SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HỌC SINH LỚP 12 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG NHẬT KÝ ĐỌC SÁCH
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HỌC SINH LỚP 12 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG SỬ
DỤNG NHẬT KÝ ĐỌC SÁCH
Người thực hiện: Đỗ Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 1
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận 2
2.2 Thực trạng vấn đề 2
2.3 Giải pháp 4
2.3.1 Giải pháp để nâng cao năng lực đọc - hiểu văn bản tự sự lớp 12 cho học sinh thông qua sử dụng Nhật ký đọc sách 4
2.3.1.1 Ra bài tập cho học sinh viết nhật kí đọc sách 2
2.3.1.2.Viết nhật ký đọc sách 9
2.3.1.3 Sử dụng nhật ký trong giờ đọc hiểu văn bản 10
2.3.1.4 Sử dụng nhật ký trong kiểm tra bài cũ 12
2.3.2 Sử dụng nhật ký trong đọc hiểu tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) - chương trình Ngữ văn 12 13
2.3.2.1 Hướng dẫn viết nhật ký đọc sách 13
2.3.2.2 Sử dụng Nhật ký đọc sách trong giờ đọc - hiểu 13
2.3.2.3 Sử dụng nhật ký trong giờ kiểm tra bài cũ và tiết rèn kĩ năng 18
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 18
3 Kết luận, kiến nghị 19
3.1 Kết luận 19
3.2 Kiến nghị 19
Tài liệu tham khảo 20
Trang 3QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1 NKĐS Nhật ký đọc sách
Trang 4Điều kiện đầu tiên để một giờ đọc hiểu văn bản trong nhà trường có hiệuquả là người học phải đọc văn bản ở nhà trước khi đến lớp Tuy nhiên, không íthọc sinh không đọc văn bản, không soạn bài trước khi đến lớp hoặc soạn theokiểu đối phó, chép trong các sách giải bài tập Ngữ văn hoặc các vở bài tập củahọc sinh lớp trước Các em học tác phẩm chỉ biết đến tác phẩm, không có khảnăng liên hệ giữa tác phẩm với thực tiễn, không biết gắn nội dung tư tưởng, điềunhà văn muốn gửi gắm với những tình huống đặt ra trong cuộc sống cá nhân vàxung quanh mình Sử dụng nhật ký đọc sách (NKĐS) với các dạng bài tập khácnhau, buộc người học phải chủ động đọc và khám phá tác phẩm trước khi đếnlớp Trong quá trình học, học sinh được tự do thể hiện suy nghĩ, quan điểm củamình.
Để góp phần nâng cao năng lực đọc – hiểu văn bản cho học sinh, chúng
tôi đi đã thực hiện đề tài: “Nâng cao năng lực đọc – hiểu văn bản tự sự cho học sinh lớp 12 thông qua hoạt động sử dụng Nhật ký đọc sách”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nâng cao năng lực đọc – hiểu cho học sinh
- Nâng cao kĩ năng đọc, viết, trình bày, kiến tạo nghĩa và khám phá mộttác phẩm văn bản nghệ thuật cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về việc sử dụng NKĐS, đặc biệt các vấn đề lí luận của việc
sử dụng NKĐS trong mối quan hệ với mục đích và thực tế dạy học
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đọc – hiểu văn bản của học sinh
- Từ đó, đề xuất giải pháp sử dụng NKĐS trong đọc – hiểu văn bản nhằmnâng cao năng lực đọc – hiểu một văn bản nghệ thuật cho học sinh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau, cụ thể:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: nhằm đi tới một giải pháp phù hợp
và hiệu quả cho việc nâng cao năng lực và hiệu quả đọc – hiểu văn bản cho họcsinh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh với các hình thức khác để thấytác dụng của việc sử dụng hoạt động được đề xuất đối với việc nâng cao nănglực và hiệu quả đọc – hiểu văn bản cho học sinh
- Phương pháp nêu số liệu: trên cơ sở những thực nghiệm, khảo sát chúngtôi đưa ra những kết luận cần thiết qua bảng tổng hợp số liệu để thấy được hiệuquả của việc sử dụng hoạt động Nhật ký đọc sách
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận
Nhật ký đọc sách (NKĐS) do Taffy E.Raphael và Elfrieda H.Hiebert(1996) giới thiệu trong cuốn Creating an Integrated Approach to LiteracyInstruction ít được sử dụng nếu có được sử dụng thì mới chỉ dừng lại ở đốitượng sinh viên Học sinh THPT thì phần lớn phải trả lời câu hỏi phần Hướngdẫn học bài như một yêu cầu bắt buộc trong việc chuẩn bị bài mới trước khi đếnlớp Do đó, không tránh khỏi việc soạn bài theo sách học tốt mà không cần đọctác phẩm
Một số nhà lý luận dạy học như Phạm Hồng Nam (ĐH Cần Thơ), PhanTrọng Luận (ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng đã áp dụng NKĐS cho việc tìm hiểutác phẩm và đã thu được những kết quả khả quan Tuy nhiên, đối tượng áp dụngmới dừng lại ở đối tượng sinh viên, học viên cao học Việc sử dụng NKĐS chohọc sinh phổ thông đang còn dè dặt nên chưa được mở rộng Nay, trên cơ sở lýluận này, chúng tôi mạnh dạn mở rộng việc sử dụng NKĐS cho đối tượng là họcsinh THPT mà cụ thể là học sinh trường chúng tôi đang trực tiếp làm công tácgiảng dạy
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Học sinh hiện nay ít đọc tác phẩm Thay bằng việc tự đọc, để nắm nộidung tác phẩm, chuẩn bị bài theo phần Hướng dẫn học bài, học sinh chép sáchgiải hoặc mượn vở của anh/ chị khóa trước chép Từ đó, dẫn tới một nghịch lý:không đọc tác phẩm mà vẫn soạn được bài Việc soạn bài, chuẩn bị bài trước khiđến lớp rơi vào đối phó, phản tác dụng Chúng tôi còn thấy một thực tế là họcsinh không hề đọc nhưng khi đọc rồi vẫn không nắm được tác phẩm, không hiểutác phẩm ấy nói về cái gì Thậm chí, đọc xong rồi yêu cầu tóm tắt lại cũngkhông tóm tắt được Khả năng đọc của học sinh cơ bản là rất yếu Những học
Trang 6sinh nắm được tác phẩm thì cũng khó khăn khi tìm hiểu trước tác phẩm vì phầnlớn câu hỏi Hướng dẫn cuối bài mang tính khái quát, quá đồ sộ, thậm chí quákhó với sức học sinh Hơn nữa, các câu hỏi ít mang tính “mở” mà đều có địnhhướng như một yêu cầu bắt buộc Học sinh do đó, khi chuẩn bị bài sẽ khôngđược tự do khám phá tác phẩm theo cách của mình.
Trong khi đó tới lớp, do thời gian số tiết không cho phép, do đặc thù môn,giáo viên chỉ có thể định hướng giọng đọc bằng cách đọc mẫu một vài đoạnhay, còn lại gần như học sinh tự đọc bài ở nhà Trong khi nhiều học sinh khôngđọc bài trước khi lên lớp Vì vậy, việc tìm hiểu tác phẩm gặp rất nhiều khó khăn.Các em gần như chán và bỏ ngang việc chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp, cũngkhông hứng thú với công việc này Làm thế nào để việc soạn bài không cònnhàm chán? Làm thế nào để học sinh được tự do sáng tạo trong quá trình soạnbài? Đó là câu hỏi đặt ra cho chúng tôi khi tìm hiểu thực trạng của học sinh
Năng lực giải mã, kiến tạo nghĩa cũng như năng lực cảm thụ một tácphẩm của các em còn quá yếu, ngay cả các tác phẩm được học trong nhà trườngchứ chưa nói tới những tác phẩm văn chương ngoài sách giáo khoa Các emkhông có năng lực cũng như kĩ năng tìm hiểu, khám phá một tác phẩm Trongkhi đó, việc dạy và học bộ môn Ngữ Văn đang được đổi mới trong cách dạy,cách kiểm tra theo hướng phát triển năng lực của học sinh Kĩ năng cũng nhưnăng lực đọc – hiểu một văn bản văn chương hoàn toàn mới đang được đưa vàonhư một nội dung học và kiểm tra Thực tế, đứng trước một văn bản mới, họcsinh lại lúng túng, không biết cách làm nên dẫn đến tình trạng là phó mặc hoặcđợi chờ thầy cô Các em quên mất hay không biết rằng kiến tạo nghĩa cho mộttác phẩm không phải là thầy cô mà là chính các em
Về phía giáo viên còn có những lo ngại khi thời gian dạy trên lớp quá ít,chương trình gọi là đã giảm tải nhưng còn nặng, học sinh phần lớn lại chưa quenvới cách học này Mặt khác, thầy cô vẫn lo không truyền tải hết kiến thức nếugiao việc cho học sinh Trong khi theo phân phối chương trình số tiết khôngnhiều, khả năng tự giác của học sinh khi giao việc chưa cao Từ những lý do trêndẫn đến có thể nghi ngờ khả năng của học sinh và không mạnh dạn thay đổi
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đề xuất sử dụng NKĐS thay chophần chuẩn bị bài qua câu hỏi Hướng dẫn cuối mỗi tác phẩm NKĐS sẽ đượclinh hoạt sử dụng trong nhiều giai đoạn: từ khâu chuẩn bị bài mới ở nhà, tìmhiểu tác phẩm tại lớp cho đến kiểm tra bài cũ trên lớp Qua đó, từng bước hìnhthành năng lực đọc – hiểu cho học sinh khi đứng trước một tác phẩm vănchương
Trang 71.3 Giải pháp
2.3.1 Giải pháp để nâng cao năng lực đọc – hiểu văn bản tự sự lớp 12 cho học sinh thông qua hoạt động sử dụng Nhật ký đọc sách
2.3.1.1 Ra bài tập cho học sinh viết Nhật ký đọc sách
Giáo viên hướng dẫn học sinh viết nhật ký đọc sách dựa theo những mẫubài tập do Taffy E.Raphael và Elfrieda H.Hiebert (1996) giới thiệu trong cuốnCreating an Integrated Approach to Literacy Instruction Học sinh sẽ đọc vănbản tự sự ở nhà và ghi lại những gì đã đọc rồi mang đến lớp trao đổi, chia sẻ vớicác bạn trong lớp
Nhật ký đọc sách gồm 10 mẫu bài tập yêu cầu học sinh thực hiện trongquá trình đọc và học tác phẩm:
1 BT hình ảnh: Mỗi khi đọc tôi phải lưu giữ một hình ảnh trong đầu về
câu chuyện Tôi có thể vẽ nó ra trong NKĐS và chia sẻ với các bạn trong nhóm.Khi vẽ hình cần chú thích hình ảnh đó đến từ đâu? Điều gì làm tôi nghĩ ra nó và
vì sao tôi lại muốn vẽ về nó?
2 BT Quan điểm: Đôi khi đọc về một nhân vật, đôi khi tôi nghĩ tác giả
không xem xét quan điểm hay ý kiến nào đó Trong Nhật ký tôi có thể viết raquan điểm của nhân vật mà nhà văn không đề cập tới
3 Từ hay: Tìm những từ hay, đặc biệt, mới, ngộ nghĩnh, có khả năng
miêu tả cao mà tôi cảm nhận được khi đọc Sau đó, ghi lại số trang và cũng lýgiải vì sao tôi cho đó là hay Sau đó, chia sẻ với các bạn trong nhóm
4 Nghệ thuật và những thủ pháp đặc biệt của tác giả: Ghi lại những thủ
pháp ấy và lí giải giá trị của các thủ pháp mà tác giả đã sử dụng
5 Hồ sơ nhân vật: Nghĩ về một nhân vật yêu thích (hoặc không thích) Vẽ
sơ đồ thể hiện cách thức tôi nghĩ (hình dáng, hành động, cách cư xử hoặc nhữngđiều thú vị liên quan đến nhân vật…)
6 Điểm sách/ Phê bình: Khi đọc đôi lúc tôi tự nghĩ “Tuyệt vời”, có lúc lại
nghĩ: “Nếu là tác giả tôi sẽ viết khác hơn” Tôi sẽ ghi ra những điểm hay vànhững điểm cần khắc phục của tác giả Tôi trở thành nhà văn và viết tiếp câuchuyện
7 Bản thân và truyện: Đôi lúc đọc được về nhân vật hay sự kiện nào đó
khiến tôi nghĩ về cá nhân và cuộc sống quanh mình Tôi sẽ viết trong nhật ký và
kể lại cho các bạn về việc nhân vật hay sự kiện nào đó làm cho tôi suy nghĩ vềcuộc đời mình
8 Phân tích đặc sắc của truyện: Tôi sẽ ghi lại số trang để nhớ đâu là đoạn
đặc sắc Sau đó giải thích tại sao tôi cho rằng đó là đoạn thú vị, và chia sẻ vớimọi người
Trang 89 Trình tự sự kiện: Đôi khi trình tự các sự kiện cần tôi ghi nhớ Tôi vẽ các
sự kiện theo trình tự và theo cách hiểu của tôi
10 Giải thích: Khi đọc câu chuyện, tôi cố gắng nghĩ xem tác giả muốn
nói với tôi điều gì, nhắn gửi đến tôi thông điệp gì Tôi viết ra cách nghĩ củamình trong Nhật ký sau đó chia sẻ với các bạn trong nhóm
Các bài tập trong Nhật kí đọc sách có những đặc điểm khơi gợi năng lực tưởng tượng của người đọc; khuyến khích vai trò kiến tạo nghĩa ; khơi gợi kí ức, kinh nghiệm sống; phát triển tư duy phê phán; phát triển năng lực giải mã văn bản cho người đọc Các bài tập này là những gợi ý cho người đọc thực hiện các
họat động mà họ cần phải sử dụng khi đọc bất kì văn bản văn chương nào: tưởngtượng, giải mã, kiến tạo nghĩa… Đồng thời, khuyến khích người học sử dụngNKĐS để giao tiếp, chia sẻ
Với mỗi văn bản, người học sẽ được luân phiên thực hiện một bài tậpkhác nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS được lần lượt thử nghiệm các vai tròkhác nhau trong quá trình đọc tác phẩm
Khác với những câu hỏi mang tính định hướng trong phần Hướng dẫn họcbài, các bài tập trên thể hiện các hoạt động mà người đọc cần phải sử dụng đốivới bất kì một văn bản nghệ thuật nào Do đó, các bài tập này hướng tới rèn kĩnăng đọc văn bản cho học sinh dù là trong chương trình sách giáo khoa hayngoài sách giáo khoa đồng thời nâng cao năng lực đọc – hiểu một tác phẩm nghệthuật cho học sinh
NKĐS sử dụng cho học sinh trong cả 3 giai đoạn, trước khi học tácphẩm, trong khi học tác phẩm và sau khi học xong tác phẩm Giáo viên khuyếnkhích học sinh những cách làm, cách nghĩ mang tính sáng tạo Như vậy, một tácphẩm qua quá trình tiếp cận, khám phá học sinh có cơ hội bốn lần được lật lạicác vấn đề khi chuẩn bị Nhật kí đọc sách ở nhà, khi trao đổi qua thảo luận ở lớp,khi giáo viên phân tích, đúc kết nội dung các vấn đề trong bài học khi học bài
cũ ở nhà và kiểm tra trên lớp hoặc qua các tiết rèn kĩ năng Từ đó học sinh sẽ có
cơ hội nắm bắt tác phẩm sâu, kĩ, đa chiều
Chúng tôi đã thử nghiệm sử dụng NKĐS ở lớp 12A7 Trường THPT ChuVăn An Để các em hình dung và nắm được cách làm chúng tôi tiến hành giớithiệu NKĐS và việc sử dụng NKĐS cho học sinh Sau đó, trước mỗi tác phẩmchúng tôi đưa ra các loại bài tập phù hợp yêu cầu học sinh thực hiện Để việcviết NKĐS đạt hiệu quả chúng tôi tiến hành xây dựng hệ thống bài tập, trong đóchú trọng đến tính chất “mở” của các vấn đề, chú trọng đến khả năng nắm bắtvăn bản sao cho thuận lợi và nhanh nhất đối với học sinh Ngoài ra các bài tậpnày còn phải đáp ứng tiêu chí hướng vào phát triển năng lực của học sinh (năng
Trang 9lực giải mã, kiến tạo nghĩa, năng lực phê bình); hướng tới rèn luyện kĩ năng(nhất là kĩ năng tìm hiểu và tạo lập một văn bản)… Sau đó giáo viên tiến hànhphân nhóm, cho HS lựa chọn các loại bài tập Mỗi thành viên trong nhóm khôngđược chọn dạng bài tập trùng nhau để tránh việc trùng lặp không cần thiết, cáithì được tìm hiểu kĩ, cái lại không được tìm hiểu Hơn nữa, mỗi thành viên củanhóm phải trải nghiệm mình ở nhiều dạng bài tập khác nhau Giáo viên nhấnmạnh yêu cầu ở từng giai đoạn viết NKĐS như sau:
- Giai đoạn 1: Khi chuẩn bị bài mới, giáo viên yêu cầu HS không được sửdụng bất kì tài liệu tham khảo mà phải tự lập và độc lập làm bài Giai đoạn này,không tránh khỏi những khó khăn giáo viên cần động viên, khích lệ, hướng kĩcàng cho các em Bản thân học sinh đã đưa ra nhiều cách làm, cách hiểu khá thú
vị Với cách làm này, học sinh đã được tự do sáng tạo và làm theo cách củamình mà không bị áp đặt đến mức nhàm chán Giai đoạn này giáo viên cho họcsinh thời gian 2 ngày để đọc và viết nhật ký
- Giai đoạn 2: Khi các em đến lớp, giáo viên cho các nhóm ngồi lại vớinhau, thảo luận nhanh về sản phẩm mà mỗi thành viên của nhóm làm được vớinhau trong thời gian khoảng 5 – 7 phút (tùy từng tác phẩm) Sau đó, giữa cácnhóm trao đổi với nhau Vì thời gian mỗi tiết chỉ có 45 phút nên trong mỗi bàidạy, giáo viên chọn lọc mang tính định hướng các vấn đề cơ bản nhất căn cứ vàchuẩn kĩ năng – kiến thức để các em thảo luận Sau mỗi vấn đề giáo viên đưa ra,
HS các nhóm sẽ có cơ hội thảo luận, tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề, giáo viên
là người nhận xét, bổ sung, chốt ý cuối cùng Khi gặp những tác phẩm khơi gợiđược nhiều vấn đề và học sinh còn có khát vọng được trao đổi với nhau, trongkhi thời gian tiết học không cho phép, chúng tôi sẽ chuyển tiếp các vấn đề nàyvào tiết rèn kĩ năng
Trong giai đoạn 2, sau khi các em trao đổi với nhau về từng vấn đề, trêntinh thần định hướng của giáo viên, giáo viên sẽ chốt lại bài học qua các kiếnthức trọng tâm cần đạt Đồng thời tiếp tục khơi gợi năng lực của học sinh quamột số bài tập, câu hỏi mới để học sinh về nhà suy ngẫm và viết nhật ký sau khihọc xong tác phẩm
Trong phần dặn dò cuối tiết, giáo viên sẽ khuyến khích học sinh sáng tạotiếp bằng những câu hỏi dạng như: “Sau khi học xong tác phẩm theo em nhà vănmuốn gửi đến chúng ta thông điệp gì? Em nghĩ như thế nào về thông điệp ấy?”;
“Nếu được viết tiếp câu chuyện này em sẽ viết như thế nào? Hãy thử là nhà văn
và viết lại điều đó?”; “Câu chuyện gợi cho em suy nghĩ gì về cuộc sống xungquanh em?”…
Trang 10Trên tinh thần này, học sinh về nhà thay bằng việc ngồi đọc thuộc họcsinh sẽ viết vào nhật ký của mình những điều mình nghĩ sau khi học xong tácphẩm.
- Giai đoạn 3: NKĐS sẽ được sử dụng trong kiểm tra bài cũ Như đã nói ởtrên, thay bằng việc học sinh đọc thuộc ghi nhớ, hoặc giá trị nội dung của mộtvăn bản nào đó, các em sẽ trình bày lại những cảm nhận các em đã ghi chépđược Các em được tự do trình bày những gì mình viết Giáo viên sẽ nhận xét,chốt ý
Giai đoạn 3, không chỉ kích thích năng lực sáng taọ của học sinh mà còntập cho học sinh kĩ năng tạo lập một văn bản, kĩ năng giao tiếp, chia sẻ nhữngkinh nghiệm của mình trước đám đông Sau những lúng túng ban đầu các em sẽdần thấy hứng thú, thoải mái vì không bị gò vào khuôn khổ (ngoài việc đảm bảonội dung trọng tâm kiến thức môn học) Với HS có năng khiếu vẽ nếu trước đây,việc nhớ kiến thức là rất khó khăn nhưng qua bài tập hình ảnh và hồ sơ nhân vật,các em thấy văn học và nghệ thuật (hội họa) thật gần nhau…
Chúng tôi hướng dẫn sử dụng NKĐS qua hệ thống các bài tập phù hợpcho từng tác phẩm Sau một thời gian áp dụng, chúng tôi xin giới thiệu một sốkiểu loại mang tính chọn lọc, được nhiều học sinh viết thành công Và qua quátrình triển khai chúng tôi tập hợp thành các kiểu dạng bài tập (tập trung ở các tácphẩm tự sự và kịch) cho từng tác phẩm như sau:
BT Giải thích: Khi đọc câu chuyện, tôi cố gắng nghĩ xem tác giả muốn
nói với tôi điều gì, nhắn gửi đến tôi thông điệp gì Tôi viết ra cách nghĩ củamình trong Nhật ký sau đó chia sẻ với các bạn trong nhóm Các tác phẩm ápdụng cho dạng bài tập này:
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Số phận con người – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả - Hê-minh-uê
Khi viết tác phẩm, theo em tác giả muốn gửi đến chúng ta thông điệp/gửigắm đến chúng ta điều gì?
BT Trình tự sự kiện: Đôi khi trình tự các sự kiện cần tôi ghi nhớ Tôi vẽ
các sự kiện theo trình tự và theo cách hiểu của tôi Học sinh thâm nhập thế giớihình tượng trong tác phẩm, hình dung các mối quan hệ giữa các nhân vật bằngcách hoàn thành sơ đồ Các tác phẩm áp dụng cho dạng bài tập này:
- Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành
Trang 11- Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Thuốc – Lỗ Tấn
- Số phận con người – Sô – lô – khốp
BT Phân tích đặc sắc của truyện: Tôi sẽ ghi lại số trang để nhớ đâu là
đoạn đặc sắc Sau đó giải thích tại sao tôi cho rằng đó là đoạn thú vị, và chia sẻvới mọi người Có thể chọn ở bất kì tác phẩm nào
BT Bản thân và truyện: Đôi lúc đọc được về nhân vật hay sự kiện nào đó
khiến tôi nghĩ về cá nhân và cuộc sống quanh mình Tôi sẽ viết trong nhật ký và
kể lại cho các bạn về việc nhân vật hay sự kiện nào đó làm cho tôi suy nghĩ vềcuộc đời mình Các tác phẩm cho dạng BT này:
- Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Số phận con người – Sô – lô – khốp
BT Điểm sách/ Phê bình: Khi đọc đôi lúc tôi tự nghĩ “Tuyệt vời”, có lúc
lại nghĩ: “Nếu là tác giả tôi sẽ viết khác hơn” Tôi sẽ ghi ra những điểm hay vànhững điểm cần khắc phục của tác giả Tôi trở thành nhà văn và viết tiếp câuchuyện Học sinh sẽ trở thành nhà văn viết tiếp hoặc viết lại một số chi tiết trongcâu chuyện:
- Vợ nhặt: Hãy thay nhà văn Kim Lân viết lại cái kết của câu chuyện.
- Số phận con người: Viết tiếp câu chuyện của Xô – cô – lốp.
BT Hồ sơ nhân vật: Nghĩ về một nhân vật yêu thích (hoặc không thích).
Vẽ sơ đồ thể hiện cách thức tôi nghĩ (hình dáng, hành động, cách cư xử hoặcnhững điều thú vị liên quan đến nhân vật…)
Nhân vật Mị, A Sử (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài); Nhân vật cu Tràng, Thị,
Bà cụ Tứ (Vợ nhặt – Kim Lân); Tnú (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành); Việt, Chiến (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi); người đàn bà làng chài, người chồng vũ phu (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu); Xô – cô – lốp, Va – ni – a (Số phận con người – Sô – lô – khốp); ông lão Xan – ti – a – gô (Ông già và biển cả - Hê – minh - uê)
BT Nghệ thuật và những thủ pháp đặc biệt của tác giả: Ghi lại những thủ
pháp ấy và lí giải giá trị của các thủ pháp mà tác giả đã sử dụng Có thể chọn bất
kì tác phẩm nào, đặc biệt là tác phẩm xuất hiện nhiều hình ảnh mang ý nghĩabiểu tượng như:
- Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu
- Thuốc – Lỗ Tấn
BT Từ hay: Tìm những từ hay, đặc biệt, mới, ngộ nghĩnh, có khả năng
miêu tả cao mà tôi cảm nhận được khi đọc Sau đó, ghi lại số trang và cũng lý