1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

TỔNG QUAN về THUẾ

45 285 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Thuế
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán - Thuế
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 158,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng kể vào thời nhà Hồ, nhà Lê, ngoài việc quy định lại ngạch thuế, đặt thêm thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm.Đến

Trang 1

MỤC LỤC

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ

THỐNG THUẾ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

I.2. Việt Nam

I.2.1. Thời phong kiến đến nửa cuối thế kỉ IXX 2

1.2.3. Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1985 3

II. TỔNG QUAN VỀ THUẾ

III. LIÊN HỆ THỰC TẾ THUẾ VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ

GIỚI

III.2. Một số thông tin về thuế tại nước ngoài 21

IV. ĐỀ XUẤT

Trang 2

I Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế

Việt Nam và Thế giới

I.1. Thế giới.

Hệ thống thuế đầu tiên được biết đến là ở Ai Cập cổ đại khoảng năm 3000-2800 trước Công nguyên trong triều đại đầu tiên của Vương quốc Old Hình thức sớm nhất và phổ biến nhất của thuế là việc lao động khổ sai và thuế thập phân Lao động khổ sai là lao động cưỡng bức được cung cấp cho nhà nước bởi nông dân quá nghèo để trả các hình thức thuế (lao động trong

Ai Cập cổ đại là một từ đồng nghĩa với các loại thuế) Từ các tài liệu vào thời điểm đó các Pharaoh đã tiến hành một tour du lịch vương quốc hai năm một lần, thu thuế thập phân của người dân Theo hồ sơ ghi lại khác là biên lai vựa lúa trên mảnh đá vôi và giấy cói Loại thuế sớm nhất cũng được mô tả trong Kinh Thánh Trong cuốn “Chúa sáng tạo ra thế giới” (chương 47 , câu 24 - phiên bản quốc tế mới), nó nói "Nhưng khi vụ mùa đến, nộp một phần năm cho Pharaoh Bốn phần năm khác có thể giữ làm giống cho vụ khácvà làm thức ăn cho bản thân, gia đình và các con của bạn " Joseph đã dạy người dân

Ai Cập cách phân chia cây trồng của họ , cung cấp một phần cho các Pharaoh Một phần tương đương khoảng 20% lượng cây trồng là thuế.

Trong Đế chế Ba Tư , một hệ thống thuế được điều chỉnh đã được giới thiệu bởi Đại đế Darius I vào 500 năm trước Công nguyên ; hệ thống thuế Ba

Tư đã được điều chỉnh thành mỗi Satrapy (khu vực cai trị bởi một phó vương hay thống đốc tỉnh) Vào những thời điểm khác nhau , có từ 20 đến 30 Satrapy trong đế quốc và từng nơi được đánh giá theo năng suất giả định của

nó Đó là trách nhiệm của phó vương để thu thập số lượng đo và gửi nó cho hoàng đế, sau khi trừ chi phí của mình Lượng cầu từ các tỉnh khác nhau đã đưa ra một bức tranh sống động về tiềm năng kinh tế của họ Ví dụ, Babylon được đánh giá có số tiền cao nhất và lượnghàng hóa phongphú; nộp1.000 ta- lăngbạc và bốn tháng cung cấp thực phẩm cho quân đội Ấn Độ , một vùng nổi tiếng trong truyền thuyết về vàng,phải cung cấp bụi vàng tương đương với giá trị của một lượng lớn 4680 ta -lăng bạc Ai Cập được biết đến với sự giàu

có của các loại cây trồng Nó đã là vựa lúa của đế quốc Ba Tư (và sau đó là

Trang 3

của Đế chế La Mã) và được yêu cầu cung cấp 120.000 đơn vị đo lường ngũ cốc cộng thêm 700 ta-lăng bạc.Thuế này đã được độc quyền thu ở các Satrapy dựa trên đất đai của họ, năng lực sản xuất và mức độ cống nộp.

I.2. Việt Nam

Nước ta, dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thuế kỷ XI, đời vua Trần Thái Tông (1225 – 1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức quy củ và có hệthống

I.2.1. Thời phong kiến (từ thời nhà Trần) đến nửa cuối thế kỷ IXX

Vào thời nhà Trần, sử sách ghi nhận có 2 loại thuế chính được áp dụng: thuếthân và thuế điền

- Thuế thân: phụ thuộc vào diện tích ruộng Ai có một hai mẫu ruộng thì phải đóng một năm một quan tiền; ai có bốn mẫu, thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên thì đóng ba quan.Ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế.

- Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng 100 thăng thóc Còn ruộng công thì: đối với ruộng quốc khố: hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch (80 thăng), hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng

ba mỗi mẫu 3 thạch; đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch Với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế.Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền.

Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng kể vào thời nhà Hồ, nhà Lê, ngoài việc quy định lại ngạch thuế, đặt thêm thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm.Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trịnh ởmiền Bắc còn đặt ra thêm thuế tuần ty (đánh vào thuyền buôn), thuế muối, thuế thổ sản.Còn ởmiền Nam, ngoài thuế điền, thuế mỏ chúa Nguyễn đặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng (đánh vào các tàu buôn nước ngoài cập bến và rời khỏi cảng nước ta).Dưới thời nhà Nguyễn, bên cạnh việc quy định lại các loại thuế đinh, thuế điền, vua Gia Long còn đặt ra các loại thuế mới như thuế sản vật (đánh vào việc khai thác quế ở rừng), thuế yến (đánh vào việc khai thác yến sào), thuế hương liệu, thuế đánh vào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán, thuế mỏ,… Chế độ thuế có từ thời vua Gia Long tiếp tục được duy trì đến thời vua Tự Đức

và dấn sâu thêm bước đáng kể về tính chất phản động với việc có thêm loại thuế nha phiến đánh vào việc bán thuốc phiện.

Trang 4

Sử sách đã ghi nhận một số triều đại được coi là tiến bộ (Lý, Trần, Lê Sơ): Ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa có bản sắc dân tộc còn theo đuổi một số chính sách thuế hợp lòng dân, nêu được các mẫu mực về việc sử dụng chi tiêu công theo quan điểm phục vụ quốc kế dân sinh, ích nước lợi nhà

Tựu trung lại, hệ thống thuế trong các triều đại phong kiến ở nước ta có

đặc điểm chung là thiếu những chuẩn mực về đạo lý và pháp lý cần thiết,

đáp ứng về cơ bản và lâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân Việc thu thuế

và sử dụng công quỹ trong rất nhiều trường hợp lại do các bậc vuachúa

toàn quyền quyết định không phải dựa trên các suy nghĩ chín chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi rất thất thường của mình.

Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền rất gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình trạng “Phép vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các địa phương mà hậu quả tất yếu là đẻ ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu cho nhân dân trong hàng ngàn năm qua Kết cục bi thảm nhưng đầy logic đã xảy ra như là một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược: chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, để lại một đất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp

I.2.2. Thời Pháp thuộc

Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX không nằm ngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc địa Dưới thời Pháp thuộc, thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân Hệ thống ngân sách của nhà nước thuộc địa bao gồm:

- Ngân sách Đông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách đặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa

- Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên, Ai lao và Quảng Châu Văn (một vùng đất Trung Quốc dưới quyền ủy trị của Pháp trong 99 năm)

- Ngân sách các tỉnh và thành phố

- Ngân sách xã ỡ các làng

Trên thực tế, một hệ thống ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ

thống cực kỳ phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét Nhưng chính

nó đã tạo tiền đề quan trọng dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, chấm dứt ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp trong gần 100 năm.

Trang 5

I.2.3. Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1985

có chính sách thuế chính thức dưới chính quyền cách mạng

Sau khi dành được chính quyền, Chính phủ ta chủ trương một số biện pháp như: bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam (Nam trung bộ và Nam bộ).…

Sau năm 1946, khi đã ổn định được tình hình, nhà nước, một mặt, bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều lại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ“Tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ

“Công lương” năm 1950 và bắt đầu chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật (thóc gạo) như Quỹ “Công lương” và thuế điền thổ Mặt khác, Chính phủ cũng động viên nhân dân cho nhà nước vay dưới các hình thức công phiếu và công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ.

Đến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính nhà nước, chính phủ còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế– xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem Trong số các loại thuế này thì thuế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng.Tuy vậy, các loại thuế này vẫn chưa được cấu trúc thành một hệ thống hoàn chỉnh và cũng chưa có tác dụng đáng kể.

dưới chính quyền cách mạng

Đây là thời kỳ mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới.Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặt khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Genève, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại thuế mới trên cơ sở sửa đổi,

bổ sung các chế độ đã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, thuế công thương nghiệp được sửa đổi đáng kể: từ một hệthống thuế suất tương đối ít chuyển sang một hệ thống và nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau (cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố định) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể

và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau

Trang 6

Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhà nước đã áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng tuỳ theo giá cả nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất Năm 1962, nhà nước còn ban hành chế độtrích nộp

và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào Ngân sách Nhà nước (NSNN); phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các xí nghiệp công tư hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thời kỳ 1967 – 1975:thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc

Trong thời kỳ này, miền Bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ thống thu và thuế

cũ, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miền Nam thì có áp dụng một số các thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số sắc thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điều kiện cả nước thống nhất

Thời kỳ 1976– 1985: thời kỳ thống nhất đất nước – trước cải cách hệ thống chính sách thuế

Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống thu và thuế thống nhất, nhưng hệ thống thuế hiện hành ngày càng tỏ ra có nhiều nhược điểm, cản trở

sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thịtrường đang nảy sinh với các đặc điểm:

- Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Xí nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng với các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tế khác lại chịu sự tác động của thuế

- Thu quốc doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản Về thực chất, đây là một loại thuế đa thuế suất, lên tới hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu

1.2.4 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: thời kì đổi mới

Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế,

hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống

Trang 7

thuế mới được hình thành bao gồm hệthống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, bao gồm 9 sắc thuế: Thuế nông nghiệp; Thuế doanh thu; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế lợi tức; Thuế xuất, nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch); Thuế tài nguyên; Thuế thu nhập; Thuế nhà đất; Thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn NSNN) Ngoài ra còn một số phí

và lệ phí.Tuy có nhiều loại thuế nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ áp dụng phổ biến từ 2 đến 3 loại thuế.

Đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung trong khuôn khổ cuộc cải cách thuế bước 2 (bước 1 được tiến hành từ giữa những năm 80 đến năm 2000 như đã nêu trên), hệ thống pháp luật về thuếbao gồm:

1 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp

2 Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất

3 Luật thuế giá trị gia tăng

4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt

5 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

6 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

7 Pháp lệnh thuế tài nguyên

8 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

9 Pháp lệnh thuế nhà đất

10 Chế độ thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước

11 Các quy định về phí, lệ phí

Tuy nhiên, hệ thống thuế trên cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiều trong

số đó bắt nguồn bản thân quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ vĩ mô của nhà nước Việt Nam Cụ thể là:

1 Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác chậm đổi mới, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành

2 Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, hoặc làm cho thuế có các tác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế

Trang 8

3 Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với các chính sách đầu tư, thương mại… không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh doanh trởnên thiếu lành mạnh

4 Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính trung lập của thuế

5 Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác

độ từng sắc thuếthì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung

6 Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực

7 Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản,

rõ ràng.

II Tổng quan về thuế

Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật Sự ra đời của thuếgắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước.

Thuế đã có quá trình phát triển lâu đời Từ thời nhà nước chiếm hữu nô lệ

đã xuất hiện các khoản thu (đảm phụ) bằng hiện vật, các khoản này cộng với các nguồn thu từ việc cưỡng bức lao động, bóc lột, nô dịch và chinh phục các dân tộc khác đã tạo ra mâu thuẫn xã hội và chính sự đấu tranh chống lại mâu thuẫn đó làm cho xã hội ngày càng phát triển Cùng với sự phát triển của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, thuế cũng có những phát triển đáng kể so với ngày đầu hình thành: từ chỗmang hình thức hiện vật, thuế đã dần dần chuyển sang hình thức tiền tệ.

II.1. Các quan niệm về thuế

Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, song quan niệm về thuế và việc sử dụng công cụ thuế mỗi thời lại khác

theo đánh giá của rePEc) trong cuốn” kinh tế cộng đồng” cho rằng: “Cá nhân cung cấp trực tiếp các dịch vụ cho chủ thái ấp đây là thuế nhưng chưa được tiền lệ hóa”Theo Joseph thì thuế được hình thành từ rất lâu đời, bằng hình thức cung cấp dịch vụ cho người cai quản, đây là một

Trang 9

trong những hình thức đơn giản, đầu tiên của thuế và sau này được tiền

lệ hóa trở thành những nghĩa vụ nộp thuế bằng nhiều hình thức, nhưng cao nhất là bằng tiền

kinh tế của bộ máy nhà nước là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của dân dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước” Ang-ghen cũng đã viết: “để duy trì quyền lực công cộng, cần có sự đóng góp của nhân dân cho Nhà nước, đó là thuế má ” Do lúc này do nhà nước chỉ thu thuế để phục vụ nhu cầu của nhà nước, và là phương pháp hữu hiệu nhất

để tác động tới đời sống kinh tế xã hội mà chưa có sự quan tâm tới việc thực hiện phụ vụ đời sống nhân dân Do đó cả Mác và Ang-ghen đều chỉ đề cập tới vai trò đóng thuế của nhân dân như một sự bóc lột và coi đó là

“thủ đoạn đơn giản” của Nhà nước.

nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước trông qua con đường quyền lực nhằm bù đặt những chi phí của Nhà nước” Đây là khái niệm cổ nhất và nổi tiếng nhất

về thuế.Nhưng thuế không phân định thuế được bù đắp vào công việc gì

và trong nhiều trường hợp, thuế không chỉ để bù đáp chi tiêu mà còn dung để phát triển kinh tế, xã hôi Do đó sau này quan niệm này được thay đổi như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”

sau: “thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội

và thu nhập quốc dân nhằm hình thành lên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước( Quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

đóng góp bắt buộc cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Người đóng thế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại”.

dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước”.

Trang 10

- Ở khía cạnh nguyên cứu thuế với tư cách một nội dung điều chỉnh của luật pháp các chuyên gia về luật thuế đã nhận định:“ Thuế là một trật tự

đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách Thuế không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ.”

Ngoài ra ở VN có nhiều quan niệm khác nhau về thuế, tùy thuộc vào các lĩnh vực, góc độ nghiên cứu khác nhau.:

khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ các điều kiện nhất định”

“thuế là một hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng”

Tuy nhiên có thể thống nhất một khái niệm chung về thuế như sau:

“Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của Nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định Các khoản thu này không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế”.

Trang 11

- Mục tiêu chính của hệ thống chính sách thuế khóa là phải đảm bảo được công bằng và hợp lý giữa các tần lớp nhân dân giàu và nghèo.

- Mục tiêu thứ hai là hệ thống chính sách thuế phải tạo được nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước, chế độ thuế cần phải giản dị, dễ hiểu Phương thức quản trị sắc thuế đơn giản, ít tốn kém, ai cũng hiểu và được dễ dàng số thuế phải nộp.

- Mục tiêu thứ ba là hệ thống chính sách thuế phải ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu kinh tế, kiểm soát được chi tiêu xa xỉ như đánh thuế nặng một số hàng nhập khẩu để nâng đỡ hàng hóa nội, đánh thuế tiêu thụ nặng vào rượu, thuốc lá… để làm nản sự tiêu thụ hàng xa xỉ và có tính chất độc hại

Nói khác đi, thuế khóa và phát triển kinh tế có một sự lien hệ mật thiết: kinh tế phát triển đem them tài nguyên cho thuế khóa, ngược lại thuế khóa phải tạo điều kiện thuận lợi cho nên kinh tế phát triển.

II.3. Đặc điểm

Vì không ai tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho Nhà nước nữa, để Nhà nước tồn tại nguồn thu từ thuế phải thường xuyên và

ổn định Nếu tự nguyện nộp thì không thể thường xuyên và ổn định được Tính bắt buộc được thể hiện dưới 2 khía cạnh sau:

cơ quan thu thuế Cán bộ cơ quan thu thuế không được quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế… Khoản 1 Điều 8 Luật Quản lí Thuế quy định: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là “ Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện”.

nước khi có đủ điều kiện do pháp luật thuế quy định mà không phải quan hệ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.

thức là một đạo luật – là hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra Đây là một điểm giúp phân biệt thu thuế và các khoản phí, lệ phí Tuy cũng là những khoản thu có tính

Trang 12

chất bắt buộc nhưng phí và lệ phí được thực hiện dựa theo các văn bản dưới luật Có thể thấy, thuế và quyền lực Nhà nước là hai phạm trù không thể tách rời Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực Nhà nước Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế Vì vậy, chỉ gắn với yếu tố quyền lực Nhà nước, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước

Theo quy định của pháp luật, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế: nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính hoặc cưỡng chế hình sự (quy định tại Điều 161 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009).

Qua đó nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn định trong việc xác định nguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế.

tiếp.

Khác với khoản vay, phí và lệ phí, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng) Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.

Bởi vì kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất) Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nên thuế không có đối khoản cụ thể Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu chụ thể nào cả

mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.

áp dụng rộng hơn Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác biệt giữa các địa phương, vùng lãnh thổ Hầu như mọi đối tượng hàng hóa dịch vụ (được phép lưu thông hợp pháp), mọi tổ chức, cá nhân (có tư cách chủ thể)

đề chịu sự điều chỉnh của thuế Bởi vì thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc đối với tất cả các tổ chức, cá nhân khi có đủ những điều kiện nhất định.

Trang 13

Như vậy, từ việc nghiên cứu các đặc điểm trên của thuế, chúng ta có thể phần nào hiểu được bản chất của thuế, có thể phân biệt được thuế và các khoản thu khác có tính chất bắt buộc vào ngân sách như phí và lệ phí cũng như các khoản thu có tính chất tự nguyện Còn trên phương diện điều chỉnh pháp luật, việc nghiên cứu các đặc điểm này của thuế giúp cho các nhà làm luật lựa chọn sự điều chỉnh pháp luật một cách phù hợp đối với thuế, mặt khác giúp cho các đối tượng có lien quan thực hiện đầy đủ chức trách và nhiệm vụ của mình.

II.4. Chức năng của thuế.

Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện công dụng vốn

có của nó Ðối với một phạm trù kinh tế - xã hội thì chức năng phản ánh sự tácđộng của nó - là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn cócủa phạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của

nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng

Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn cócủa các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thứcvận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tàichính

Căn cứ vào nội dung cùng với qúa trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế,chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:

Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế.

Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chínhvào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chứcnăng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhânnảy sinh ra thuế.Thông qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhànước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thườngxuyên và tồn tại của Nhà nước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hànhtham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dântrong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huyđộng một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhànước Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và

sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau

Trang 14

đó laiỷ được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tínhcông bằng tương đối cho xã hội.Trong một chừng mực nhất định, chức năngphân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụngchức năng điều tiết của thuế.

Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiềunày được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước vàviệc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhànước vào các qúa trình kinh tế

Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế

Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối vớinền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc

độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhànước phải mở rộng qũy tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế.Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường cácchức năng của thuế để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tế quốc dân.Chính trong qúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năngđiều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực

Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dựliệu trước vào trong qúa trình huy động tập trung nguồn tài chính Bằng cách sửdụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làmyếu đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanhtoán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhànước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốcgia

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hìnhthức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượngnộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khảnăng của người nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh

tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn

xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tếthông qua thuế ngay càng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác độnglên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công

cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộccác chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựachọn đối với các chủ thể kinh doanh

Trang 15

Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến

sự vận động và phát triển của chức năng điểu tiết Nhưng chức năng điều tiếtcủa thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lạithu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền

đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúa trìnhsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sảnxuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lạitạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sởquan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phốilại

Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâuthuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chứcnăng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên.Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện cácchương trình kinh tế xã hội Mặc khác, việc tăng cường chức năng phân phối vàphân phối lại một cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làmgiảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò củachức năng điều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởngđến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêucực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹlưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật

về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội nhất định

II.5. Vai trò của thuế

Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và ngân sách nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập.

Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế Mỗi

một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.

Trang 16

Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tuỳ ý Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất.

Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ bản của thuế Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế.

Vai trò ổn định nền kinh tế vĩ mô

Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi Bốn mục tiêu đó là:

+ Đảm bảo thúc đấy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý.

+ Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.

+ Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.

+ Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực Cụ thể:

Trang 17

+ Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm:

Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng

mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồn hai

mặt: Kích thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách

linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu

nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế

thị trường.

Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng.

xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất.

có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.

Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và

tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định.

+ Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:

Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng

Trang 18

thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.

+ Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:

kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.

Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế.

Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách thuế khoá Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế Giá trị gia tăng

và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như các đối tượng sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh 2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường.

+ Điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội:

Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước,

để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh

Trang 19

tế cho mọi người Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế.

Với các sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập… theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa dịch vụ cao cấp, người có thu nhập cao nhằm điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao Đồng thời thuế đánh thấp vào những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng (Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt thuế suất 75% đối với rượu từ 40 độ trở lên, thuế suất 15% đối với rượu thuốc Bia chai, bia hộp, bia tươi thuế suất 75% trong khi bia hơi thuế suất là 30% …) Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định.

Mặt khác, những nhà doanh nghiệp cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế nếu thu nhập của họ bị chia xẻ một cách vô lý Đây là mâu thuẩn cơ bản trong nền kinh tế thị trường mà chính sách thuế của chính phủ phải giải quyết Thực ra, vẫn có một mối quan hệ phụ thuộc để tồn tại giữa nhà kinh doanh và người lao động Tức là, có một giới hạn phân phối lại

mà ở đó độ nhạy cảm về tăng trưởng bị hạn chế, các nhà kinh doanh sẳn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm sự tăng trưởng của họ Chính sách thuế phải xác định được khung giới hạn đó thông qua phản ứng của doanh nghiệp đối với thuế suất từng loại thuế và có sự điều chỉnh cho phù hợp.

III Liên hệ thực tế thuế Việt Nam và trên thế giới

III.1. Thuế Việt Nam

Nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân

Mọi nguồn thu từ thuế và lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởiTổng cục Thuế Việt Nam thông qua các cơ quan thu của nó là các cục thuế, chicục thuế, phòng thuế, đội thuế, bởi Tổng cục Hải quan Việt Nam thông qua các

cơ quan của nó là cục hải quan, chi cục hải quan, và các cán bộ chuyên mônđược ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong cả nước Đối với các phí và lệphí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quanđược ủy quyền thu

Trang 20

Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng nhất của nhànước Nộp thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của mội người dân và các tổ chức xãhội khác Hiện nay, các Nhà nước thông qua việc thuế để điều tiết một phần thunhập của người giàu, nhằm góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngàymột nới rộng Đối với Việt Nam, nguồn ngân sách NN được tài trợ chủ yếubằng thuế và lệ phí Tuy nhiên nguồn tài trợ này đang bị thất thoát đáng kểthông qua hoạt động trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp trong nước.Bên cạnh đó, trong quá trình mở cửa nền kinh tế, hội nhập càng sâu vào nềnkinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài thông qua các công ty đa quốc gia (TNCs) đến từ nhiềunước trên thế giới Thuế chiếm một tỉ trọng lớn, từ 60-70% tổng thu trongnguồn thu NSNN.

Hệ thống pháp luật thuế của Nhà nước ta hiện nay bao gồm các loại thuếchủ yếu như sau:

Thuế giá trị gia tăng hàng hóa

nhập khẩu

Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Thuế xuất-nhập khẩu Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số

45/2005/QH11Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa

nhập khẩu

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12

Thuế thu nhập doanh nghiệp của

các đơn vị hạch toán toàn ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số14/2008/QH12

Thuế giá trị gia tăng, không kể

thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập

khẩu

Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12

Thuế thu nhập doanh nghiệp,

không kể thuế thu nhập doanh

nghiệp của các đơn vị hạch toán

toàn ngành

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số14/2008/QH12, Luật thuế thu nhập cá nhân số04/2007/QH12

Thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12Thuế chuyển lợi nhuận ra nước

ngoài, không kể thuế chuyển lợi

nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực

dầu, khí

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số14/2008/QH12

Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng

hóa, dịch vụ trong nước

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12

Trang 21

Thuế nhà, đất Pháp lệnh số 34/L/CTN, Thông tư

71/1002/TT-BTCThuế tài nguyên, không kể thuế tài

nguyên thu từ dầu, khí

Nghị định số 05/2009/NĐ-CPNghị định số 75/2002/NĐ-CP

Thuế chuyển quyền sử dụng đất Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12Thuế sử dụng đất nông nghiệp Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nghị

196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn

vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2 Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3 Phạm tội trốn thuế với số tiền từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế.”

Quốc Hội ban hành luật quản lí thuế vào 29/11/2006 sửa đổi, bổ sung vào20/11/2012 nhằm quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộcngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định củapháp luật

Ngành Thuế triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2013 trong bối cảnhnền kinh tế gặp nhiều khó khăn và thách thức, bên cạnh đó, việc thực thi cácluật thuế mới và miễn, giảm, giãn thuế để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

đã làm giảm thu ngân sách và tăng số tiền nợ thuế Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo,chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt và linh hoạt của

Trang 22

Chính phủ, Bộ Tài chính, sự nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức của cácdoanh nghiệp và sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp cùng với sự nỗ lựcphấn đấu của toàn ngành, kết quả thu NSNN năm 2013 do ngành Thuế quản lýước đạt 676.696 tỷ đồng, bằng 105% so với dự toán Rất nhiều doanh nghiệpđóng góp khoản thuế lớn vào ngân sách nhà nước, điều này cho thấy mức độkinh doanh hiệu quả cũng như vai trò lớn của khối này trong việc đóng gópngân sách quốc gia.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nhiều vụ việc gian lận thuế, trốnthuế đã bị phát giác và xử lí theo quy định của pháp luật.Những phi vụ chuyểngiá hàng nghìn tỷ đã bị phanh phui Tập đoàn Keangnam Vina- chủ sở hữu tòanhà cao nhất Việt Nam hiện nay chuyển giá hơn 1220 tỷ đồng, số thuế bị truythu 95,2 tỷ đồng Hay như một liên doanh khác trong ngành dệt đến từMalaysia- Đài Loan cũng bị buộc phải nộp hơn 78 tỷ đồng với tổng giá trịchuyển giá gần 1.200 tỷ Danh sách đen 122 vị doanh nghiệp FDI chuyển giá, bịtruy thu hơn 214 tỷ đồng cũng đang dần đưa ra ánh sáng Cùng đó, hàng loạtnhững ông chủ hàng tiêu dùng nổi tiếng toàn cầu như Adidas, Metro, Cocacolacũng đang trong tầm ngắm xem xét việc chuyển giá Thế nên, một đợt thanh tra,kiểm tra của ngành thuế chỉ mới tính đến tháng 9/2013, đã cho ra kết quả, thuhồi hơn 9.600 tỷ đồng cho ngân sách

Ngày đăng: 15/04/2014, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w