "chè khoán" (sgk/30) tức ở dây là
món cháo cám Món ăn đã cho thấy sự đối nghịch rõ nét với thực tế Đó là một món ăn thảm hại vì chỉ toàn là rau chuối, muối, cháo nhưng bữa ăn gia đình rất vui vẻ, đầm ấm Dù
Bà cụ luôn cho rằng món cháo cám "ngon đáo để" nhưng thật tế thì ăn vào đắng chát, nghẹn bứ trong cổ Dù hiện thật có bi đát cỡ nào thì con người vẫn vượt lên hoàn cảnh bằng niềm vui đơn sơ, bình dị
3 Nghệ thuật và thủ pháp đặc biệt của tác giả
Tác giả Kim Lân đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc để khắc họa rõ nét hình tượng những nhân vật trong đầu người đọc và càng làm cho tôi thêm yêu quý, hứng thú với tác phẩm này hơn
Trước hết, tác giả đã rất xuất sắc trong việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa Nhân vật anh cu
Tràng không phải cưới vợ mà là nhặt được vợ như việc một món đồ rẻ rúng bên đường Tình huống truyện đã gây nên
sự bất ngờ cho cả nhân vật trong tác phẩm và cả người đọc
Rõ ràng, tác giả cũng đã nói là Tràng rất khó lấy vợ vì hoàn
4
Trang 7cảnh khó khăn, nhà nghèo, là dân ngụ cư đang làm công việc kéo xe thuê Trong hoàn cảnh đói khát ấy, nuôi thân, nuôi mẹ còn chẳng xong thì có thêm một miệng ăn trong nhà là một việc không hề đễ dàng Việc tạo nên một tình huống chuyện éo le, độc đáo, vừa bi thảm vừa thấm đẫm tình người trong tình cảnh đói khát đã làm quên đi lễ nghĩa, nhắm mắt bước qua sĩ diện để theo không về làm
vợ Tràng cũng đã gợi cho ta thấy một quá khứ đau thương của dân tộc bấy giờ Đồng thời, cũng đã lên án tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy người dân vào cảnh đói thê thảm năm Ất Dậu Và dù trong hoàn cảnh nào thì con người Việt Nam vẫn không bao giờ gục ngã, họ luôn yêu thương đùm bọc nhau và niềm khát khao có được tổ
ấm gia đình luôn rực cháy không bao giờ tắt
Tiếp theo, là nghệ thuật trần thuật - lối kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn Mở đầu câu chuyện, nhà văn khái quát về
tình cảnh nạn đói nước ta năm đó và giới thiệu về nhân vật tràng Để rồi theo lối văn đó, tác giả đã xuôi theo dòng hồi tưởng của Tràng để kể lại sự việc nhặt được vợ như thế nào Trần thuật qua câu chuyện đối thoại giữa các nhân vật đã làm cho câu chuyện thêm phần lôi cuốn, đặc sắc và giúp cho người đọc dễ hiểu và ghi nhớ sâu hơn
Cuối cùng, không thể không kể đến cách miêu tả tâm
lí của nhân vật đầy chân thật của Kim Lân Nhân vật
người vợ nhặt mang tâm lí tội nghiệp của một kẻ đói khát đến nỗi phạt gạt bỏ đi hết lòng tự trọng của một người con gái theo Tràng về làm vợ Để rồi khi bước vào nhà Tràng, khi cảm nhận được sự ấm áp, hạnh phúc của tổ ấm gia đình thì thị lại là một con người hoàn toàn khác: ăn nói
lễ phép, đúng mực Tràng mang tâm lí bàng hoàng vì lấy được vợ một cách quá dễ dàng, anh vừa tự hào về bản thân, vừa vui sướng nhưng rồi cũng lại lo lắng về cuộc sống tương lai đầy những khó khăn Nhưng cũng chính tình cảm gia đình đơn giản, đơn sơ, tình yêu thương, sự gắn bó giữa con người với con người đã làm cho Tràng 5
Trang 8thay đổi, Tràng ý thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình và mong muốn thay đổi cuộc sống tăm tối này Bà
cụ Tứ lúc đầu đầy sự ngạc nhiên vì Tràng đã lấy được vợ -điều mà chưa bao giờ bà dám nghĩ là sự thật Để rồi khi hiểu rõ mọi chuyện thì người mẹ này lại đầy lo lắng, ngổn ngang, lòng vui mừng nhưng vẫn chứa đầy niềm tủi cực, thương xót Niềm vui chỉ thoáng qua và ẩn chứa bên trong
là nỗi buồn chan chứa âu lo của một người mẹ Qua việc miêu tả tâm lí nhân vật diễn ra trong một tình huống truyện đặc biệt, chủ đề truyện càng được thể hiện sâu sắc, cảm động: Con người dù có bị đẩy vào tình huống bi đát nhất, thậm chí là cuộc sống bị đe dọa thì con người ta vẫn khao khát tình thương, khao khát chia sẻ và luôn hướng về sự sống, hướng về một tương lai tốt đẹp
4 Kết cấu/ Bố cục/ Trình tự sự kiện
Bố cục tác phẩm được chia thành 4 phần
Phần 1 Từ đầu → "tự đắc với mình."
➥ Kể lại sự việc Tràng dẫn người vợ nhặt về xóm
ngụ cư.
"Thị lẳng lặng theo hắn" → "cùng đẩy xe bò về."
➥ Câu chuyện hai người gặp nhau và cái duyên trở
thành vợ chồng
"Tràng chợt đứng dừng lại" → "nước mắt cứ chảy
xuống ròng ròng."
➥ Tràng giới thiệu người vợ nhặt với bà cụ Tứ.
Tâm trạng của bà cụ Tứ
Phần còn lại
➥ Những thay đổi tích cực của gia đình Tràng vào
buổi sáng hôm sau Khát vọng về tương lai tươi
sáng, tốt đẹp hơn.
Phần 2
Phần 3
Phần 4
6
Trang 9Lai lịch,
ngoại hình
Tính cách
Đơn giản, vô tư
- Thích chơi với trẻ con.
- Quyết định lấy vợ rất nhanh
Nhân hậu, phóng khoáng
- Không xua đuổi Thị.
- Ánh mắt nhìn thị đầy thương cảm.
- Đãi Thị một bữa no nê.
- Trên đường về nhà luôn quan tâm đến cảm xúc của Thị.
Có trách nhiệm
(trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ)
- Ngỡ ngàng không tin đó là sự thật.
- Thương yêu, gắn bó với ngôi nhà hơn.
- Hắn thấy hắn nên người hơn.
- Phải có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này.
- Muốn góp phần tu sửa căn nhà.
Mạch bố cục trong bài được tác giả xây dựng một cách
rõ ràng, mạch lạc đã làm cho người đọc dễ dàng hiểu rõ từng diễn biến của câu chuyện Hiểu được sâu sắc từng diễn biến tâm lí của nhân vật, từ đó dễ dàng đồng cảm với những khó khăn, những áp bức bóc lột giai cấp mà dân tộc ta đã phải gánh chịu trong nạn đói xưa
5 Hồ sơ nhân vật
Nhân vật Tràng
- Nghèo, dân ngụ cư
- Ngoại hình thô kệch, có tật vừa
đi vừa nói một mình
➥ Tràng ý thức
được trách nhiệm
của bản thân với
gia đình, muốn
thay đổi cuộc sống
tăm tối.
➥ Chính cuộc sống
gia đình, sự yêu
thương, gắn bó
giữa con người với
con người làm
Tràng thay đổi.
7
Trang 10Nhân vật người vợ
nhặt - Thị
Thân phận,
ngoại hình
- Không rõ gốc gác, không có tên tuổi, quê quán, gia đình.
- Là cô gái đầu đường xó chợ.
- Áo quần rách rưới tả tơi.
- Gầy sọp đi.
- Mặt lưỡi xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.
→ Trông như con ma đói.
Tính cách
Trước khi về làm vợ chàng
- Là người cong cớn, sưng sỉa, chao chát, chỏng lỏn
→ Không có một tí nữ tính.
Khi được mời ăn
- Mắt sáng lên.
- Ăn một chập 4 bát bánh đúc.
- Ăn xong, cầm đũa quệt ngang miệng.
→ Không có một tí tự trọng.
Sau khi về làm vợ Tràng
- Ý thức được thân phận.
- Trên đường về vô cùng ngại ngùng.
- Chỉ dám ngồi mớm ở mép giường.
- Sau đêm tân hôn, trở thạh người
vợ hiền lành, đúng mực
➥ Hạnh phúc gia đình đã
làm cho người vợ nhặt
thay đồi với đúng bản tính
của người phụ nữ.
➥ Thể hiện khát khao
hạnh phúc của con người,
bộc lộ giá trị nhân đạo
của tác phẩm.
8
Trang 11Nhân vật Bà cụ Tứ
Lai lịch,
hoàn cảnh
- Nghèo, thương con
- Hoàn cảnh éo le: khốn khổ vì nạn đói, con trai lại lấy vợ
Diễn biến tâm lí
Khi xuất hiện ngoài đầu ngõ
- Húng hắn ho, dáng người lọng khọng, lẩm bẩm tính toán.
➥ Tuổi tác, vất vả, lo toan hằn in lên vóc dáng của
người mẹ chưa phút nào được nghỉ ngơi, thanh thản.
Khi mới bước vào nhà
- Phấp phỏng → ngạc nhiên → băn khoăn → tự hỏi
➥ Hoàn cảnh túng quẫn đã đánh mất ở người mẹ sự
nhạy cảm, bà lão chưa bao giờ dám mơ tưởng đến việc con trai mình có vợ.
Khi nghe Tràng thưa chuyện
- Cúi đầu nín lặng → hiểu ra → xót thương → tủi phận → khóc → thương Thị.
➥ Tâm sự ngổn ngang,triền miên những buồn tủi, day
dứt, lo âu, thương cảm.
Khi trò chuyện với các con
- Những lời nói nhẹ nhàng, hạ thấp giọng, thân mật.
- Những suy nghĩ trong lòng → Âu lo lặng thầm.
➥ Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ ngổn ngang, niềm vui
chỉ thoáng qua, nỗi buồn đọng lại, chan chứa âu lo.
9
Trang 126 Quan điểm
Vợ nhặt là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân Tác phẩm được viết ra trong nạn đói năm 1945, nạn đói đã gây ra cho con người nhiều đau thương, mất mác nhưng ngọn lửa hi vọng về một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp luôn rực cháy trong tim không bao giờ tắt Dưới ngòi bút tài ba của tác giả, ông đã thể hiện niềm cảm thương sâu sắc với những số phận bất hạnh trong giai đoạn này Thay vì miêu tả chân thật, rõ nét, sự tàn bạo mà cái đói đã đem lại cho người dân ta thì tác giả lại viết nên một câu chuyện hay, giàu tính hiện thực và nhân đạo để khen ngợi vẻ đẹp tinh thần ẩn chứa của người dân Việt Nam Chính nhờ có sự yêu thương, chia sẻ, đùm bọc
mà con người ta luôn sống và nghĩ đến những điều tích cực, tốt đẹp phía trước Họ không đầu hàng trước số phận,
dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã như thế nào thì ý chí của
họ vẫn luôn rực sáng Niềm tin về một tương lai tươi sáng được khắc họa rõ nét bằng hình ảnh: Những người đói không bao giờ nghĩ đến cái chết mà học sẽ nghĩ đến cái sống, quên đi cái đói đang bủa vây quanh mình
7 Giải thích
Qua tác phẩm Vợ nhặt, có thể thấy nếu tác giả viết nên câu chuyện nạn đói như những tác phẩm khác thì khó
có thể gây cho người đọc ấn tượng Nhưng ở đây, tác giả
đã vẻ nên hình ảnh gia đình anh cu Tràng, từ những tình huống gây bất ngờ đến những chi tiết làm cho người đọc thấy được xúc động và càng thêm trân quý các nhân vật hơn Tác giả đã gây bất ngờ cho người đọc với câu chuyện Tràng lấy vợ một cách đơn giản, nhanh chóng trong nạn đói năm 1945 Từ là một người tính tình nhưng con nít mà đến khi kết thúc chuyện, Kim Lân đã cho người đọc bất ngờ lần hai với hình ảnh Tràng có trách nhiệm về cuộc sống gia đình và hình ảnh "đám người đói và lá cờ đỏ bay
10