Luận văn :Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá ở VN 1
Trang 1LờI Mở ĐầU
Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế là việc gia tăng sự phụ thuộclẫn nhau giữa các nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hoá thơng mại vàliên kết kinh tế đang là trào lu nổi bật thì hội nhập kinh tế quốc tế không nhữngngày càng trở thành một xu thế khách quan mà còn đóng vai trò là một công cụ hữuhiệu để phát triển nhanh và bền vững nếu đợc nắm bắt và vận dụng một cách tíchcực Xu hớng chung hiện nay của các quốc gia và các tổ chức kinh tế - tài chính -thơng mại quốc tế là tăng cờng mở cửa, bang giao kinh tế thông qua đàm phán cắtgiảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cản trở thơng mại, các hình thứccạnh tranh không lành mạnh trong thơng mại, mở cửa các lĩnh vực thơng mại hànghóa, thơng mại dịch vụ, cải thiện môi trờng đầu t - kinh doanh để tạo thuận lợi chothơng mại, v.v…
Cùng với việc thực hiện đờng lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tronghơn một thập kỷ qua Việt Nam đã đạt đợc thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩymạnh xuất khẩu hàng hóa Trong khi một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Namngày càng có uy tín trên thị trờng thế giới, đã xuất hiện một số trờng hợp hàng xuấtkhẩu của ta bị nớc nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá Tiếp saucác vụ điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với một số hàng xuất khẩucủa ta nh mỳ chính, bật lửa thì vụ kiện của Hiệp hội các nhà nuôi cá da trơn Hoa Kỳ
đối với xuất khẩu cá basa và cá tra của Việt Nam vào Hoa Kỳ là vụ tranh chấp lớn
mà chúng ta phải cố gắng giành thắng lợi Ngợc lại, không những kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản của chúng ta bị giảm sút mà cuộc sống của hàng vạn ngời nuôi cácủa chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Ngoài việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tự do hóa thơng mại cũng có thể dẫn
đến một số tác động bất lợi Trong bối cảnh đó, có thể thấy rằng không thể thiếu
đ-ợc vai trò của Nhà nớc trong việc đa ra các biện pháp chống lại việc bán phá giánhằm bảo vệ nền sản xuất trong nớc, tạo lập môi trờng pháp lý vững chắc cho hoạt
động thơng mại, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào đờisống kinh tế quốc tế Trớc tình hình trên, việc tìm hiểu và nghiên cứu về Pháp luậtchống bán phá giá ở Việt Nam trở thành một nhu cầu cấp bách và có ý nghĩa hơnbao giờ hết
Nhằm đáp ứng nhu cầu trên, luận văn nghiên cứu này đợc thực hiện với trọngtâm nghiên cứu tập trung vào những vấn đề sau:
Chơng I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về bán phá giá và pháp luật chống
bán phá giá
Chơng II: Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
Trang 2Chơng III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực thực thi pháp luật về
chống bán phá giá ở Việt Nam
Luận văn đợc trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vềNhà nớc và Pháp luật Đồng thời luận văn vận dụng những quan điểm của Đảng vàNhà nớc về đổi mới kinh tế trong giai đoạn hội nhập hiện nay Luận văn sử dụng kếthợp các phơng pháp nghiên cứu: phân tích, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hóa, khảosát thực tiễn và đặc biệt là phơng pháp so sánh luật học để thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể sau:
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống, tơng đối toàn diện những vấn đề
lý luận cơ bản về bán phá giá, chống bán phá giá, khái niệm và vai trò của pháp luậtchống bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá của một số nớc trên thế giới
- Xác định và luận giải nội dung cỏ bản của pháp luật chống bán phá giá ởViệt Nam
- Đánh giá đợc thực trạng thực thi pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
và nêu ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi lĩnh vực pháp luật này
-CHƯƠNG I MộT Số VấN Đề Lý LUậN CƠ BảN Về BáN PHá GIá Và
Từ trớc đến nay, ngời ta thờng hiểu một cách đơn giản, “bán phá giá” nghĩa
là bán dới giá thị trờng, tuy nhiên, đối với thực trạng quan hệ thơng mại quốc tếhiện nay, cách hiểu trên là không đúng
Trong tiếng Việt, bán phá giá đợc định nghĩa là việc bán ồ ạt hàng hóa vớigiá thấp hơn giá thị trờng, thậm chí chịu lỗ, để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm
đoạt thị trờng (theo Từ Điển Tiếng Việt trực tuyến, phiên bản ngày 18/3/2004 củatrung tâm Từ Điển học Việt Nam) Từ điển Kinh tế học hiện đại - Nhà xuất bản
Trang 3Prentice Hall xuất bản; sau đó Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Trờng Đại họcKinh tế Quốc dân Việt Nam dịch ra Tiếng Việt, ẩn hành năm 1999, có nêu: Bán phágiá: “Việc bán một hàng hoá ở nớc ngoài ở mức giá thấp hơn so với mức giá ở thịtrờng trong nớc” (trang 282) Định giá để bán phá giá: “Cách đẩy giá xuống tới mứckhông thề có lãi trong một thời kỳ để nhằm làm suy yếu hoặc loại trừ đối thủ cạnhtranh” (trang 808) Đại từ điển Trung Việt - do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoáViệt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo phát hành năm 1999 quy định: “Bán phá giá làbán với giá thấp hơn giá chung của thị trờng để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị tr-ờng” (trang 96)
Nh vậy, các cách hiểu về bán phá giá nh trên đều có đặc điểm chung là việcbán hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trờng Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thờngbán phá giá là bán dới giá thị trờng thì khái niệm không quan tâm đến mục đích củaviệc bán phá giá là gì, có nhằm mục đích cạnh tranh, chiếm đoạt thị trờng haykhông Vì vậy rất khó để xác định chính xác hành động đó có đợc coi là bán phágiá Bởi vì trong nền kinh tế thị trờng, cứ giá nào có ngời mua thì ngời ta có quyềnbán, hơn nữa có thể hàng hóa của họ là hàng hóa d thừa, tồn kho, bị kém chất lợng,mất mốt hoặc có nhu cầu quay vòng vốn nhanh nên cần phải bán dới giá thị trờng
để tiêu thụ đợc hàng hóa Tuy nhiên định nghĩa thuật ngữ bán phá giá của Từ điểntiếng Việt trực tuyến, Từ điển kinh tế học hiện đại hay Đại từ điển Trung Việtkhông chỉ quan tâm đến hiện tợng bán thấp hơn giá thị trờng mà còn chú trọng đếncả mục đích của hành động bán dới giá thị trờng là để tăng khả năng cạnh tranh vàchiếm đoạt thị trờng Nh vậy theo các cách định nghĩa này, bán phá giá thực chất làmột hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cần phải ngăn chặn và có biện pháp xử lý
để duy trì sự ổn định của thị trờng
Thuật ngữ bán phá giá trong tiếng Anh đợc dịch ra là: “Dumping” Thuật ngữnày có nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa thông thờng “dumping” có nghĩa là vứt
bỏ những thứ không thích (to get rit of something you do not want) Còn nghĩa đ ợcdùng trong thơng mại là “to get rit of goods by selling them at a very low price,often in another country”, có nghĩa là bán tống một hàng hóa ở mức giá rất thấp, th-ờng là bán ra nớc khác (Từ điển Oxford Ađvanced Genie – Xuất bản lần thứ 6 –NXB Oxford University Press 2000) Nh vậy theo nghĩa chuyên ngành thì
“dumping” đợc hiểu là bán phá giá và để xác định hành động bán phá giá ngời taquan tâm đến mức giá bán và có sự so sánh giữa thị trờng các nớc khác nhau
Theo từ điển Le Petit LaRousse illustré – Nhà xuất bản LaRousse VUEF
2002 – Pháp đa ra khái niệm “dumping commercial” là hiện tợng thơng mại khibán một hàng hóa ở thị trờng nớc ngoài với mức giá thấp hơn mức hiện tại của thịtrờng trong nớc (pratique commercial qui consiste à vendre une marchandise sur un
Trang 4marché étranger à un prix inférieur à celui pratiqué sur le marché intérieur) Vớikhái niệm này thì bán phá giá đợc hiểu là sự chênh lệch giá cả giữa thị trờng cácquốc gia khác nhau, cụ thể là nếu một mặt hàng nào đó đợc bán tại thị trờng trongnớc với giá cao hơn giá bán mặt hàng đó tại thị trờng nớc ngoài thì hành động đó bịcoi là bán phá giá.
Có thể thấy những cách hiểu thông thờng của các ngôn ngữ khác nhau vềthuật ngữ bán phá giá đều phản ánh không đầy đủ, nhng đã nói lên phần nào đặc tr-
ng của bán phá giá Đó là đặc trng bán hàng ở một mức giá rất thấp, với mục tiêunâng cao khả năng cạnh tranh va chiếm đoạt thị trờng mà thông thờng là ở thị trờngnớc ngoài
ở Mỹ, bán phá giá đợc hiểu là việc bán hàng tại thị trờng Mỹ với mức giáthấp hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trờng nội địa của nớc xuất khẩu và việcbán các mặt hàng đó gây ra thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nớc của
Mỹ Còn theo quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) thì việc bán phá giá liênquan đến bất cứ hàng hoá nhập khẩu nào với giá thấp hơn chi phí Quy chế chốngbán phá giá của EU năm 1996 cho phép áp dụng thuế chống phá giá dựa trên các
điều kiện: Thứ nhất, giá hàng hoá bán trên thị trờng EU thấp hơn giá trên thị trờngcủa nớc sản xuất; thứ hai, hàng hoá nhập khẩu đe dọa ngành sản xuất của EU nhchia sẻ thị phần, lợi nhuận, việc làm…Một định nghĩa khác: bán phá giá là tìnhtrạng mà ở đó doanh nghiệp nớc ngoài bán hàng hóa thấp hơn mức chi phí
Theo định nghĩa mở rộng của một số chuyên gia kinh tế Mỹ từ những năm
1980 và vẫn đợc thừa nhận đến ngay hôm nay, bán phá giá đợc hiểu là hành vi bánmột mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trờng, nhằmlàm ảnh hởng đến các mặt hàng tơng tự trên cùng thị trờng đó Hành vi này có thểdẫn đến một trong hai trờng hợp bất lợi sau đây đối với doanh nghiệp sản xuấtnhững mặt hàng tơng tự với mặt hàng đợc bán phá giá:
Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng tơng tự muốn cạnh
tranh và giữ đợc thị phần thì buộc phải hạ giá bán sản phẩm của mình xuống ngangbằng với mức giá của những hàng hóa đợc bán phá giá Tuy nhiên, làm nh vậy thì
Trang 5các nhà sản xuất sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, bởi vì, có thể nhà sản xuất sẽ phải bánhàng hoá của mình với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất ra mặt hàng đó
Thứ hai, nếu nhà sản xuất không chấp nhận giảm giá bán thì hàng hóa của họ
không thể tiêu thụ đợc trên thị trờng Nh vậy, hoạt động kinh doanh sẽ bị tê liệt vànhà sản xuất có nguy cơ rơi vào tình trạng phá sản
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tợng bán phá giá trong thơng mại quốc tế.Nhiều trờng hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt đợc những lợi ích nhất định nh: Bánphá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trờng nớc NK từ đó chiếm thế độcquyền; Bán giá thấp tại thị trờng nớc NK để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp đểthu ngoại tệ mạnh Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, XKkhông bán đợc hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lu kho lâu ngày có thể bịhỏng nên đành bán tháo để thu hồi vốn Nhng tựu chung lại có thể hiểu bán phágiá xảy ra do phân biệt giá quốc tế Mà phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trờng bịphân biệt giá là thị trờng của các nớc khác nhau Song giá xuất khẩu thờng cao hơngiá của thị trờng nội địa do nhà xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu
nh vận chuyển, bảo hiểm… Do đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giáquốc tế, tức là giá bán trong nớc khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi là bánphá giá nếu giá xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở trong thịtrờng nội địa Nh vậy bán phá giá đợc hiểu là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế,trong đó giá của một hàng hóa khi đợc bán tại thị trờng của nớc nhập khẩu với giáthấp hơn giá của hàng hóa đó đợc bán tại thị trờng của nớc xuất khẩu
Điều VI, khoản 1 của Hiệp định chung về thơng mại và thuế quan (GATT)coi bán phá giá là việc “sản phẩm của một nớc đợc đa vào kinh doanh trên thị trờngcủa một nớc khác với giá thấp hơn giá trị thông thờng của sản phẩm” Cụ thể hơn,
điều II, khoản 1 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO định nghĩa: “Một sảnphẩm bị coi là bán phá giá nếu nh giá xuất khẩu của sản phẩm đợc xuất khẩu từ mộtnớc này sang một nớc khác thấp hơn mức giá có thể so sánh đợc của sản phẩm tơng
tự đợc tiêu dùng tại nớc xuất khẩu theo các điều kiện thơng mại thông thờng”
Định nghĩa này không nói gì về bán hàng hóa dới chi phí, một yếu tố vốn đợcxem là nội hàm của việc bán phá giá ở đây, những chuyên gia kinh tế chỉ muốn nóitới hình thức phân biệt giá cả, khi một doanh nghiệp bán cùng một sản phẩm trongnhững thị trờng khác nhau với những mức giá khác nhau Nh vậy, theo quy định củaluật thơng mại quốc tế, yếu tố then chốt để xác định hành vi bán phá giá là sự sosánh biên độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thờng của sản phẩm tại n-
ớc xuất khẩu Việc so sánh phải đợc tiến hành đối với sản phẩm cùng loại hoặc đốivới sản phẩm tơng tự (like product trong tiếng Anh hay produit similaire trong tiếngPháp) Theo điều II, khoản 6 của Hiệp định chống bán giá, “sản phẩm tơng tự”
Trang 6trong trờng hợp bán phá giá đợc hiểu theo nghĩa rất hẹp là sản phẩm phải giống hệt,tức là có tất cả các yếu tố tơng đồng với sản phẩm đang đợc xem xét, hoặc nếukhông có sản phẩm nào nh vậy thì phải sử dụng sản phẩm có những đặc tính rấtgiống (closely resembling trong tiếng Anh và ressemblant étroitement trong tiếngPháp) với sản phẩm đang đợc xem xét.
Nh vậy ở đây có sự so sánh về giá ở hai thị trờng khác nhau: thị trờng nớcnhập khẩu và thị trờng nớc xuất khẩu, cho dù giá bán ở thị trờng tiêu thụ, tức là ở n-
ớc nhập khẩu, có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trờng hợp giá báncao hơn giá của hàng hóa tơng tự hiện đang đợc bán tại thị trờng nớc nhập khẩu.Nhìn chung các tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tợng “bán phá giá” xảy ra khihàng hóa xuất khẩu đợc bán sang một nớc khác với giá thấp hơn giá bán tại thị tr-ờng nội địa (của nớc xuất khẩu)
Nói một cách đơn giản, trong thơng mại quốc tế khi so sánh giữa giá xuấtkhẩu với giá bán tại nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bánphá giá Tuy nhiên, việc xác định mức giá bị coi là “phá giá” rất phức tạp, vì nó liênquan đến hàng loạt vấn đề nh xác định chi phí sản xuất, xác định mức độ thiệt hại
điển, với những quy định của GAT, WTO Nó đã vận dụng và diều chỉnh một cáchtơng đối hợp lý vẫn đề chống bán phá giá trong quan hệ thơng mại quốc tế vào quan
hệ thơng mại nội địa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
b Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá.
Khái niệm về bán phá giá ngày càng đợc phát triển hoàn chỉnh hơn nh đã tìmhiểu ở trên Tuy nhiên điều có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khi nào thìhành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó
là bình thờng về mặt kinh tế, đó là nghiên cứu về cơ sở kinh tế của việc bán phá giá(hay bản chất của việc bán phá giá) Điều này cũng sẽ giúp ích trong việc phân tích
ai là ngời có lợi, ai là ngời bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi đó
* Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế
Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trờng bị phân biệt giá là thị trờng của cácnớc khác nhau Song giá xuất khẩu thờng cao hơn giá của thị trờng nội địa do nhà
Trang 7xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu nh vận chuyển, bảo hiểm… Do
đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá quốc tế, tức là giá bán trong
n-ớc khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu sảnphẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở trong thị trờng nội địa
Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế, bán phá giá cũng là một hiện tợng thông ờng Một công ty đợc hởng lợi thế độc quyền trên thị trờng nội địa do đợc bảo hộbởi các rào cản thơng mại tự nhiên và phi tự nhiên có thể bán sản phẩm trong nớcvới mức giá khá cao Nếu chi phí xuất khẩu hàng hóa tơng đối thấp, mức giá xuấtkhẩu do công ty đặt ra có thể sẽ thấp hơn nhiều so với giá bán ở thị trờng trong nớc.Trong trờng hợp này, công ty sẽ dễ bị coi là bán phá giá
th-Bản chất hành vi bán phá giá kể trên không phải là do công ty đặt giá thấp ởthị trờng xuất khẩu mà do công ty đã bán giá cao ở thị trờng trong nớc Chính sứcmạnh độc quyền ở thị trờng trong nớc đã làm giảm lợi ích của toàn xã hội Nguyêntắc này vẫn đúng trong trờng hợp công ty có sức mạnh độc quyền ở cả hai thị trờng.Khi đó, công ty sẽ đặt giá thấp hơn ở thị trờng có sức mạnh độc quyền yếu hơn
Do đó, nếu bán phá giá xảy ra dới hình thức phân biệt giá thì biện phápchống bán phá giá sẽ không mang lại lợi ích kinh tế gì vì ta cần chống lại sự địnhgiá cao tại thị trờng nội địa chứ không phải loại bỏ mức giá thấp ở thị trờng xuấtkhẩu
Tuy nhiên, trong trờng hợp này có một số quan điểm ủng hộ việc áp dụng cácbiện pháp chống bán phá giá
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc bán phá giá sẽ làm giảm giá hàng hóa tơng
tự tại thị trờng nớc nhập khẩu Điều này làm giảm lợi nhuận và lơng của các chủcông ty và ngời lao động sản xuất mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu và đedọa lợi ích tiềm năng trong tơng lai của họ hoặc làm ảnh hởng đến mức sống củanhững đối tợng này
Tuy nhiên, giá bán của hàng nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản phẩm nội
địa rõ ràng đã đem lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn so với những thiệt hại màcác nhà sản xuất sản phẩm cạnh tranh phải gánh chịu
Trong trờng hợp này, nếu muốn, chính phủ một nớc có thể đánh thuế để phânphối lại thu nhập nhằm bù đắp thiệt hại cho ngành sản xuất trong nớc, hay thậm chí
sử dụng biện pháp tự vệ áp dụng thuế chống bán phá giá trong trờng hợp này khôngphải là giải pháp tối u
Quan điểm thứ hai cho rằng áp dụng thuế chống bán phá giá là biện phápnhằm gây sức ép làm tăng tính cạnh tranh tại thị trờng nớc xuất khẩu bằng cách xoá
bỏ các rào cản thơng mại - công cụ tạo thế độc quyền cho nhà xuất khẩu Hàng rào
Trang 8thơng mại ở đây đợc hiểu là thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, v.v chứ khôngphải những rào cản tự nhiên nh chi phí vận tải
Nếu xét nền kinh tế thế giới nh một tổng thể thì việc dỡ bỏ các rào cản thơngmại trên cũng mang một ý nghĩa tích cực Tuy nhiên, đây liệu có phải là điều mànhững nớc nhập khẩu mong đợi không bởi vì biện pháp chống bán phá giá trong tr-ờng hợp này chỉ góp phần tăng cạnh tranh tại thị trờng nớc xuất khẩu
Quan điểm thứ ba cho rằng việc bán phá giá có thể gây lãng phí nguồn lực tạinớc nhập khẩu do nớc này cố gắng điều chỉnh để đạt đợc mức giá thấp hơn Tuynhiên, lập luận này chỉ đúng khi hàng nhập khẩu bị bán phá giá trong thời gianngắn Nếu việc bán phá giá mang tính lâu dài thì những điều chỉnh về nguồn lực tạinớc nhập khẩu là hoàn toàn hợp lý và không hề lãng phí
Ngay cả khi việc bán phá giá có tính chất tạm thời, việc áp dụng thuế chốngbán phá giá cũng không phải là giải pháp tối u trong một số trờng hợp Giả sử nhmột công ty đang đặt giá tơng đối ổn định ở thị trờng trong nớc do thị trờng nàykhông chịu tác động nhiều của giá thế giới Nhng trên thị trờng thế giới, công ty lại
điều chỉnh giá sản phẩm theo giá thị trờng Do đó, khi giá thị trờng thế giới xuốngthấp, nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng bị coi là bán phá giá Nếu ta áp dụng biện phápchống bán phá giá nhằm tránh các chi phí điều chỉnh việc gia nhập và rút khỏingành của các nhà sản xuất sản phẩm tơng tự tại nớc nhập khẩu thì chính sách nàychỉ có thể gạt nhà xuất khẩu ra khỏi thị trờng nớc nhập khẩu chứ không hề làm tănggiá thế giới Hơn nữa, để thực hiện mục tiêu làm giảm các chi phí điều chỉnh khôngcần thiết do thơng mại gây ra, nớc nhập khẩu hoàn toàn có thể sử dụng một số biệnpháp đối phó tạm thời khác ví dụ nh biện pháp tự vệ
Tóm lại việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá nh một công cụ để tránhcác thiệt hại tạm thời do hàng nhập khẩu gây ra không phải là biện pháp tối u ngaycả khi hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá
* Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Càng ngày càng có nhiều ngời ủng hộ quan điểm cho rằng bán phá giá baogồm cả tình huống giá xuất khẩu hàng hoá thấp hơn chi phí sản xuất
Những ngời ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thờng lập luậnrằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là một hình thứcphân biệt giá Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc bán hàng dới chi phínếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần hàng bán trên chi phí trongthị trờng khác, tức là công ty đó đang thực hiện biện pháp phân biệt giá
Tuy nhiên, lập luận trên cha giải thích đợc tại sao giá xuất khẩu dới chi phísản xuất lại bị coi là bán phá giá Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế của hành vinày, ta sẽ xem xét khái niệm “chi phí” bằng cách phân biệt “chi phí trung bình” và
Trang 9“chi phí biên” Chi phí trung bình là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm đầu ra.Chi phí biên là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đầu ra
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phísản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lợng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chiphí sản xuất là thay đổi khi lợng sản xuất thay đổi Chính chi phí biên là yếu tốquyết định trong việc định giá của một công ty trong ngắn hạn khi phải chịu chi phínhất định để thâm nhập thị trờng Điều này giải thích tại sao một công ty vẫn chấpnhận bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí trung bình dù biết rằng đang bị lỗ Thậtvậy, có trờng hợp nếu công ty không tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗnhiều hơn do vẫn chịu chi phí cố định
Trớc hết chúng ta hãy xem xét kỹ hơn tình huống giá xuất khẩu thấp hơn chiphí trung bình Sau đó chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu trờng hợp giá xuất khẩu thấphơn chi phí biên
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình
Trong ngắn hạn, khi thị trờng suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh tranhhoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn chi phítrung bình Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù đắp chi phí cố định Nhàsản xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy giảm tạm thời, thị trờng sẽ hồiphục và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn giản là nhà sản xuất đang cố gắng bánhàng nhằm giảm thiểu thua lỗ trớc khi rút khỏi thị trờng
Trong thời gian ngắn công ty có thể chịu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu nhập đủ để
bù đắp chi phí biến đổi Khi cả nhà sản xuất trong nớc và nhà xuất khẩu đều bánphá giá dới chi phí trung bình do suy thoái của thị trờng thì việc đánh thuế chốngbán phá giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý Trong trờng hợp này, biện phápchống bán phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động bất lợi
đối với công ty trong nớc khi thị trờng suy thoái
Cơ cấu chi phí sản xuất của công ty sẽ quyết định điểm hòa vốn và điểm
đóng cửa Công ty nào có chi phí cố định lớn hơn sẽ chấp nhận bán ở mức giá thấphơn nhằm cố gắng bù đắp chi phí cố định đã bỏ ra Do đó, nhà xuất khẩu có thể bán
ở mức giá mà các công ty trong nớc đã đóng cửa, chỉ để bù đắp chi phí cố định đã
Trang 10nhân nên các công ty này có thể sẽ tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ ở mứcgiá mà công ty Mỹ cho là quá thấp để duy trì hoạt động.
Nếu việc bán phá giá là do sự khác biệt về cơ cấu chi phí gây ra thì nớc nhậpkhẩu có thể điều chỉnh bằng các chính sách nh đánh thuế sa thải công nhân hay trợcấp duy trì việc làm để làm thay đổi về cơ cấu chi phí của công ty trong nớc Cácchính sách này sẽ điều tiết hành vi của nhà sản xuất trong nớc và góp phần làmgiảm gánh nặng thuế khoá cho ngời tiêu dùng do không phải chịu thuế chống bánphá giá
Tóm lại, đối với hành vi bán phá giá dới chi phí trung bình, việc áp dụng thuếchống bán phá giá có thể không phải là phơng án tối u nhất
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí biên
Nh trên đã phân tích, một công ty có thể bán hàng với giá thấp hơn chi phítrung bình chỉ cần mức giá này cao hơn chi phí biên Tuy nhiên trên thực tế vẫn cónhững công ty bán hàng dới chi phí biên Nguyên nhân của hành vi này có thể docác công ty đánh giá sai chi phí biên, hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận để đạt đợcmột số mục tiêu khác nh tối đa hoá doanh thu, độc chiếm thị trờng, tăng thị phầnhay tiếp thị hàng hóa
có thể điều chỉnh sau một thời gian dài, khi công ty có thể cải biến toàn bộ yếu tố
đầu vào của nó, kể cả quy mô các nhà máy
Do tính cứng nhắc trong ngắn hạn, một khi công ty đã ấn định sản lợng sảnxuất, có nghĩa là không thay đổi đợc toàn bộ các chi phí cố định thì việc điều chỉnhchi phí biên ớc tính ban đầu là hầu nh không thể xảy ra Ví dụ nh với một hãnghàng không đang duy trì một chuyến bay thờng lệ nhng còn một số vé cha bán đợc.Khi đó, chi phí biên tăng lên cho mỗi hành khách tiếp theo có thể rất thấp, chẳnghạn bằng chi phí một suất ăn trên máy bay Chi phí biên trong trờng hợp này gần
nh bằng không Hay nh một công ty sản xuất đồ gốm sứ xuất khẩu Công ty đã đầu
t máy móc, lò nung cho việc sản xuất 5 vạn chiếc đĩa Nếu trên thực tế, công ty mới
Trang 11chỉ có đơn đặt hàng yêu cầu giao ngay 4,5 vạn chiếc đĩa thì chi phí biên tăng thêmcho mỗi chiếc đĩa sản xuất tiếp theo là không đáng kể (chỉ tơng ứng với một lợngnhỏ chi phí đất sét và lao động) vì với công suất lò nung đã định trớc, công ty vẫnphải mất một lợng chi phí cố định đã đầu t vào lò nung, chi phí cho nguyên liệu để
đốt lò… Do đó, trong ngắn hạn, hãng hàng không hay công ty sản xuất đồ gốm sứnày có thể bán vé hoặc xuất khẩu số đĩa cha bán đợc ở bất cứ mức giá nào cũng đợccoi là có lợi vì mức giá nào trong trờng hợp này cũng lớn hơn chi phí biên
Tóm lại, áp dụng thuế chống bán phá giá trong trờng hợp công ty xác địnhsai mức giá trên thị trờng và chi phí biên là không hợp lý vì việc xác định sai mứcgiá này chỉ phản ánh hiện tợng kinh tế đơn thuần là chi phí biên trong ngắn hạn cóthể cao hơn rất nhiều so với chi phí trung bình trong dài hạn
Tối đa hoá doanh thu
ở những công ty lớn, chủ công ty thờng thuê ban giám đốc điều hành Trongmột thời gian nào đó, ban giám đốc có thể quan tâm đến mục tiêu tối đa hoá doanhthu để nhằm khuyếch trơng hay đợc khen thởng mà xa rời mục tiêu tối đa hóa lợinhuận của công ty
Nh ta đã phân tích, để tối đa hóa lợi nhuận, công ty chỉ mở rộng sản xuất đếnmức giá bằng chi phí biên Do đó, việc công ty cố gắng tối đa hóa sản lợng sẽ đẩychi phí biên lên cao hơn giá bán
Nếu tình huống này xảy ra trong thị trờng nội địa, chính phủ sẽ không canthiệp vì đây là vấn đề của bản thân công ty Tuy rằng hành vi này có thể gây thiệthại cho những ngời sản xuất sản phẩm cạnh tranh trên thị trờng, nhng xét về tổngthể toàn xã hội sẽ đợc lợi do ngời tiêu dùng sẽ đợc lợi nhiều hơn từ việc tối đa hoádoanh thu này
Trên thị trờng quốc tế, hành vi này bị coi là bán phá giá và phải chịu thuếchống bán phá giá Tuy nhiên, về phơng diện kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận là mụctiêu sống còn của công ty nên công ty sẽ rất khó duy trì đợc hành vi này trong dàihạn Ban giám đốc cũ có thể bị thay thế Vì vậy, với nớc nhập khẩu, biện pháp ứngphó tốt nhất trong trờng hợp này là tận dụng số hàng nhập khẩu rẻ này
Thôn tính để độc chiếm thị trờng
Một số công ty bán phá giá để cố gắng tối đa hoá doanh số nhằm thôn tính,
độc chiếm thị trờng Sau một thời gian dài chịu lỗ, công ty sẽ loại đợc các đối thủcạnh tranh khác ra khỏi thị trờng Sau khi đạt đợc điều này, công ty sẽ tăng giá lêncao nhằm thu lợi nhuận độc quyền Có thể thấy rằng, trong trờng hợp này công ty
đã hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để tối đa hóa lợi nhuận dài hạn
Trang 12Hành vi độc quyền của công ty rõ ràng sẽ gây thiệt hại lớn cho nớc nhậpkhẩu Do đó, các nớc nhập khẩu thờng tỏ ra khá kiên quyết trong việc đối phó vớihành vi bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trờng này.
Tuy nhiên, áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bị bánphá giá kiểu này không phải là giải pháp tối u
Thứ nhất, việc bán phá giá để chiếm lĩnh thị trờng là rất khó khăn vì ngoài
việc đẩy các công ty cạnh tranh khác ra khỏi thị trờng, công ty còn phải tìm cáchngăn cản sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bị đẩy lên cao
Thứ hai, trên phạm vi quốc tế, hiếm khi xảy ra hiện tợng một công ty có thể
độc quyền trên toàn bộ thị trờng Việc kiểm soát giá trên thị trờng sẽ do một sốcông ty lớn nắm giữ Do đó, ngay cả khi nhà xuất khẩu thành công trong việc loại
bỏ tất cả các công ty nội địa thì họ vẫn phải dàn xếp với các công ty quốc tế khác đểthống nhất về việc định giá
Thứ ba, nớc nhập khẩu có thể triệt tiêu sức mạnh độc quyền của công ty bằng
cách đánh thuế đối với lợi nhuận độc quyền sau khi công ty đã tăng giá chứ khôngcần phải đánh thuế chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu Nếu không làm nhvậy, nớc nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lợng hàng nhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bịthôn tính thị trờng
Cạnh tranh để giành thị phần
Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên nhằm mụctiêu chiếm đợc thị phần cao hơn trên thị trờng nhập khẩu Tuy nhiên, khác với trờnghợp trên, công ty không có ý định thôn tính toàn bộ thị trờng mà chỉ cố gắng tăngthị phần của mình
Theo lý thuyết, trong thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, một công tykhông thể bán đợc nhiều sản phẩm mà nó mong muốn tại mức giá thị trờng Doanh
số bán ra của công ty phụ thuộc vào giá của sản phẩm
Trên thực tế, bên cạnh yếu tố giá còn có rất nhiều yếu tố chi phối doanh thucủa một công ty Một trong số đó là hoạt động tiếp thị gồm quảng cáo, thiết kế sảnphẩm, bao gói, bán hàng Khi bán hàng dới mức chi phí biên để cố gắng giới thiệusản phẩm của mình, công ty đã tin tởng rằng thị phần tăng lên ở hiện tại sẽ làmgiảm chi phí sản xuất hoặc tăng giá trong tơng lai và do đó, chi phí bỏ ra ngày hômnay để tiến hành hoạt động tiếp thị sẽ đợc hoàn lại bằng lợi nhuận trong tơng lai
Theo định nghĩa, khi giá xuất khẩu nhỏ hơn chi phí biên, công ty đã bán phágiá hàng hóa Nhng câu hỏi đặt ra là liệu hành vi này có thực sự gây hại cho xã hộikhông
Trớc hết, đây là hành vi thờng gặp của nhiều công ty bởi vì sản phẩm nhậpkhẩu mới không dễ gì đợc chấp nhận ngay mà phải đợc công nhận dần thông qua
Trang 13quá trình dùng thử Do đó, nhà xuất khẩu phải hạ giá thấp hơn chi phí biên nhằmkhuyến khích khách hàng dùng thử với tin tởng rằng sau đó họ có thể tăng giá lênkhi ngời tiêu dùng đã chấp nhận sản phẩm Điều này rất hữu ích với ngời tiêu dùngvì họ sẽ có cơ hội dùng một loại sản phẩm tốt hơn Kể cả khi công ty tăng giá saunày cho đúng với giá trị của sản phẩm thì điều này cũng là hiện tợng bình thờng
Trong trờng hợp này, hàng nhập khẩu bị bán phá giá sẽ chiếm chỗ một số sảnphẩm trong nớc Nhng đây cũng chỉ là một quy luật kinh tế thông thờng vì trongcác thị trờng cạnh tranh khốc liệt, sản phẩm và quá trình xử lý mới sẽ thay thế sảnphẩm cũ
Thứ hai, thông qua quá trình tiếp thị này, công ty cũng có thể hiểu rõ hơn vềsản phẩm của mình nhằm có những sửa đổi, cải tiến hợp lý Điều này đặc biệt đúngtrong các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao Chi phí sẽ có xu hớng giảmxuống khi công ty có nhiều kinh nghiệm hơn vì bốn lý do Một là, năng suất lao
động sẽ tăng lên khi công nhân thạo việc hơn Hai là, qua thời gian, ngời quản lýbiết hoạch định kế hoạch thời gian hữu hiệu hơn cho quá trình sản xuất Ba là, các
kỹ s đã có đủ kinh nghiệm để xử lý các thiết kế Bốn là, những ngời cung ứng vật t
có thể học đợc cách chế biến hữu hiệu hơn những nguyên liệu mà công ty yêu cầu
và do đó, chuyển một phần lợi ích cho công ty dới hình thức giá vật t rẻ hơn
Bằng cách học hỏi thông qua thực tế, công ty sẽ thu đợc lợi nhuận do doanh
số tăng thêm trong tơng lai nên ở hiện tại nó sẵn lòng bán sản phẩm với giá thấphơn chi phí biên Trong ngắn hạn, ngời tiêu dùng ở nớc nhập khẩu sẽ đợc lợi domua đợc hàng ở mức giá thấp Trong dài hạn, khả năng này vẫn có thể diễn ra vì giá
sẽ tiếp tục thấp do chi phí sản xuất giảm bởi công ty có nhiều kinh nghiệm hơn.Thông qua quá trình “vừa học, vừa làm” này, rõ ràng ngời tiêu dùng đã đợc lợi do
nỗ lực của nhà xuất khẩu
Vấn đề đặt ra ở đây là phản ứng của nhà sản xuất trong nớc đối với tìnhhuống này Các công ty trong nớc cũng đợc hởng lợi từ hành vi này của các nhàxuất khẩu thông qua việc học hỏi nh các đối thủ của mình và do đó, giúp các công
ty này cạnh tranh tốt hơn Nếu không, họ sẽ bị các công ty nớc ngoài bỏ xa Trongtrờng hợp các công ty trong nớc không thể hoàn thiện để thích ứng với quá trình
điều chỉnh học hỏi này, sự rút lui của các công ty đó sẽ mang lại lợi ích cho cả n ớcnhập khẩu và nền kinh tế thế giới nói chung
Tóm lại, trong nhiều trờng hợp các công ty nớc ngoài có thể xuất khẩu hàngcủa mình sang thị trờng nớc khác với giá thấp hơn giá nội địa và thậm chí thấp hơncả chi phí sản xuất, nhng không phải mọi trờng hợp đều có thể gán cho cái mác
“bán phá giá” để áp dụng biện pháp ngăn cản Trong nhiều trờng hợp, làm nh vậy sẽ
Trang 14tạo ra sự bảo hộ không cần thiết cho ngành sản xuất trong nớc, làm giảm lợi ích củangời tiêu dùng cũng nh của toàn xã hội.
2.Chống bán phá giá
a Khái niệm chống bán phá giá
Vấn đề chống bán phá giá tuy đã đợc Hiệp hội các quốc gia (League ofNations) nghiên cứu ngay từ năm 1922, nhng chỉ đến năm 1947, với sự thành lậpcủa tổ chức GATT (General Agreement of Tariffs and Trade - Hiệp ớc chung vềthuế quan và thơng mại), mới đợc đặt dới sự chi phối của luật quốc tế, qua Điều VIcủa Hiệp ớc này Lúc ấy đề tài này cha đợc tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi cácluồng thơng mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh đơng nhiên ráo riết hơn,
và các nớc thành viên của GATT cũng đông hơn, mới thành một mối quan tâmchính, ngày càng lớn qua các vòng thơng thảo tiếp nối nhau Khi vòng KennedyRound chấm dứt năm 1967 thì những qui tắc về chống bán phá giá trong Điều VIcủa GATT đợc triển khai thành cả một hiệp ớc riêng: Agreement on theImplementation of Article VI , thờng gọi tắt là Anti-dumping Code, hay Bộ luật
AD Ngoài việc chống phá giá, Điều VI còn qui định các biện pháp chống tài trợ(countervailing) đối với các hàng nhập khẩu đợc tài trợ tại nơi sản xuất Vấn đề nàycũng đợc triển khai thành một hiệp ớc riêng : Agreement on the interpretation andapplication of Articles VI, XVI and XXIII, thờng gọi tắt là Subsidies Code, hay Bộluật về tài trợ
Nói chung hiện nay trong thơng mại quốc tế mà trớc hết là trong hệ thốngpháp luật chống bán phá giá của các nớc trên thế giới cha có một định nghĩa cụ thểthế nào là chống bán phá giá Các quy định của GATT trớc kia và WTO hiện naycũng chỉ nêu ra các biện pháp mà các quốc gia thành viên có thể sử dụng để chốnglại việc xuất khẩu phá giá vào thị trờng nội địa đối với những hành vi thơng mại tiêucực, không công bằng, gây thiệt hại đến lợi ích của nớc nhập khẩu Tuy nhiên, nhậnthức đợc nguy cơ của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm mục đíchbảo hộ, cho nên dù không ngăn cấm việc bán phá giá nhng GATT trớc đây và WTOhiện nay cho phép nớc nhập khẩu đợc quyền áp dụng một số biện pháp để chống lạihành động bán phá giá Nh vậy có thể định nghĩa khái niệm chống bán phá giá kháiquát: Chống bán phá giá là tổng thể các biện pháp mà nớc nhập khẩu đợc quyềntiến hành nhằm chống lại mọi tổ chức, cá nhân có hành động bán phá giá hàng hóanhập khẩu vào nớc của họ với mục đích duy trì một nền thơng mại công bằng, bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng cạnhtranh trong nớc và ngời tiêu dùng
b.Các biện pháp chống bán phá giá
Trang 15Hiện nay, hiệp định chống bán phá giá của WTO, cũng nh của pháp luật vềchống bán phá giá của Mỹ, EU, Nhật Bản và các nớc ASEAN đã và đang chủ yếu
sử dụng các biện pháp chống bán phá giá sau:
- áp dụng biện pháp tạm thời: Biện pháp tạm thời là biện pháp do cơ quan có
thẩm quyền áp dụng đối với hàng hóa bị điều tra nhập khẩu vào nớc nhập khẩu trớckhi có quyết định cuối cùng về biện pháp chống bán phá giá với mục đích chủ yếu
là để ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra trong quá trình điều tra
- Cam kết về giá: Theo qui định của ADA, trong quá trình tố tụng cơ quan có
thẩm quyền và các nhà sản xuất, xuất khẩu sản phẩm đang bị điều tra chống bánphá giá có thể thoả thuận với nhau về cam kết về giá (price undertakings) Cam kết
về giá chỉ có thể đa ra khi cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận sơ bộ khẳng định
có việc bán phá giá và việc bán phá giá này gây thiệt hại Khi có kết luận này, cơquan điều tra có thể gợi ý cho các bên liên quan đa ra cam kết về giá nhng không cóquyền bắt buộc họ
Cam kết về giá là việc nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết sửa đổi mức giá bán(tăng giá lên) hoặc cam kết ngừng xuất khẩu phá giá hàng hóa Cam kết là một thoảthuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất, xuất khẩu và nớc nhập khẩu Thờng thì cơquan có thẩm quyền của nớc nhập khẩu sẽ chấp nhận cam kết về giá do các nhàxuất khẩu đa ra nếu thấy rằng cam kết đó đủ để loại bỏ các thiệt hại do việc bán phágiá gây ra
- Thuế chống bán phá giá: Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung
bên cạnh thuế nhập khẩu thông thờng, do cơ quan có thẩm quyền của nớc nhậpkhẩu ban hành nhằm mục đích chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại
do hành vi nhập khẩu bán phá giá và loại bỏ những thiệt haị do hành vi nhập khẩubán phá giá gây ra
Theo pháp luật của các nớc, trong quá trình điều tra chống bán phá giá bêncạnh biện pháp tạm thời, hoặc sau khi cam kết về giá không đạt đợc mục đích, thì
có thể áp dụng thuế chống bán phá giá Thông thờng, thuế chống bán phá giá chỉ
đ-ợc áp dụng khi có các điều kiện: có bán phá giá; có tổn hại do bán phá giá gây ra;
có mối quan hệ nhân quả giữa hành động bán phá giá và tổn hại thực tế
c Tác động của chống bán phá giá đối với tự do thơng mại
* Đối với thơng mại quốc tế:
Trên phơng diện toàn cầu, khi các hàng rào thuế quan đợc cắt giảm thì cáchàng rào phi thuế quan sẽ tăng lên Trong một thể chế thơng mại đa biên tự do hơn,các nớc ngày càng phải dùng nhiều hơn các biện pháp khắc phục cạnh tranh khônglành mạnh mà họ đợc phép sử dụng nhằm duy trì một nền thơng mại công bằng.Trong khi việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá trong những năm vừa qua
Trang 16đã có những ảnh hởng rõ ràng tới khối lợng giao dịch thơng mại, dới hình thức lànhững biện pháp tự vệ đợc phép sau khi chứng minh đợc việc bán phá giá và tổn hại
đi kèm Tuy nhiên là hầu hết nền thơng mại quốc tế nói chung vẫn không bị ảnh ởng nhiều Ví dụ nh, chính bản thân hệ thống các biện pháp chống bán phá giá cũnglàm hạn chế khả năng áp dụng chúng vì: trớc hết các thủ tục chống bán phá giá
h-đang đợc tiến hành chủ yếu là những cuộc điều tra chiến lợc giá của các nhà sảnxuất riêng lẻ trên hai thị trờng hoặc nhiều hơn; đồng thời các cơ quan thi hành luậtpháp phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp lý của cả trong nớc và quốc tế
Tuy nhiên xét trong từng trờng hợp cụ thể, việc chống bán phá giá có thể dẫntới nhiều hậu quả suy giảm cạnh tranh khác nhau trong đó có việc đánh thuế quanlên các hàng nhập khẩu, các cam kết tăng giá, thay thế những hạn chế hiện hànhhoặc là chúng đóng vai trò nh là một rào cản mới đối với thơng mại Tác động tiêucực này còn lớn hơn rất nhiều so với khối lợng thơng mại thực sự có liên quan.Thậm chí sự khởi xớng một cuộc điều tra về chống bán phá giá có thể gây ra mộttác động ngay lập tức đối với các luồng thơng mại vì nó sẽ thúc đẩy các nhà nhậpkhẩu tìm kiếm các nguồn cung cấp thay thế
* Đối với các quốc gia đang phát triển:
Hiện nay, nhiều nớc đang phát triển đã ban hành các văn bản pháp luật vềchống bán phá Các nớc đang phát triển coi các khoản thuế chống bán phá giá nh làmột công cụ để bù đắp cho việc tự do hóa về thuế quan và loại bỏ dần những hạnchế định lợng cũng nh các biện pháp phi thuế quan khác Đây có thể nói là một ảnhhởng tích cực của việc chống bán phá giá tới các nớc đang phát triển Tuy nhiên cómột sự thật là cùng với việc các nớc đang phát triển áp dụng các biện pháp chốngbán phá giá thì hầu hết các biện pháp này lại đợc nhiều nớc phát triển nhằm chốnglại chính các nớc đang phát triển Phần lớn các sản phẩm bán với giá rẻ là từ các n-
ớc đang phát triển Các doanh nghiệp nhỏ, nhất là những doanh nghiệp mới ra nhậpthị trờng từ các nớc đang phát triển đặc biệt dễ bị các biện pháp chống bán phá giágây tổn hại Vì là những doanh nghiệp mới tham gia thị trờng nên họ thờng bắtbuộc phải giữ giá ở mức thấp để có thể thâm nhập thị trờng và nh thế khiến họ dễlâm vào tình thế bị gán mác là phá giá cho dù trên thực tế có những lý do kinh tếxác đáng khiến cho giá xuất khẩu có thể thấp hơn giá trị thông thờng Và vì nhữngdoanh nghiệp ở các nớc đang phát triển nên càng ít có khả năng để đối phó lại vớicác trờng hợp bị kiện là phá giá Thêm vào đó các doanh nghiệp thờng phải chịunhững ảnh hởng mạnh do quá trình điều tra, điều này có thể dẫn tới sự phá sản củanhững doanh nghiệp
Nh vậy, các biện pháp chống bán phá giá thờng gây ra những tác động tiêucực tới các nớc đang phát triển nhiều hơn là các nớc phát triển
Trang 17* Đối với nhà sản xuất, ngời tiêu dùng:
Bán phá giá có thể gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tơng tự ở nớcnhập khẩu Nhng ngời tiêu dùng hay ngành công nghiệp sử dụng sản phẩm đợc bánphá giá thì lại đợc lợi từ hành đọng bán phá giá đó Mục đích của các biện phápchống bán phá giá là để ngăn chặn hiện tợng cạnh tranh không lành mạnh Nhngviệc áp dụng thuế chống bán phá giá với một hàng hóa nào đó có thể gây tác độnglên khả năng cạnh tranh tơng đối của bất kỳ một ngành sản xuất nào khác Xét trênkhía cạnh tiêu dùng thì việc ngời tiêu dùng ở nớc nhập khẩu mua đợc hàng hóa vớigiá thấp có lẽ có thể coi là lợi ích duy nhất mà hoạt động bán phá giá mang lại chonớc nhập khẩu Tuy nhiên, chính lợi ích này lại dẫn đến các thiệt hại đối với cácngành sản xuất sản phẩm tơng tự của nớc nhập khẩu
II PHáP LUậT Về CHốNG BáN PHá GIá Và QUY ĐịNH CủA WTO VàCủA MộT Số NƯớC TRÊN THế GIớI
1 Pháp luật về chống bán phá giá
Để việc chống bán phá giá đợc diễn ra đúng theo quy định của pháp luật nêncác quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinhtrong quá trình áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Tổng hợp các văn bản
pháp luật đó tạo thành hệ thống pháp luật chống bán phá giá Nh vậy, pháp luật chống bán phá giá là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nớc ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình áp dụng các biện pháp chống bán giá, từ việc xác định hàng hóa bị bán phá giá, điều kiện và nguyên tắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các biện pháp chống bán phá giá cho đến các thủ tục điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá và các quan
hệ xã hội khác có liên quan đến việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
* Vai trò của pháp luật chống bán phá giá:
Pháp luật chống bán phá giá là một bộ phận cấu thành của hệ thống phápluật thơng mại có ý nghĩa quan trọng trong việc chống lại hành vi cạnh tranh khônglành mạnh nhằm duy trì một nền thơng mại công bằng bình đẳng; góp phần bảo vệngành sản xuất hàng hóa cạnh tranh ở trong nớc; góp phần bảo vệ lợi ích chính
đáng của ngời tiêu dùng, góp phần chống lại sản phẩm nhập khẩu với giá rẻ; đồngthời còn là một vũ khí tự vệ, trấn an các nhà sản xuất trong nớc
Nhận định đợc vai trò và ý nghĩa của pháp luật chống bán phá giá quan trọng
nh vậy rất nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật chống bán phá giá dớinhiều cấp độ khác nhau nh luật, pháp lệnh, nghị định hoặc thông t liên tịch Tuynhiên do bị chi phối bởi các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng nhquan điểm và kỹ thuật lập pháp nên có quốc gia ban hành các quy phạm pháp luậtchống bán phá giá trong một văn bản pháp luật riêng nhng cũng có quốc gia ban
Trang 18hành các quy phạm về chống bán phá giá trong Luật cạnh tranh hoặc Luật thuếhoặc Luật hải quan Điều đó cho thấy rằng pháp luật chống bán phá giá là một bộphận rất quan trọng của hệ thống pháp luật thơng mại, có liên quan mật thiết đếnlĩnh vực pháp luật cạnh tranh, pháp luật thuế.
2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO và pháp luật chống bán phá giá của một số nớc trên thế giới
a.Hiệp định chống bán phá giá của WTO
Vấn đề chống bán phá giá lần đầu tiên Hiệp hội các quốc gia (League ofNations) nghiên cứu ngay từ năm 1922 Đến năm 1947, với sự ra đời của tổ chứcGATT (General Agreement of Tariffs and Trade - Hiệp ớc chung về thuế quan vàthơng mại), các biện pháp chống bán giá chính thức đợc đặt dới sự chi phối củapháp luật quốc tế Lúc ấy, đề tài này cha đợc chú ý nhiều mà chỉ về sau, khi thơngmại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh trở nên ráo riết hơn, và các nớc thànhviên của GATT cũng ngày càng đông đảo hơn, thì chống bán phá giá mới trở thànhmột mối quan tâm thật sự Năm 1967, một số quy định về chống bán phá giá tạiGATT đợc chuẩn hoá trong Hiệp định về thi hành điều VI của GATT (Agreement
on the Implementation of Article VI), thờng đợc gọi tắt là Hiệp định chống bán phágiá Hiệp định này không chỉ quy định về chống phá giá, mà còn qui định các biệnpháp chống tài trợ đối với hàng nhập khẩu đã đợc tài trợ tại nơi sản xuất Thời giansau đó, Hiệp định về chống bán giá đợc bổ sung thêm nhiều nội dung quan trọng
Là một trong những hiệp định thơng mại đa biên của WTO, Hiệp định chốngbán phá giá có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nớc thành viên của WTO Cácquy định trong Hiệp định là cơ sở pháp lý giúp các nớc bảo hộ quyền lợi chính đángcủa các ngành sản xuất trong nớc khi xảy ra hiện tợng bán phá giá Năm 1995,WTO đã thành lập Uỷ ban về chống bán phá giá để giám sát việc điều tra và ápdụng thuế chống bán phá giá đối với các nớc thành viên Sau khi phát hiện ra hànghoá bị bán phá giá có khả năng ảnh hởng đến sản xuất trong nớc, các ngành đó đềnghị những cơ quan hữu trách thực hiện việc điều tra và đa ra kết luận về việc cóthực hiện hay không thuế chống bán phá giá để bảo vệ sản xuất trong nớc
Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định các biện pháp chống bánphá giá chỉ đợc thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng đợc 4
điều kiện sau:
- Sản phẩm đang bán phá giá: Sản phẩm của nớc xuất khẩu đang đợc bán ởthị trờng của nớc nhập khẩu với mức giá thấp hơn giá bán thông thờng của sảnphẩm đó ở trên thị trờng nớc xuất khẩu
- Có sự thiệt hại về vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe doạ gây
ra đối với các doanh nghiệp nội địa đang sản xuất các sản phẩm tơng tự với sản
Trang 19phẩm bán phá giá, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập của một ngànhcông nghiệp trong nớc.
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại vật chất (hoặc
đe doạ gây ra thiệt hại vật chất) do chính hành động bán phá giá đó gây ra Cơ quan
điều tra không đợc áp đặt cho hàng nhập khẩu những gì do các yếu tố khác gây ra
- Tác động của bán phá giá phải có tính bao trùm, ảnh hởng tới cộng đồngrộng lớn
* Hiệp định về chống bán phá giá (ADA) qui định về các nhóm vấn đề sau:
- Các qui định về nội dung: bao gồm các điều khoản chi tiết về cách thức,tiêu chí xác định việc bán phá giá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bánphá giá và thiệt hại;
- Các qui định về thủ tục: bao gồm các điều khoản liên quan đến thủ tục điềutra, áp đặt thuế chống bán phá giá nh thời hạn điều tra, nội dung đơn kiện, thôngbáo, quyền tố tụng của các bên liên quan, trình tự áp dụng các biện pháp tạm thời,quyền khiếu kiện ;
- Các qui định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viênliên quan đến biện pháp chống phá giá, bao gồm các qui tắc áp dụng cho việc giảiquyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO liên quan đến biện pháp chốngbán phá giá của một quốc gia thành viên
- Các qui định về thẩm quyền của Uỷ ban về Thực tiễn Chống bán phá giá(Committee on Anti-dumping Practices): bao gồm các qui định về thành viên, chứcnăng và hoạt động của Uỷ ban trong quá trình điều hành các biện pháp chống bánphá giá thực hiện tại các quốc gia thành viên
Có thể nói một u điểm của ADA so với các quy định trớc đây của GATT là
đã đa ra đợc các quy tắc cụ thể hơn để tính toán mức phá giá, nêu rõ các thủ tục chitiết, cụ thể cần phải tiến hành để có thể thực hiện các cuộc điều tra Đồng thời nó cócác tiêu chuẩn cụ thể để các ủy ban giải quyết tranh chấp có thể áp dụng trong các
vụ tranh chấp về chống bán phá giá Tuy nhiên, bên cạnh u điểm thì những quy địnhcủa ADA cũng có một số điểm hạn chế nh sau: Trớc hết, một số quy định còn cha
rõ ràng, cha đầy đủ, là nguồn gốc cho những sự tranh chấp sau này, ví dụ nh vấn đề
so sánh giữa sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm tiêu thụ trong nớc, quy định về sảnphẩm tơng tự; Các nớc không phải là thành viên của WTO không có quyền trực tiếpkhai thác những cái đợc của những quy định còn thiếu rõ ràng và cha đầy đủ đó;Trình tự tiến hành điều tra quá phức tạp, gây nhiều tốn kém nguồn lực cả cho cơquan điều tra và đối tợng bị điều tra, bị áp dụng các biện pháp này chống bán phágiá, nói chung đe dọa quyền lợi của các nớc có trình độ phát triển tơng đối thấp; và
Trang 20ADA còn cha rõ ràng trong việc quy định về những vụ việc liên quan đến các đốitác có liên hệ, trớc hết là các công ty xuyên quốc gia.
Quá trình nghiên cứu các quy định trên của ADA cho thấy định nghĩa về bánphá giá của ADA không chú ý nhiều tới khía cạnh kinh tế mà chủ yếu nhấn mạnh
đến khía cạnh pháp lý của nó, có thể nói định nghĩa về bán phá giá của ADA là một
định nghĩa mang tính pháp lý của WTO Những quy định của WTO về chống bánphá giá đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý để các quốc gia có thể dựa vào đó đểchống lại một hiện tợng cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế đang phổ biếnhiện nay là bán phá giá, đồng thời ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp này nh là mộttrở ngại phi thuế mới trong thơng mại quốc tế
Mỗi quốc gia thành viên WTO có quyền ban hành và áp dụng pháp luật vềchống bán phá giá tại nớc mình nhng phải tuân thủ đầy đủ các qui định mang tínhbắt buộc về nội dung cũng nh thủ tục trong Hiệp định về chống bán phá giá (ADA)của WTO Pháp luật về chống bán phá giá của mỗi quốc gia có thể cụ thể hóa nh ngkhông đợc trái với các qui định liên quan tại Hiệp định ADA của WTO
b Pháp luật chống bán phá giá của một số n ớc trên thế giới
* Pháp luật chống bán phá giá của Mỹ:
Mỹ là quốc gia vô địch về số lần áp dụng các biện pháp chống bán phá giácũng nh số lợng các biện pháp chống bán phá giá đợc sử dụng Theo thống kê củaWTO, trong vòng 20 năm kể từ năm 1980 đến năm 2000, trên thế giới có khoảng
1253 biện pháp chống bán phá giá khác nhau đợc xây dựng và áp dụng, trong đóriêng Mỹ đã chiếm đến 304 biện pháp, tơng đơng 30%
Pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ qui định về các vấn đề trình tự,thủ tục, nội dung của quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giátại Hoa Kỳ và các cơ quan có thẩm quyền trong các hoạt động này Hiện nay, cácvấn đề về chống bán phá giá đ?ợc qui định trong các văn bản sau đây:
- Luật chống bán phá giá 1916
- Luật Thuế quan 1930
- Các Phần 1671-1677n, Mục 19 Bộ luật Hoa Kỳ (US Federal Code)
- Các Phần 351.101-702 Mục 19 Bộ luật Qui định Hoa Kỳ (US FederalRegulation)
- Các Phần 207.1-120 Mục 19 Bộ luật Qui định Hoa Kỳ
Năm 2000, Quốc hội Mỹ thông qua Bộ luật về các biện pháp tài trợ và bánphá giá tiếp diễn (Continued Dumping and Subsidy Offset Act of 2000), gọi tắt làCDSOA CDSOA còn đợc gọi là Tu chính án Byrd vì nó xuất phát từ một dự luậtcủa thợng nghị sĩ Robert Byrd Theo Tu chính án Byrd thì số tiền thuế chống bánphá giá thu đợc sẽ đợc chia lại cho các công ty Mỹ thắng kiện Đây là một khoản
Trang 21tiền đáng kể đối với các công ty Mỹ vì có trờng hợp mức thuế chống bán phá giálên đến 400% Năm 2002, công ty Candle Lite, bang Cincinnati, đã thu đợc khoảntiền lên đến 15,6 triệu USD sau khi thắng kiện một công ty Trung Quốc, và đếnnăm 2003, số tiền này là 39 triệu USD, cứ nh thế hàng năm Candle Lite đều nhận đ-
ợc một số tiền khổng lồ.Còn theo thống kê của các cơ quan lập pháp Mỹ cho thấy,
số tiền mà Tu chính án Byrd mang lại cho các doanh nghiệp Mỹ đi kiện chống bánphá giá trong năm ngoái là hơn 192 triệu USD Năm 2005, với vụ kiện tôm, nếu lấygiá trị nhập khẩu tôm là 2 tỷ USD và tính thuế suất trung bình cho 6 nớc ở mức 10%thì số tiền thuế mang lại cho Liên minh tôm miền Nam nớc Mỹ lên tới 200 triệuUSD
Pháp luật chống bán phá giá Mỹ quy định: “Cơ quan chức năng chỉ đợc tiếpnhận và xử lý các vụ kiện theo đúng trình tự, nếu đơn kiện là do ngành sản xuất nội
địa đứng tên hay đợc đệ trình nhân danh họ” Để có đợc điều kiện này, đơn phải
đ-ợc đa ra dới tên của các công ty sản xuất, hay có sự ủng hộ của họ, chiếm ít nhất25% tổng sản lợng mặt hàng tơng đơng tại Mỹ Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của cơquan chức năng là xác định tính đại diện của các công ty Mỹ đệ đơn kiện
Sau khi bên nguyên đáp ứng đủ điều kiện về tính đại diện, các cơ quan chứcnăng sẽ tiếp nhận hồ sơ khởi kiện và bớc vào giai đoạn tiếp theo, đó là xác minhxem có hành vi bán phá giá hay không và có sự thiệt hại vật chất hay không Phápluật Mỹ trao hai nhiệm vụ này cho hai cơ quan khác nhau là Bộ thơng mại(Department of Commerce - DOC) đảm nhận việc xác định có hành vi bán phá giáhay không và nếu có thì tới mức nào, và Uỷ ban thơng mại quốc tế (InternationalTrade Commission - ITC) đảm nhận việc xác định có hay không có thiệt hại hay đedoạ gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa do hàng nhập khẩu bị bán phá giá gây
ra DOC và ITC sẽ phối hợp làm việc với nhau trong những thời hạn qui định, vàsau đó công bố kết luận trong những bản phán quyết sơ bộ và cuối cùng
Quá trình điều tra chống bán phá giá tại Hoa Kỳ đợc tiến hành theo các bớc sau:
B
ớc 1: Đơn khởi kiện của ngành sản xuất nội địa của Hoa Kỳ gửi đến DOC và ITC
(hoặc trong một số ít trờng hợp DOC tự quyết định khởi xớng việc điều tra)
B
ớc 2: Thông báo bắt đầu điều tra của DOC ban hành (khi DOC thấy rằng đơn kiện
đã thoả mãn các điều kiện qui định)
B
ớc 3: Quá trình điều tra sơ bộ
- ITC tiến hành điều tra sơ bộ về thiệt hại:
+ Nếu kết luận sơ bộ khẳng định có thiệt hại (kết luận khẳng định): quá trình
điều tra tiếp tục;
Trang 22+ Nếu kết luận sơ bộ là không có thiệt hại hoặc lợng hàng hóa nhập khẩu liênquan là không đáng kể (kết luận phủ định): chấm dứt cuộc điều tra
(Kết luận sơ bộ của ITC phải đợc đa ra trớc khi DOC có kết luận sơ bộ)
- DOC tiến hành điều tra sơ bộ về bán phá giá:
+ Nếu kết luận sơ bộ khẳng định có việc bán phá giá (kết luận khẳng định):DOC sẽ ban hành quyết định áp dụng biện pháp tạm thời;
+ Nếu kết luận sơ bộ là không có việc bán phá giá (kết luận phủ định): quátrình điều tra vẫn tiếp tục nhng DOC không đợc áp dụng các biện pháp tạm thời;
B
ớc 4: Quá trình điều tra cuối cùng
- DOC điều tra lần cuối cùng về việc bán phá giá; (kết luận của DOC phải đợc đa ratrớc khi ITC đa ra kết luận cuối cùng)
- ITC điều tra lần cuối cùng về thiệt hại;
Nếu DOC hoặc ITC có kết luận không đồng ý với bên khởi kiện: chấm dứtcuộc điều tra
Nếu cả DOC và ITC có kết luận khẳng định: DOC ra quyết định chính thức
áp dụng biện pháp chống bán phá giá (ấn định mức thuế chống bán phá giá tạmthời)
B
ớc 5: Các thủ tục rà soát lại
- Rà soát hành chính: Do DOC tiến hành theo yêu cầu của một hoặc các bên liênquan;
Kết quả: ấn định mức thuế chính thức tính theo năm (cho chủ thể có yêu cầu
hoặc cho tất cả các nhà xuất khẩu liên quan, tuỳ từng trờng hợp)
- Rà soát do thay đổi về hoàn cảnh: Do DOC và ITC tiến hành;
Kết quả: DOC có thể ra quyết định giữ nguyên, rút lại một phần hoặc toàn bộ
quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức
- “Rà soát hoàng hôn”: 5 năm sau khi quyết định áp dụng biện pháp chống bán phágiá đợc ban hành, DOC và ITC sẽ phải tiến hành rà soát lại để xem xét huỷ bỏ biệnpháp chống bán phá giá;
Kết quả: + Nếu một trong hai cơ quan có kết luận phủ định: biện pháp chống
bán phá giá đợc huỷ bỏ;
+ Nếu cả hai cơ quan có kết luận khẳng định: biện pháp chống bánphá giá tiếp tục đợc duy trì
* Pháp luật chống bán phá giá của EU:
Các qui định về điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá do Liênminh châu Âu tiến hành đối với các sản phẩm nhập khẩu từ một hoặc các nớc thứ
ba (không phải thành viên của Liên minh châu Âu) vào Liên minh này (tức là vàomột, một số hoặc tất cả các quốc gia thành viên) đợc tập trung tại Qui định của Hội
Trang 23đồng (European Council) của Liên minh châu Âu số 384/96 ngày 22/12/1995 vềviệc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bị bán phá giá từ các nớc không phải là thànhviên Liên minh châu Âu.
Qui định này sau đó đợc sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản sau:
- Qui định của Hội đồng (EC) số 2331/96 ngày 2/12/1996
- Qui định của Hội đồng (EC) số 905/98 ngày 27/4/1998
- Qui định của Hội đồng (EC) số 2238/2000 ngày 9/10/2000
- Qui định của Hội đồng (EC) số 1972/2002 ngày 5/11/2002
* Điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá ở EU:
•Hàng nhập khẩu bị bán với giá thấp hơn giá trị thông thờng (phá giá);
•Ngành sản xuất sản phẩm tơng tự của EU bị thiệt hại về vật chất do hàngnhập khẩu bị bán phá giá gây ra;
•Việc đánh thuế chống bán phá giá là cần thiết cho lợi ích của EU
Không giống nh qui định trong Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, điềukiện thứ ba tính đến cả lợi ích của ngời tiêu dùng và của ngành sản xuất sử dụnghàng nhập khẩu làm nguyên liệu đầu vào Tóm lại quyết định đánh thuế chống bánphá giá của EU đợc dựa trên toàn bộ lợi ích của cả cộng đồng
Các cuộc điều tra chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu có sự tham giacủa các cơ quan chức năng:
- Uỷ ban Châu Âu (European Commission):
+ Chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều tra chống bán phá giá(bao gồm cả điều tra về việc bán phá giá và điều tra về thiệt hại);
+ Có thẩm quyền ban hành một số quyết định (quyết định chấp nhận
đơn kiện và bắt đầu điều tra, quyết định chấm dứt vụ việc );
+ Đa ra các đề xuất trình Hội đồng châu Âu đối với những quyết địnhkhông thuộc thẩm quyền ban hành của Uỷ ban (quyết định áp đặt thuế chống bánphá giá chính thức, tạm thời )
- Hội đồng Châu Âu (European Council):
+ Cơ quan này có thẩm quyền ban hành một số quyết định trong vụ
điều tra chống bán phá giá (đặc biệt là quyết định áp đặt thuế chống bán phá giáchính thức)
+ Đối với những quyết định thuộc thẩm quyền của Uỷ ban châu Âu,Hội đồng châu Âu có thể có quyết định khác với quyết định của Uỷ ban và quyết
định của Hội đồng là quyết định cuối cùng
- Uỷ ban T vấn (Advisory Committee):
Uỷ ban này gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên Liên minh vàmột đại diện của Uỷ ban Châu Âu đóng vai trò là chủ tịch Uỷ ban T vấn
Trang 24Uỷ ban T vấn có chức năng đa ra ý kiến tham vấn (khi đợc yêu cầu hoặckhi pháp luật qui định việc tham vấn bắt buộc) ý kiến này không có giá trị bắt buộcnhng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định liên quan phải tính đến ý kiến của Uỷban khi ban hành quyết định Trong trờng hợp Uỷ ban T vấn có ý kiến khác với ýkiến của Uỷ ban Châu Âu về cùng một vấn đề thì Hội đồng châu Âu là cơ quan cóthẩm quyền ra quyết định cuối cùng về vấn đề đó.
- Các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên:
+ Có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban châu Âu trong hoạt động điềutra của cơ quan này;
+ Thực thi các quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá (chính thứchoặc tạm thời)
* Pháp luật chống bán phá giá của Nhật Bản:
Pháp luật chống bán phá giá của Nhật Bản về cơ bản đợc xây dựng dựa trêncác quy định về chống bán phá giá của WTO (trong Hiệp định về chống bán phágiá của WTO) Hiện nay luật chống bán phá giá của Nhật Bản đợc quy định trong 4nguồn: Điều 8 của Luật thuế xuất nhập khẩu ( gồm 37 đoạn) ; Nghị định của nộicác: nhằm thực thi luật ( bao gồm 20 điều khoản); Các văn bản hớng dẫn: nhằm làm
rõ thủ tục chống bán phá giá; Các điều khoản của ADA
Cơ quan có thẩm quyền
- Bộ Tài chính quyết định khởi xớng điều tra (thông báo cho các thành viên
Tổ Thuế đặc biệt của Hội đồng Thuế quan và giải thích cho Tổ này về các lý doquyết định khởi xớng vụ kiện)
- Cơ quan điều tra: Do BTC thành lập trên cơ sở tham vấn Bộ quản lý chuyênngành; bao gồm các viên chức liên quan của BTC, Bộ quản lý chuyên ngành và BộCông nghiệ và Thơng mại quốc tế
- BTC trong quá trình điều tra thờng xuyên tham vấn Bộ quản lý chuyênngành về tất cả các vấn đề quan trọng
Các thời hạn điều tra
- Thời hạn điều tra: 1 năm (gia hạn thêm 6 tháng)
- Biện pháp tạm thời: Không sớm hơn 60 ngày, (không kéo dài quá 4 tháng (9tháng trong trờng hợp thuế tạm thời thấp hơn biên độ phá giá tạm thời hoặc khi nhàxuất khẩu có yêu cầu kéo dài thời gian áp dụng thuế tạm thời)
Qua việc tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá của một số nớc cho thấy phápluật chống bán phá giá ở hầu hết các nớc này đều tuân thủ theo những quy định củaWTO, chỉ khác nhau nhng vấn đề mà WTO cha quy định, không quy định rõ hoặccho phép các chính phủ đợc quyền quyết định Nh vậy có thể kết luận rằng những
Trang 25quy định về chống bán phá giá của WTO là nền tảng, là cơ sở để các quốc gia banhành, sửa đổi hay áp dụng các quy định về chống bán phá giá của các quốc gia đó.
CHƯƠNG II TìM HIểU PHáP LUậT CHốNG BáN PHá GIá
CủA VIệT NAM
I Sự HìNH THàNH PHáP LUậT CHốNG BáN PHá GIá TạI VIệT NAM
Sự phát triển của một đát nớc bao gồm rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đóthì yếu tố kinh tế là một phần rất quan trọng và không thể thiếu của sự phát triển lớnmạnh và đi lên Và hội nhập kinh tế quốc tế là điều tất yếu của mọi quốc gia và ViệtNam cũng không thể là ngoại lệ
Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế là việc gia tăng sự phụ thuộclẫn nhau giữa các nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hoá thơng mại vàliên kết kinh tế đang là trào lu nổi bật thì hội nhập kinh tế quốc tế không nhữngngày càng trở thành một xu thế khách quan mà còn đóng vai trò là một công cụ hữuhiệu để phát triển nhanh và bền vững nếu đợc nắm bắt và vận dụng một cách tíchcực Xu hớng chung hiện nay của các quốc gia và các tổ chức kinh tế - tài chính -thơng mại quốc tế là tăng cờng mở cửa, bang giao kinh tế thông qua đàm phán cắtgiảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cản trở thơng mại, các hình thứccạnh tranh không lành mạnh trong thơng mại, mở cửa các lĩnh vực thơng mại hànghóa, thơng mại dịch vụ, cải thiện môi trờng đầu t - kinh doanh để tạo thuận lợi chothơng mại, v.v…
Phù hợp với tiến trình đổi mới và đứng trớc những đòi hỏi cấp bách của tìnhhình quốc tế và kinh tế trong nớc, Đại hội Đảng lần thứ VII đã chủ trơng đa phơnghóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, đánh dấu bớc khởi đầu tiến trình hội nhập quốc
tế trong giai đoạn mới của nớc ta Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã
Trang 26quyết định “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Nghị quyếtTrung ơng 4 khóa VIII (29/12/1997) đã nêu nguyên tắc hội nhập quốc tế của ta là
“tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trờng quốc tế” và nhấn mạnhnhiệm vụ “chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp, và nhất làcác sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trờng khu vực vàquốc tế” Tháng 4/2001, Đại hội Đảng IX đã tiếp tục khẳng định đờng lối hội nhập
và phát triển kinh tế phù hợp xu thế toàn cầu hoá với mục tiêu: “Chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quảhợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hớng XHCN, bảo vệ lợi ích dântộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trờng” Nghịquyết 07 của Bộ Chính trị tháng 11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế cũng đa ramục tiêu: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trờng, tranh thủthêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoátheo định hớng xã hội chủ nghĩa…”
Với chủ trơng, đờng lối hội nhập của Đảng và Nhà nớc nói trên, sau khi khaithông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nh IMF, WB năm 1992, ngày25/7/1995, Việt nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN) và ký Nghị định th tham gia Hiệp định CEPT/AFTA, từ1/1/1996 đã bắt đầu thi hành nghĩa vụ thành viên AFTA Việt Nam cũng là mộttrong số 25 thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác á - Âu (ASEM) vào tháng3/1996, và tham gia Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng (APEC) từtháng 11/1998 Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đợc ký kết vào ngày13/7/2000, tiếp đó từ ngày 11/12/2001 có hiệu lực đã đánh dấu mốc quan trọngtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta
Cắt giảm thuế quan là một trong những nội dung quan trọng nhất của mở cửathị trờng hàng hóa Tuy nhiên, việc mở cửa thị trờng thông qua các cam kết giảmthuế sẽ không có ý nghĩa nếu nh các hàng rào phi thuế quan vẫn đợc áp dụng Mộtmặt hàng đợc cam kết giảm thuế từ 100% xuống thậm chí 0% vẫn không thể kinhdoanh đợc nếu áp đặt một lệnh cấm nhập khẩu Chính vì thế, loại bỏ hàng rào phithuế quan luôn là yêu cầu đồng hành với cắt giảm thuế quan trong mọi hình thức
đàm phán mở cửa thị trờng hàng hoá một cách thực chất và đây chính là thách thứclớn cho các nhà sản xuất hàng hoá trong nớc do phải cạnh tranh với hàng hoá nhậpkhẩu từ nớc ngoài, đặc biệt là khi xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh, trong đó có hành vi bán phá giá Vì vậy chúng ta cần có một cơ chế mới phùhợp với thông lệ quốc tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các nhà sảnxuất trong nớc cũng nh quyền và lợi ích của ngời tiêu dùng khi có hành vi bán phágiá xảy ra
Trang 27Để từng bớc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Namphù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và tăng cờng quản lý nhà nớc về kinh tếtạo điều kiện để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Để hạn chế nhữngtác động không thuận lợi đối với các ngành sản xuất trong nớc do việc hàng hóanhập khẩu bị bán phá giá vào Việt Nam cũng nh thể hiện đợc tính chủ động trongtiến trình hội nhập Quốc hội Việt Nam đã thông qua một số Pháp lệnh về chốngphá giá và một số Nghị định hớng dẫn thi hành văn bản luật quan trọng này nhằm
điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá nh:
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
số 04/1998/QH X ngày 20//5/1998 có quy định cho phép áp dụng thuế bổ sung đốivới hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam;
- Quyết định số 46/2001/QĐ – TTg của Thủ tớng Chính Phủ ngày 4/4/2001
về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hang hoá thời kỳ 2001-2005 cũng đã quy định xâydựng một số nguyên tắc áp dụng thuế chống bán phá giá;
- Pháp lệnh của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội số 40/2002/PL –UBTVQH 10ngày 10/5/2002 về giá;
- Pháp lệnh của Uỷ ban thờng vụ Quốc hội số 20/2004/PL –UBTVQH 11ngày 29/4/2004 về việc chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
Đây là những văn bản tơng đối toàn diện về chống bán phá giá ở Việt Nam,
áp dụng cả với hàng hoá trong nớc và nhập khẩu bị bán phá giá
II NộI DUNG CƠ BảN CủA PHáP LUậT CHốNG BáN PHá GIá ở VIệTNAM
Uỷ ban thờng vụ Quốc hội số 20/2004/PL-UBTVQH 11 ngày 29 tháng 4 năm
2004 đã thông qua pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam.Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 10 năm 2004
1 Phạm vi điều chỉnh và đối tợng áp dụng
Theo điều 1 thì pháp lệnh chỉ quy định về các biện pháp chống bán phá giáthủ tục, nội dung điều tra để áp dụng biện pháp đối phó với hàng hoá bị bán phá giánhập khẩu vào Việt Nam Còn quan hệ bán phá giá hàng hoá, hàng hoá bán phá giátrong nớc - tức nội địa thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp lệnh mà thuộcphạm vi điều chỉnh của pháp lệnh về giá Việc giới hạn phạm vi điều chỉnh đối vớihàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá, PLAD đã phù hợp với phạm vi
điều chỉnh của những quy định về chống bán phá giá của WTO cũng nh luật chốngbán phá giá của nhiều nớc trên thế giới khi sử dụng các biện pháp chống bán phágiá để trừng trị sự cạnh tranh không lành mạnh về giá gây tổn hại đến ngành sảnxuất trong nớc, cho lợi ích của ngời tiêu dùng và lợi ích của nhà nớc
Trang 28Theo phạm vi điều chỉnh nh vậy, đối tợng áp dụng của Pháp lệnh chống bánphá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân cóliên quan đến việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam:
- Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
- Tổ chức, cá nhân nớc ngoài sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu ápdụng biện pháp chống bán phá giá;
- Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chốngbán phá giá;
- Tổ chức, cá nhân trong nớc sản xuất hàng hoá tơng tự;
- Hiệp hội ngành hàng trong nớc đại diện cho đa số tổ chức, cá nhân sản xuất,nhập khẩu hàng hoá tơng tự;
- Hiệp hội ngành hàng nớc ngoài đại diện cho đa số tổ chức, cá nhân sảnxuất, xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
- Tổ chức công đoàn hoặc các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của ngờilao động trong ngành sản xuất trong nớc;
- Tổ chức bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng;
- Cơ quan nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam;
- Cơ quan có thẩm quyền của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá bịyêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;
- Tổ chức, cá nhân khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến quátrình điều tra
2 Xác định hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam.
a Tầm quan trọng và quy định chung.
Xác định hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam chính làmấu chốt của vấn đề Phải xác định đúng, chính xác đợc hàng hóa nào là bán phágiá nhập khẩu vào Việt Nam thì mới áp dụng đợc các biện pháp chống phá giá, đểtránh xảy ra những sai lầm, nhầm lẫn gây ảnh hởng xấu nghiêm trọng tới mối quan
hệ thơng mại quốc gia, mất uy tín đối với các nhà đầu t vào thị trờng Việt Nam hoặc
ảnh hởng tới lợi ích của ngời tiêu dùng Trên thực tế, các nớc áp dụng thuế chốngbán phá giá thờng bị nớc xuất khẩu hàng hoá là đối tợng chịu thuế chống bán phágiá khởi kiện đến WTO, cụ thể là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp Các vụ việc giảiquyết tranh chấp về việc chống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và gây nhiềutranh cãi Đôi khi, kết quả thờng dẫn đến các hành vi trả đũa trong thơng mại, gây
ra rất nhiều mâu thuẫn, ảnh hởng xấu đến tình hình thơng mại chung trên thế giới.Vì vậy, các quốc gia thờng rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế chốngbán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào nớc mình
Trang 29Do vậy nên việc xác định hàng hoá nào đã bị bán phá giá đòi hỏi các cơ quan
có thẩm quyền phải thật hết sức cẩn trọng, nghiêm túc và khách quan, xem xét tớicác sự kiện chứ không phụ thuộc vào sự phỏng đoán Chỉ khi nào đã xác định đợcchính xác về hàng hoá bán phá giá, giá trị của hàng hoá đó, xác định đợc giá bán,
ảnh hởng của nó tới thị trờng Việt Nam và giá bán trên thị trờng của nớc hoặc vùnglãnh thổ xuất khẩu hoặc nớc thứ ba, biên độ bán phá giá cũng nh hàng hoá tơng tựthì mới nên áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Hơn nữa trong nhiều trờnghợp phải xem xét và cân nhắc kỹ lỡng về sự tơng quan và lợi ích tổng thể trongquan hệ thơng mại với các nớc trớc khi xác định hàng hoá đó có bị bán phá giá haykhông Khi mà các yếu tố thế và lực của chúng ta trên thị trờng quốc tế cha đủmạnh thì đây là một vấn đề cần phải chú ý Để hợp lý và có cơ sỏ chính đáng, Pháplệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam đã quy định tại
điều 3 nh sau:
1 Hàng hóa có xuất xứ từ nớc hoặc vùng lãnh thổ bị coi bán phá giá khi
nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam) nếu hàng hoá đó đợc bán với giá thấp hơn giá thông thờng theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2 Giá thông thờng của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so
sánh đợc của hàng hoá tơng tự đang đợc bán trên thị trờng nội địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thơng mại thông thờng.
3 Trong trờng hợp không có hàng hoá tơng tự đợc bán trên thị trờng nội địa
của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tơng tự đợc bán trên thị ờng nội địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhng với khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thờng của hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam đợc xác định theo một trong hai cách sau đây:
tr-a) Giá có thể so sánh đợc của hàng hoá tơng tự của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang đợc bán trên thị trờng một nớc thứ ba trong các điều kiện thơng mại thông thờng;
b) Giá thành hợp lý của hàng hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lu thông trên thị trờng của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nớc thứ ba.
b Cách xác định hàng hoá bị bán phá giá nhập khẩu vào thị tr ờng Việt Nam
Theo quy định nh trên, việc xác định đâu là hàng hoá bị bán phá giá vào thịtrờng Việt Nam quan trọng ta phải xác định đợc giá thông thờng của hàng hoá trớckhi nhập khẩu vào Việt Nam để đem ra so sánh với giá xuất khẩu hàng hoá đó vàoViệt Nam, trên cơ sở đó ta mới tính đợc biên độ bán phá giá của thị trờng nội địacủa nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá đó
Trang 30* Xác định giá xuất khẩu
Vì giá xuất khẩu là giá chúng ta nghi ngờ là bán phá giá, thấp hơn so với giáthông thờng tại thị trờng nội địa nơi xuất khẩu hàng hoá đó Nên ta sẽ xác định giáxuất khẩu của hàng hoá vào Việt Nam và hai mức giá này phải đợc đem so sánh vớinhau để tính biên độ phá giá và đi đến kết luận là có phá giá hay không Nhng trongPháp lệnh chống bán phá giá hang hoá xuất khẩu vào thị trờng Việt Nam thì lạikhông định nghĩa thế nào là giá xuất khẩu Vấn đề này thì trong Hiệp định chốngbán phá giá của WTO đã có quy định rất chi tiết và tuỳ thuộc từng điều kiện, hoàncảnh cụ thể Theo đó thì giá xuất khẩu là giá bán sản phẩm từ nớc xuất khẩu sang n-
ớc nhập khẩu Cách tính của Hiệp định chống bán phá giá của WTO:
Giá xuất khẩu = giá mà nhà sản xuất nớc ngoài bán sản phẩm tơng tự cho nhànhập khẩu đầu tiên
Trờng hợp giá bán sản phẩm tơng tự không tin cậy đợc do:
- Giao dịch xuất khẩu đợc thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc
- Theo một thoả thuận đền bù nào đó thì:
Giá xuất khẩu = giá mà sản phẩm nhập khẩu đợc bán lần đầu tiên cho ngờimua độc lập ở nớc nhập khẩu
* Xác định giá thông thờng
Tiếp theo, phải xác định đợc giá thông thờng của hàng hoá tại thị trờng nội
địa trớc khi nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam và trong điều 3 của Pháp lệnh chốngbán phá giá hang hoá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam đã có các cách xác định cụthể và đợc xác định theo 3 cách sau:
* Cách xác định thứ nhất: Giá thông thờng của hàng hoá nhập khẩu vào thị
trờng Việt Nam là giá có thể so sánh đợc của hàng hoá tơng tự đang đợc bán trênthị trờng nội địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thơng mạithông thờng
Còn trong trờng hợp khi không có hàng hoá tơng tự đợc bán trên thị trờng nội
địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hoá tơng tự đợc bán trên thịtrờng nội địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhng với khối lợng, số lợnghoặc trị giá hàng hoá không đáng kể thì giá thông thờng của hàng hoá nhập khẩuvào thị trờng Việt Nam lại đợc xác định theo:
* Cách xác định thứ hai theo trờng hợp nh trên: Giá có thể so sánh đợc của
hàng hoá tơng tự của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang đợc bán trên thị trờngmột nớc thứ ba trong các điều kiện thơng mại thông thờng;
* Cách xác định thứ ba theo trờng hợp nh trên: Giá thành hợp lý của hàng
hoá cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng
Trang 31công đoạn từ sản xuất đến lu thông trên thị trờng của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuấtkhẩu hoặc nớc thứ ba.
Theo nh 3 cách xác định giá thông thờng của hàng hoá nhập khẩu vào thị ờng Việt Nam thì cách xác định thứ nhất là cách xác định chuẩn nhất và sẽ đợc utiên xem xét áp dụng đầu tiên Nh vậy, mỗi khi một mặt hàng nớc ngoài đợc nhậpkhẩu vào thị trờng Việt Nam với mức giá thấp hơn mức giá thông thờng, thì đều cóthể bị xem là hành vi bán phá giá vào thị trờng Việt Nam
tr-Tuy nhiên để xác định đợc giá thông thờng theo nh cách xác định thứ nhất thìcơ quan có thẩm quyền phải tìm và xác định đợc đâu là hàng hoá tơng tự hàng hoá
đợc nhập khẩu vào Việt Nam bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá đang
đợc bán trên thị trờng nội địa của nớc hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá đóvới điều kiện thơng mại thông thờng Trớc tiên là xác định hàng hoá tơng tự, điềunày đã đợc giải thích tại khoản 6 điều 2: Hàng hóa tơng tự là hàng hoá có tất cả các
đặc tính giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặctrong trờng hợp không có hàng hoá nào nh vậy thì là hàng hoá có nhiều đặc tính cơbản giống với hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá Cách giảinghĩa trên là đồng nhất quan điểm với Hiệp định chung về thuế quan và thơng mại
Trong cách tính này còn nhắc đến điều kiện thơng mại thông thờng mà hiệnnay thì cha có một quy định cụ thể thế nào là “điều kiện thơng mại thông thờng”của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam cònHiệp định chống bán phá giá của WTO chỉ nêu lên tình huống khi mà giá bán tạithị trờng nội địa nớc xuất khẩu thấp hơn giá thành sản xuất thì có thể coi nh khôngnằm trong điều kiện thơng mại thông thờng Tức là giá bán không đủ để bù đắp chochi phí sản xuất ra đơn vị hàng hoá đó Hoặc theo nh luật chống bán phá giá củaHoa Kỳ thì giá bán mà có tỷ lệ lãi cao một cách bất thờng, bán hàng mẫu thì cũng
bị coi nh là ngợc lại với điều kiện thơng mại thông thờng Nói tóm lại thì pháp luậtcác nớc thờng không quy định cụ thể về vấn đề này mà thờng trao quyền cho cơquan điều tra có thẩm quyền xác định Trờng hợp không áp dụng đợc cách tính thứnhất do không xác định đợc hàng hoá tơng tự tại thị trờng của nớc hoặc vùng lãnhthổ xuất khẩu với khối lợng, số lợng đáng kể thì phải xác đinh theo cách thứ haihoặc thứ ba Và khối lợng, số lợng hàng hoá không đáng kể thì đợc Pháp lệnhchống phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam quy định trong điều 2 khoản 4 nhsau:
Khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam không đáng kể là khi khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 32a) Khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá từ một nớc không vợt quá 3% tổng khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hóa tơng tự nhập khẩu vào Việt Nam;
b) Tổng khối lợng, số lợng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá từ nhiều nớc
đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a khoản này không vợt quá 7% tổng khối lợng,
số lợng hoặc trị giá hàng hóa tơng tự nhập khẩu vào Việt Nam
* Xác định biên độ bán phá giá
Sau khi xác định đợc giá xuất khẩu vào thị trờng Việt Nam và giá thông ờng của hàng hoá đó tại thị trờng nội địa, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác
th-định biên độ bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Biên độ bán phá giá đã
đợc Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam xác định tại
điều 2 khoản 2: Biên độ bán phá giá là khoảng chênh lệch có thể tính đợc giữa giáthông thờng của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa
đó vào Việt Nam Nh vậy thì biên độ bán phá giá sẽ đợc xác định là khoảng chênhlệch giữa giá thông thờng và giá xuất khẩu hàng hoá đó vào Việt Nam theo tỷ lệtính bằng phần trăm và nguyên tắc tính biên độ bán phá giá hang hoá nhập khẩuvào Việt Nam:
Biên độ bán phá giá = (Giá thông thờng – Giá xuất khẩu) / Giá xuất khẩu
Nếu biên độ bán phá giá là không đáng kể (theo khoản 3 điều 2: Biên độ bánphá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá không vợt quá 2% giá xuất khẩu hànghóa vào Việt Nam) thì sẽ không có hành vi bán phá giá và cơ quan điều tra sẽ chấmdứt - tức là không áp dụng biện pháp chống bán phá giá Biên độ bán phá giá nóicách khác đây là điều kiện cần và đủ để kết luận có áp dụng chống bán phá giá haykhông áp dụng chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Cũng
có thể nói biên độ bán phá giá thớc đo, bàn cân hỗ trợ cho cơ quan điều tra tìm ra
đâu là hàng hoá bán phá giá nhập khẩu vào thị trờng Việt Nam
Nói chung, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
đã phù hợp với thông lệ quốc tế, chỉ có điều là Hiệp định chống bán phá giá củaWTO thì căn cứ vào giá trị thông thờng của sản phẩm để so sánh với giá xuất khẩucòn Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam thì lai căn cứvào giá thông thờng của hàng hoá nhập khẩu để so sánh với giá xuất khẩu hàng hoá
đó vào Việt Nam
3 Các biện pháp chống bán phá giá
Trong thơng mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì chúng cóthể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá (anti-dumping) nh thuế chống phágiá, đặt cọc hoặc thế chấp, cam kết hạn chế định lợng hoặc điều chỉnh mức giá củanhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nớc
Trang 33nhập khẩu, trong đó thuế chống bán phá giá là biện pháp phổ biến nhất hiện nay.
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vàonhững hàng hóa bị bán phá giá ở nớc nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại doviệc bán phá giá đa đến cho ngành sản xuất của nớc đó nhằm bảo đảm sự công bằngtrong thơng mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nớc)
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩuvào Việt Nam đã đa ra biện pháp chống bán phá tại điều 4:
1 áp dụng thuế chống bán phá giá.
2 Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với cơ quan nhà nớc có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nớc nếu đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam đồng ý.
a Biện pháp đánh thuế hàng hoá bán phá giá
Thuế chống bán phá giá là loại thuế đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu, khimột doanh nghiệp sản xuất bị nhận định là đã bán phá giá Về bản chất, thuế chốngbán phá giá là khoản thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào hàng nhập khẩu vào ViệtNam, nhằm triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá đối với sản phẩm đó.Mục tiêu chính của thuế chống bán phá giá là nhằm vô hiệu hóa việc bán phá giá,
bù đắp những tổn thất do bán phá giá và cạnh tranh không lành mạnh gây ra chocác doanh nghiệp của nớc nhập khẩu hàng bán phá giá Theo điều 9 của Luật thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam vớigiá của hàng hoá đó quá thấp so với giá thông thờng do đợc bán phá giá hoặc do có
sự trợ cấp của nớc xuất khẩu, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hanghóa tơng tự của Việt Nam, ngoài việc phải chịu thuế xuất, nhập khẩu còn phải chịuthuế bổ sung Mức thuế bổ sung do Chính phủ trình Uỷ ban thờng vụ Quốc hội xemxét
Sau một quá trình điều tra (sáu mơi ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra),mặc dù phải có xác định cụ thể về biên độ bán phá giá thì mới áp dụng biện phápchống bán phá giá nhng nếu thấy có dấu hiệu gây thiệt hại cho thị trờng thì cơ quanquản lý phải đánh thuế chống bán phá giá tạm thời với mặt hàng đó theo điều 20của PLAD, đề phòng mặt hàng đó sẽ tiếp tục đợc xuất vào với giá thấp làm chongành sản xuất đó càng bị suy sụp thêm Đó là cách chúng ta ngăn chặn để khôngxảy ra hậu quả xấu hơn khi đang điều tra Và luật pháp của các nớc trên thế giớicũng cho phép áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá tạm thời nh trên Khi cókết luận cuối cùng mới áp mức thuế chống bán phá giá chính thức theo điều 22 của
Trang 34PLAD Trong trờng hợp không có hiện tợng bán phá giá thì số tiền đánh thuế đó sẽ
đợc trả lại cho cá nhân, tổ chức bị áp thuế đó
b Cam kết về biện pháp loại trừ bán phá giá
Vì việc áp dụng thuế chống bán phá giá có thể ít nhiều ảnh hởng xấu tới cácmối quan hệ thơng mại giữa các bên liên quan, giữa các tổ chức hay trực tiếp là cánhân xuất khẩu hàng hoá đó vào Việt Nam Để hạn chế và tránh tình trạng tiêu cực
nh trên xảy ra mặt khác để giúp đỡ các tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu thuộc
đối tợng điều tra có thể cam kết với Bộ Thơng mại, với các nhà sản xuất trong nớc
về một hoặc các nội dung nh điều chỉnh giá bán; tự nguyện hạn chế khối lợng, số ợng hoặc trị giá hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam nếu nh đợc sự chấp nhận của
l-Bộ Thơng mại của Việt Nam và hoàn toàn không có sự ép buộc về việc yêu cầuchỉnh sửa nội dung cam kết
Còn trong trờng hợp đã đa ra cam kết và đợc sự chấp nhận cam kết từ phía BộThơng mại nhng bên liên quan không thực hiện đúng theo cam kết, gây ra hoặc đedọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc, Bộ trởng Bộ Thơng mại
ra quyết định tiếp tục tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giáhoặc ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo quy định của PLAD
4 Điều kiện và nguyên tắc áp dụng biện pháp chống bán phá giá ở VN
a Điều kiện áp dụng
Để tránh sự lạm dụng việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá và đảm bảotính trung thực, khách quan PLAD quy định các biện pháp chống bán phá giá chỉ đ-
ợc áp dụng khi hội tụ đủ điều kiện đã quy định rõ ràng tại điều 6:
Biện pháp chống bán phá giá chỉ đợc áp dụng đối với hàng hóa bán phá giávào Việt Nam khi có hai điều kiện sau đây:
1 Hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải đợc xác định cụ thể;
2 Việc bán phá giá hàng hoá quy định tại khoản 1 Điều này là nguyên nhân gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc.
Với điều kiện thứ nhất biên độ bán phá giá cũng đã đợc quy định cụ thể tạikhoản 2 điều 2 của PLAD và đã đợc xác định ở phần 2.b.3
Còn đối với điều kiện thứ hai việc bán phá giá hàng hoá là nguyên nhân gây
ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc thì trong điều
2 tại khoản 7 và 8 đã có quy định nh sau:
(I) Thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nớc là tình trạng suy giảm
đáng kể hoặc kìm hãm tăng trởng về sản lợng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hoá, lợinhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của ngời lao động, đầu t và các chỉ tiêu